Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Đổi

(Trích đoạn truyện dài “Dặm trường” chương 40 và 41)

 

    Lục nhất định không nghe lời Hạnh, vẫn tiếp tục đi xe thồ. "Nghề" của anh tiến triển khả quan. Chân tay săn dòn, miệng mồm trơn tru. Những mặc cảm vu vơ tan biến. Bây giờ, anh có thể đứng đợi khách ở bất cứ chỗ nào, ngẩng cao đầu chào hỏi mọi người, không còn ngay ngáy lo sợ gặp người quen và bạn bè nữa. Con ngựa sắt của anh chạy khắp thành phố, mang lại cho anh một hãnh diện khác thường: được làm một nghề hạ tiện nhất trong thời buổi đảo điên nhất của xã hội. Anh còn có một nỗi vui ngấm ngầm khác: không còn lệ thuộc vào Hạnh nữa.
    Anh đề ra một thời khóa biểu khá chặt chẽ. Chuyến sớm: từ 4 giờ sáng đến 7 giờ sáng. Chuyến sáng: từ 9 giờ đến 12 giờ trưa. Chuyến chiều: từ 4 giờ chiều đến 7 giờ chiều. Chuyến khuya: từ 10 giờ đêm đến 12 giờ khuya. Hễ đến giờ nghỉ là anh về nghỉ. Giờ buổi trưa, có khách gọi, anh cũng từ chối, trừ trường hợp đặc biệt như như khi có khách đường xa, cần đi thăm lăng, thăm mộ. Tiền kiếm được, anh phân ra ba phần, mỗi phần bỏ vào một hộp riêng, chỉ sử dụng khi có việc liên quan đến phần đó: phần cho con, phần anh và phần tu bổ xe.
    Hầu hết khách xe thồ là phụ nữ. Ðiều lý thú (và lắm lúc phiền toái) là được nghe hàng bao câu chuyện khác nhau từ miệng mấy cô mấy bà lắm mồm, mau miệng. Chưa hỏi, các bà các cô đã kể. Kể huyên thiên, tuốt luột, say sưa. Có bà, đã đến nơi rồi, không chịu xuống xe, cứ ngồi trên bót-ba-ga mà kể cho xong câu chuyện. Có một bà, câu chuyện dài quá, ngắt giữa chừng vì đã đến nơi, bà hẹn lần sau kể tiếp. Y như phim bộ Hồng Kông. Tưởng chỉ nói cho qua chuyện, không ngờ, Lục gặp lại bà khách này thiệt. Nhưng bà ta không buồn kể tiếp chuyện cũ dang dở nữa mà kể một chuyện khác mới toanh, hấp dẫn hơn nhiều. Chưa xong, bà hẹn thêm một "lần sau nữa". Chuyện mình chưa xong đã đến chuyện người. Qua ngôn ngữ mấy bà, chuyện nào cũng đầy kịch tính. Có bà, khi kể, còn vung ta múa ngón, diễn tả nỗi vui mừng hay giận hờn bằng cách bóp vào vai anh hay thậm chí đấm ngay vào lưng anh. Thì sao cũng được, chìu khách mà. Phải nhận rằng, nhiều câu chuyện nghe hay đáo để. Họ biết biến những chi tiết không ra gì thành những điều lý thú, đôi khi lý thú còn hơn cả chính câu chuyện. Anh tiếc rằng mình không có tài viết lách để ghi lại những câu chuyện tầm phào trên đường đi thành tiểu thuyết.
    Trong lúc đó, anh cũng quen dần với sự vắng mặt thường xuyên của Hạnh. Từ ngày buôn tuyến đường Hà Nội – Sài Gòn, một tháng nàng chỉ ghé nhà một hoặc hai lần. Một lần như thế, nàng ở nhà một, hai ngày rồi lại đi. Dăm ba ngày hay một tuần, Ðồng đạp xe lên ga gặp mẹ để nhận tiền bạc và đồ ăn. Anh không cần thắc mắc nàng đi đâu, buôn bán những gì, lời lỗ thế nào. Ngược lại, dường như Hạnh cũng không buồn thắc mắc, cãi cọ với anh về chuyện anh đi xe thồ. Hai người hậm hực nhau, nhưng ai cũng bận lo lắng việc riêng của mình, nên làm lơ. Không khí gia đình tựa như một cuộc hưu chiến giả tạo, đầy bất trắc.
    Cuối tháng tám, Hạnh về nhà. Nàng định ở một ngày rồi đi Sài Gòn ngay. Nhưng một cơn bão đột ngột tràn tới khiến nàng phải ở nhà thêm mấy ngày nữa. Mấy đứa con phập phồng nhìn cha mẹ, chờ đợi một cuộc cãi cọ có thể xảy ra bất cứ lúc nào. Nhưng may mắn, không có gì xảy ra. Có lẽ nhờ nỗi lo lắng về cơn bão chiếm hết tâm trí mỗi người. Mà cũng có lẽ nhờ thói quen. Họ hiểu nhau. Họ tức nhau. Nhưng họ biết rằng không ai có thể thay đổi được ai nữa. Vậy thì cứ thế, mỗi người sống và suy nghĩ và làm theo cách của mình. Họ chỉ nói với nhau những gì cần phải nói. Như hai cái máy. Và mong chờ cơn bão qua đi.
    Hết bão, chưa dọn dẹp xong, Hạnh vội vã lên đường. Nàng nằm chầu chực ở ga, đợi nhảy tàu đi, chứ không về nhà. Lục tự hỏi, không biết động lực gì lôi cuốn nàng mạnh mẽ đến như vậy? Nhưng chính anh cũng thế. Anh quày quã ra đi. Sau những ngày nhốt kín trong nhà vì mưa bão, anh cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái khi thấy trời cao, nắng sáng và người đi qua đi lại. Anh đạp đi, ngẩng cao đầu huýt gió, tự hỏi không biết hôm nay anh sẽ có bao nhiêu khách và nghe được bao nhiêu câu chuyện đời?
    Vừa dừng chân, dựng xe đợi khách tại đầu con hẻm trên đường Nguyễn Huệ, thì Phi, một bạn đồng nghiệp nhỏ tuổi của anh, từ phía Bến Ngự đạp về. Cậu ta hỏi:
    -    Chú Lục, bão biếc bên nhà thế nào?
    -    Tóm lại là có thiệt hại, nhưng không đáng kể. Nhà cháu thế nào?
    -    Không đến nỗi. Chỉ tiếc là cây nhãn bên hông nhà bị trốc gốc.
    Phi dùng chân nhấn cái chống xe xuống đất, dựng bên vệ đường, rút túi lấy gói Hoa Mai ra mời Lục:
    -    Ðiếu đã chú!
    Lục không từ chối. Phi mồi lửa. Cậu ta rít một hơi, phù khói ra thành luồng, đến sát cạnh Lục, hỏi nhỏ:
    -    Chú đã nghe tin gì chưa?
    -    Chưa. Mấy ngày mưa bão ở nhà, mô có đi ra ngoài mà biết. Tin gì vậy? Giết người? Ngoại tình? Vượt biên? Hay phản động?
    Phi lấy ngón tay trỏ gõ gõ trên lưng điếu thuốc để cho tàn rơi xuống. Cậu ta nhìn quanh cảnh giác, nói:
    -    Nghe nói sắp đổi tiền.
    -    Lại đổi tiền? Cái gì mà phải đổi tiền?
    -    Ai mà biết chú, nhà nước họ thích thì họ làm. Mà chú đừng có nói cho ai biết nghe.
    -    Ừ. Chẳng dám nói bậy đâu.
    Ngẫm nghĩ một lát, anh nói:
    -    Ðổi tiền. Họ đổi tiền để làm gì nhỉ? Chắc người ta đồn vậy thôi, chứ không có đâu. Hồi trước, khi mới giải phóng, họ đổi tiền là có lý, vì không thể có hai thứ tiền cùng lưu hành trong một nước. Họ cần thống nhất tiền tệ. Còn bây giờ thì chỉ có một thứ tiền thôi, đổi làm gì.
    -    Cháu không rành, nhưng theo cháu nghe nói thì người ta đồn gì là có nấy, chú à. Ðồng tiền giờ mất giá quá!
    -    Cháu lo không?
    -    Hơi mô mà lo chú ơi. Nhà cháu nghèo rớt mồng tơi, có tiền của gì đâu mà sợ. Thôi, cháu đi. Kiếm ít mối kẻo trưa. Mạ cháu đang hóng tiền mua gạo ở nhà. Chợ Bến Ngự bữa nay ế rề. Ðứng cả buổi chẳng có ma mô hỏi. Chú vẫn đứng ở đây?
    Lục gật đầu. Anh nhìn theo người bạn nhỏ tuổi đạp xe xa dần về phía An Cựu, lòng chợt nhói lên một niềm thương cảm mênh mông. Phi còn nhỏ, cỡ mười tám mười chín. Cậu ta đang học lớp mười, phải bỏ học đi xe thồ để phụ giúp mẹ và nuôi em. Ba dính vào vụ biến loạn Mậu Ngọ (1978), bị kết án năm năm tù, được thả trước thời hạn mấy tháng vì bị thần kinh tọa liệt cả hai chân. Phi chỉ lớn hơn Ðồng có mấy tuổi, nhưng trông già như người từng trải. Nếu mà Ðồng phải đi xe thồ như Phi thì thảm quá, anh hoang mang tự nhủ. Cuộc đời vốn đầy bất trắc. Hôm nay thế này, ai mà biết ngày mai sẽ ra sao?
    -    Có đi chợ Ðông Ba không?
    Lục giật mình, nhảy lên xe, chuẩn bị đón khách. Không cần mời, người đàn bà vừa bước đến đã nhanh nhẩu ngồi lên bót-ba-ga, hỏi ngay:
    -    Mấy?
    -    Mười đồng.
    -    Ðược. Ði.
    Lục nhấn pê-đan, vọt tới. Người đàn bà nhẹ cân, nên anh lấy đà mau, đạp ào qua đường Nguyễn Trường Tộ. Chị ta hỏi:
    -    Nghe gì chưa, chú?
    -    Chưa, chị. Gì vậy?
    -    Sắp đổi tiền đấy!
    Anh lơi đôi chân đạp, nghiêng đầu ra sau:
    -    Ai nói mà chị biết hay vậy?
    -    Thì nghe người ta đồn thế.
    -    Chị có nghe khi nào thì đổi không?
    -    Ai mà biết. Mà thế nào cũng có. Trước nay hễ đồn là có hà.
    Nghe giọng người đàn bà dấm dẳng khó chịu, anh không muốn hỏi tiếp, im lặng đạp cho đến nơi.

    Một tuần sau, tin đồn đổi tiền đã trở thành công khai. Ở đâu cũng nghe người ta bàn tán, dù không ngang nhiên, nhưng không còn thập thò dấu đút như trước. Lục không mấy lưu tâm, vì anh vẫn không tin là có chuyện đổi tiền. Hơn nữa, anh lại chẳng có bao nhiêu tiền để phải lo âu. Anh suy luận rằng nếu nhà nước định đổi tiền thì họ không đời nào để "xì" ra tùm lum như thế. Cứ xem những vụ như vụ Mậu Thân, hay vụ tấn công Bảy Lăm là rõ. Những cuộc tấn công lớn lao, có tầm quan trọng như thế mà họ còn dấu được huống hồ gì đổi tiền là việc quá đơn giản, dễ dấu hơn bội phần. Khi chở khách, nghe ai nhắc đến chuyện đổi tiền là anh bác ngay với nhiều lý lẽ rất thuyết phục. Có lúc anh hăng hái bảo vệ lập trường của mình đến nỗi có người tưởng anh là cán bộ tuyên truyền của nhà nước.
    Ðến giữa tháng chín, tin đồn bắt đầu có ảnh hưởng. Thị trường xáo trộn. Vàng cao từng ngày, không có dấu hiệu gì sẽ hạ. Giá sinh hoạt theo đó cũng tăng đều. Tất cả các mặt hàng đều tăng quá mức bình thường.
    Ðến tuần lễ thứ ba của tháng chín, thị trường lên cơn sốt. Chợ tấp nập khác thường. Không khí nóng bỏng. Giá cả thay đổi từng giờ. Người ta thấy vợ con cán bộ bắt đầu ra chợ lùng hàng. Lúc đầu, lác đác ít người mua một cách dè dặt, trong lúc vẫn giấu giếm tung tích. Nhưng hôm sau, cán bộ cũng như dân thường công khai đổ xô ra chợ. Ðiều trái khoáy là trong lúc đó, các cơ quan nhà nước cực lực cải chính tin đồn đổi tiền và bắt đầu mở chiến dịch tố cáo những kẻ tung tin đồn nhảm. Nhiều vụ bắt bớ xảy ra. Một số trường hợp điển hình được đưa lên báo, đài để răn đe quần chúng. Ðồng thời các cơ quan truyền thông từ trung ương đến địa phương liên tục phát thanh, phát hình các thông báo và các bài bình luận tập trung vào việc bác bỏ tin đồn. Trong phạm vi thành phố, các loa phóng thanh lập đi lập lại thông báo của Uỷ ban nhân dân tỉnh kêu gọi nhân dân bình tĩnh, không được tiếp tay cho kẻ xấu. Sinh viên học sinh và công nhân được huy động ra chợ thành từng toán, đến từng sạp hàng, cửa hàng để giải thích chính sách của nhà nước.
    -    Ðồng bào hãy tin tưởng vào chính sách của Ðảng và Nhà Nước. Tuyệt đối không hề có chuyện đổi tiền. Ðừng tin vào bọn xấu. Hãy yên tâm làm ăn buôn bán bình thường. Hãy tố cáo những kẻ tung tin đồn nhảm.
    Mọi người yên lặng lắng nghe cho phải phép. Toán công tác vừa quay đi là đâu vào đấy. Người ta lại kháo nhau:
    -    Cán bộ, đảng viên, công an còn đi mua hàng thì giải thích kiểu đó, ai mà tin.
    Sáng ngày thứ tư, một tin mới được tung ra: chủ nhật sẽ đổi tiền. Tin nhanh chóng được truyền đi khắp hang cùng ngõ hẻm. Tất cả thành phố xao xác như đang chuẩn bị chạy loạn. Người người tất tả ngược xuôi, mặt mày hớt hải. Ngờ thì vẫn ngờ, nhưng tin thì cứ tin. Không tin vẫn cứ sốt ruột. Người ta vẫn mua mua bán bán, nhưng ai cũng có cảm giác bất định. Ðồng tiền trong túi bỗng nhẹ tênh tênh, vì không khéo sẽ trở thành một mớ giấy lộn bất cứ lúc nào. Không ai dám xác quyết điều gì là đúng: giữ tiền thật nhiều hay mua bất cứ thứ gì với bất cứ giá nào, miễn đẩy tất cả tiền đi. Một số chủ sạp, chủ tiệm, đóng hẳn cửa hoặc chỉ mua bán cầm chừng. Càng về cuối tuần, tình hình càng tồi tệ. Người ta bắt đầu đổ xô đi mua bất cứ thứ hàng gì, miễn là hàng, từ cây kim sợi chỉ, hòn bi đến cái ly, cái chén, áo quần, vải vóc. Nhiều thứ hàng hóa chất đống mốc meo dưới đáy sạp cũng được khách hàng nài nỉ mua. Người ta vui mừng vì đẩy đi được những thứ đáng lẽ vứt đi, nhưng cũng không mấy vui khi cầm đồng tiền trên tay.
    Chiều thứ bảy, thành phố lắng đi, hoang mang và buồn bã. Như có giới nghiêm. Lục đạp xe vòng khắp phố. Tất cả quán xá, tiệm ăn, sạp hàng, quán cà phê đều đóng cửa. Trên đường phố, lơ thơ một vài chiếc xích lô, xe thồ lơ ngơ, không biết để kiếm khách hay để làm gì. Tuy thế, tại bến xe lam, dọc theo con đường chạy ngay sau chợ cá, tại khu vực các hàng ăn và rải rác một vài chỗ trong chợ, vẫn còn những nhóm người tụ lại mua mua bán bán. Các mặt hàng khá đa dạng: con gà, cái muỗng, cuốn vở, cái quần đùi cũ, chiếc xe đạp hư, cái mũ vân vân và vân vân. Mặt hàng nào cũng trở thành vô giá. Một cái muỗng có thể được bán với giá vài ngàn đồng, tương đương với một cái máy hát. Một con gà có thể bán với giá vài chục ngàn. Nghĩa là giá tăng gấp vài chục, vài trăm hay vài ngàn lần so với giá bình thường. Ấy thế mà người ta giành nhau mua. Có những đứa trẻ khố rách áo ôm bán được một món hàng lượm đâu đó với cái giá mà cả đời nó mơ ước cũng không thể có: vài ba ngàn. Chúng cầm cả xấp tiền đi lơ ngơ với vẻ mặt rạng rỡ khác thường: lần đầu tiên, chúng sở hữu được một số tiền lớn dường ấy. Ðiều khôi hài là, chúng không tiêu xài được số tiền theo ý chúng muốn. Muốn ăn, không tiệm nào mở cửa, muốn mua một thứ gì khác để dành, không ai bán. Chúng sẽ làm gì với số tiền ấy ngày mai, Lục tự hỏi.
    Anh đạp quanh chợ, rồi tạt vào một đám đông tụ lại gần một tiệm sấy tóc sát bờ sông. Thấy anh vào, đám đông chuyển động. Nhiều người sà tới nắm chiếc xe đạp của anh, hỏi giá và trả giá. Tiếng mọi người nhao nhao:
    -    Nhiêu? Mười ngàn? Mười hai ngàn?
    -    Hai chục ngàn đi, được không?
    -    Hai mươi bốn ngàn, chịu không? Tiền sẵn đưa ngay.
    -    Tôi không bán. Tôi đã nói tôi không bán mà. Cái gì? Cái mũ phở này hả? Không. Mũ để tôi đi xe thồ sao bán được.
    Anh rút hộp quẹt ga, bật lên châm lửa. Vài người sà tới. Những câu hỏi đổ dồn lên anh. Nhiêu? Mười ngàn? Hai chục ngàn? Bán đi cho rồi. Hay là ba chục ngàn? Vừa nói, người này xỉa ngay tiền ra, trong lúc người khác cũng chen vào, xỉa tiền ra.
    Lục bực mình đạp đi. Anh chán nản chẳng muốn đón khách nữa. Anh ghé mấy tiệm rượu để mua một xị rượu. Không ai chịu bán. Sau cùng, anh ghé một tiệm quen, rượu ở đây dở, không hợp khẩu vị , nhưng anh vẫn nài nỉ mua. Nể anh, người ta bán, nhưng chỉ bán chịu, chứ không nhận tiền.
    -    Anh thông cảm. Tiền bạc hãy cứ đợi đến chiều mai.
    Người chủ quán nói, kèm theo một nụ cười, buồn thì không buồn, nhưng rõ là chẳng mấy vui.

    Cho đến tận khuya đêm hôm thứ bảy, loa phóng thanh khắp thành phố ra rả phát đi phát lại bản thông cáo mới nhất của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh và Thành Phố, trích dẫn thông báo của chính phủ trung ương, xác định một cách mạnh mẽ và dứt khoát: không có chuyện đổi tiền.
    Cả thành phố im lìm, thao thức.
    Có lẽ cả nước cũng giống như thế.
    Lục chợp mắt vào lúc ba giờ sáng. Nhưng anh không ngủ được bao lâu. Trời chưa sáng, tiếng loa phóng thanh đã đồng loạt vang lên trên toàn thành phố đánh thức anh dậy. Xướng ngôn viên đọc sắc lệnh đặc biệt của nhà nước và thông báo đặc biệt của Ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, loan báo việc đổi tiền sẽ tiến hành trên toàn quốc vào lúc 7 giờ sáng. Ðồng tiền mới sẽ thay thế đồng tiền cũ với quy định:
    -    Tất cả mọi hộ phải kê khai số tiền mặt hiện còn giữ.
    -    Một đồng tiền mới ăn một chục đồng tiền cũ.
    -    Mỗi hộ sẽ được đổi tiền mới tùy theo số nhân khẩu thường trú trong hộ, nhưng không vượt quá con số 20.000 đồng tiền cũ mỗi hộ.
    -    Số tiền còn lại sẽ được nhà nước giữ giùm, có thể rút ra để tiêu dùng, nhưng với một số điều kiện quy định sẽ được thông báo sau.
    "Ðúng là đồn gì có đó", Lục nhủ thầm khi choàng dậy. Anh phóc ngay khỏi giường, nhanh chóng rửa ráy mặt mày, đi ra đường. Trên đường, nhiều người trong xóm đã ra tụ tập, bàn tán sôi nổi. Anh đi bộ đến quán tạp hóa ở góc đường. Một đám đông lớn đã hình thành nơi đây. Người thì ngồi xổm bên vệ đường, kẻ thì ngồi trên yên xe đạp, những người khác thì đứng dọc từ trong cửa quán ra ngay giữa lòng đường. Những kẻ qua đường cũng dừng lại nghe ngóng. Cứ thế, đám đông phình to lên mãi. Tiếng nói, tiếng cười, tiếng cãi vã vang cả khu xóm vốn bình thường vẫn vắng lặng. Thỉnh thoảng tiếng ồn ào chợt đồng loạt ngưng lại vì mọi người chăm chú lắng nghe một thông báo mới phát ra từ chiếc loa phóng thanh công cọng đặt trên đỉnh cột điện ở góc đường. Giọng xướng ngôn viên nữ xen kẻ với xướng ngôn viên nam vang lên từng hồi, gọn, sắc và nghiêm trang như đọc lệnh hành quân.
    Lục gặp hầu hết những khuôn mặt quen trong xóm. Những kẻ buôn thúng bán bưng, những anh phu xích lô, xe thồ góp ý, nói cười vui vẻ. Những người đi buôn đường dài hay có sạp hàng ở chợ thì mặt mày đăm chiêu hiện rõ trên nét mặt. Trong số người đứng lố nhố quanh quất, Lục thấy có cả ông trung tá bộ đội và một cán bộ hưu trí, là hai người vẫn thường chủ trì các buổi sinh hoạt chính trị trong xóm anh. Hai người này ít góp chuyện, chỉ đứng lắng nghe, thỉnh thoảng gật gật đầu. Nhìn thái độ của họ, Lục đoán họ cũng ngỡ ngàng, chẳng biết gì nhiều hơn mọi người về biến cố mới mẻ này.
    Anh Bảy xích lô hỏi:
    -    Chú Lục nghĩ thế nào?
    -    Thì "thế nào" gì nữa mà nghĩ. Tiếng đồn đã trở thành thiệt rồi.
    Chị Quỳ đứng gần đó, nói xen vào:
    -    Chuyện lạ thiệt! Hồi hôm nghe thông báo nhà nước mạnh mẽ quá, tui vẫn yên chí là không có gì. Ai ngờ!
    Người đàn bà đứng gần chị Quỳ nói lớn:
    -    Tui đã nói với bà rồi. Ðồn là có. Thế mà bà cứ không tin.
    -    Tin thì tin mà vẫn ngờ. Nhưng mà đổi hay không đổi, mình cũng thế thôi. Sợ là sợ cho đám nhà giàu.
    Chị Quỳ nhìn quanh rồi hạ giọng:
    -    Cho con mệ Ðông buôn thuốc tây biết mặt. Ỷ có năm đồng ba trự cứ vênh vênh cái mặt.
    -    Chị cứ nói! Ðám con buôn họ nhanh tay lắm. Họ mua hàng hay vàng cả rồi. Họ dại gì giữ tiền.
    Một người đàn ông phát biểu:
    -    Nhà nước họ ghê thật. Ðổi tiền xong, họ giữ được một số tiền phải nói là khổng lồ từ người dân.
    Một người khác nói:
    -    Thông báo nói nhà nước chỉ tạm giữ thôi mà! Sau này ai muốn rút thì cứ rút.
    -    Trời, ở đó mà rút. Phải làm đơn nêu rõ lý do, vì sao rút, rút để làm gì, rồi phải được phường, khóm xác nhận. Ðừng có tưởng bở. Còn khuya mới rút được.
    -    Sao mà anh biết rành quá vậy? Ðã nghe thông cáo thông kiết gì đâu.
    -    Cần gì nghe nói. Nếu mà dễ rút thì bây giờ họ chỉ cho đổi có hai chục ngàn để làm gì.
    Chị Quỳ hỏi trổng:
    -    Mười đồng ăn một đồng, vậy nếu mình muốn mua cây kim độ vài hào hay mua một cái gì độ một, hai đồng tiền cũ thì làm sao hè? Không biết họ có còn dùng tiền hào không?
    Một người đàn bà trả lời:
    -    Rồi cũng sẽ biết thôi. Ðợi đến 7 giờ thì biết ngay.
    Một người đàn ông trung niên, nãy giờ yên lặng đứng nghe, lên tiếng than thở:
    -    Không biết sau đổi tiền rồi ra sao? Làm ăn có được không? Thiệt khổ! Suốt cả tuần này chẳng kiếm được đồng nào.
    -    Thì có ai làm ăn gì được. Mua thì giá quá cao, mà bán thì sợ để tiền thành đồ giấy lộn.
    Lục lắng nghe, nhưng không thấy có ý kiến nào thuyết phục. Riêng anh, anh chẳng có gì phải lo. Kể cả tiền Hạnh gửi về và tiền anh cộng lại chưa tới năm ngàn. Anh chợt nghĩ tới Hạnh. Không biết giờ này nàng đang ở đâu? Sài Gòn, Hà Nội hay trên tàu? Nàng có còn giữ nhiều tiền mặt không? Nàng đã mua hàng chưa? Nhưng anh tự trấn an: nàng có mấy khi giữ tiền mặt nhiều. Có tiền là nàng đã vội vã mua hàng ngay hay nếu không cũng mua vàng.
    Ðám đông tản dần. Người ta về lo chuẩn bị khai báo đổi tiền. Anh trở về nhà. Gần đến cửa ngõ, anh nghe tiếng gọi giật đàng sau:
    -    Lục!
    Anh quay lại. Tân đạp xe lại gần:
    -    Có nhiều tiền mặt không?
    -    Không. Dại gì mà giữ cho nhiều vào.
    -    Tốt quá! Vậy thì ông cho tôi gửi vào phần còn lại đi.
    -    Ðược thôi.
    Nói xong, anh mới thấy mình quá vội vàng, nên nói lại:
    -    Nhưng đợi tôi hỏi xem trên nhà trước đã. Không thì mang tiếng.
    Tân cười:
    -    Không sao. Còn chỗ thì để dành tôi mà hết thì thôi. Ðó chỉ là chuyện nhỏ. Tôi có chuyện lớn cần bàn với ông. Nhưng ta hãy về nhà đã.
    Vào nhà, Tân nói ngay:
    -    Tôi vừa bắt được một đường dây làm ăn về việc đổi tiền. Ông có chịu hợp tác không?
    -    Sao không? Nhưng bằng cách nào? Tôi kém mấy chuyện này lắm, sợ có khi ông kéo vào chỉ tổ thêm phiền ông.
    -    Rất đơn giản thôi, ai cũng có thể làm được. Ông chỉ cần liên lạc xem ai có tiền thừa cần đổi, bao nhiêu cũng được. Ông gom hết mang về. Chúng ta sẽ đổi cho họ.
    -    Ăn chia thế nào?
    -    "Người ta" dứt khoát sẽ lấy đứt 20 phần trăm, nghĩa là mười ngàn sẽ chỉ còn tám ngàn. Còn phần của mình thì do mình "chịu" giá với người đổi. Mình dẻo miệng thì kiếm được tỉ lệ cao. Chẳng hạn khách chịu 50 phần trăm thì mình sẽ có 30 phần trăm, đại khái là vậy.
    Lục gật đầu, ngẫm nghĩ. Anh hỏi lại:
    -    Cũng hay. Nhưng mà…giữa ông với tôi thì thế nào?
    Tân cười:
    -    Dễ ợt! Mình có thể cùng nhau đi kiếm khách, cùng đi đổi tiền, phần lời chia hai. Hoặc ông lo kiếm phần ông, tôi lo phần tôi. Ông kiếm mối xong về giao cho tôi. Ông thỏa thuận với khách bao nhiêu tôi không biết, tôi lấy 5 phần trăm. Ðại khái là thế. Nhưng nếu ông muốn có một phương thức nào hay hơn, hãy cứ suy nghĩ. Bây giờ thì các địa điểm chưa mở cửa. Tôi phải về lo cho phần gia đình mình. Ông cũng thế, lo cho xong phần gia đình đi. Sau 9 giờ mình gặp lại, nhé?

   
    Mọi chuyện diễn ra suông sẻ. Sau khi đổi tiền cho gia đình xong, Lục chạy quanh tìm gặp những người quen, toàn là mối lái làm ăn của Hạnh, để gom tiền. Rồi cùng Tân lui tới các trụ sở phường, các trung tâm đổi tiền cho khách vãng lai ở khách sạn Hương Giang, ở "xẹc", nhà khách Thành Phố để giao tiền cũ và nhận tiền mới. Có thể nói là trong đời, đây là lần đầu tiên anh "trúng quả" đậm: gần bảy ngàn tiền mới.
    Khi các địa điểm đổi tiền đóng cửa vì hết giờ, đường dây của anh và Tân vẫn còn hoạt động. Mãi đến 7 giờ tối, anh và Tân mới nhận đủ số lượng tiền mới do những người trung gian giao lại. Tính toán với Tân xong, anh lấy số tiền của khách bỏ vào túi xách nhỏ cột chặt trong lưng, rồi đạp xe đi giao tiền.
    Trời tối hẳn. Ðường Nguyễn Chí Thanh nhập nhòe trong ánh đèn đường tù mù. Qua khỏi cổng trường Gia Hội, anh đạp dò dẫm, tìm đường Cao Bá Quát. Một chiếc xe honda dame từ phía xa đàng sau chạy vọt lên, rồi đột ngột dừng lại ngay trước mặt anh. Trong lúc người lái đang dựng xe, thì người ngồi phía sau bật đèn pin dọi vào mặt anh, đồng thời đưa tay kia vẫy cho anh ngừng lại. Anh giật mình thắng gấp. Chiếc bánh xe trước quay ngang, suýt chút nữa hất anh té nhào xuống đất. Anh gượng đứng lại, nhảy khỏi yên xe, run giọng hỏi:
    -    Các anh là ai?
    Giọng một người đàn ông miền ngoài chắc và khô:
    -    Chúng tôi thuộc tổ đặc nhiệm tăng phái bảo vệ an ninh ngày đổi tiền. Yêu cầu anh cho kiểm tra giấy tờ.
    Nói xong, anh ta chìa cho Lục một tấm thẻ bọc nhựa, có đóng khuôn dấu đỏ choét. Anh đứng trân người, hồn vía chừng như bay mất. Người đàn ông lái xe dựng xe xong, bước vòng ra sau anh. Lục dựng xe đạp lại, rút chứng minh nhân dân đưa cho người đàn ông cầm đèn pin. Xem xong, anh ta hỏi:
    -    Anh ở trong Thành Nội?
    -    Vâng.
    -    Anh xuống vùng này có việc gì?
    -    Tôi đi thăm người bạn.
    -    Anh có mang theo gì trong người không?
    -    Dạ, không.
    Người đàn ông phía sau, ra lệnh:
    -    Anh đưa hai tay lên. Chúng tôi cần kiểm tra.
    Lục run rẩy làm theo lệnh. Người đàn ông vòng hai tay rờ rẫm quanh khoảng thắt lưng, hỏi:
    -    Anh mang theo cái gì trong người đây? Ðề nghị anh cho kiểm tra luôn.
    Lục chưa kịp phản ứng thì bằng một động tác nhà nghề nhanh gọn, anh ta kéo áo anh lên, giựt cái túi xách nhỏ ra khỏi thắt lưng. Anh ta bước tới trước, đưa ra dưới ánh sáng đèn, mở túi xách. Vừa thấy một cọc tiền mới nằm gọn gàng ở bên trong, anh ta tỏ vẻ ngạc nhiên, hỏi:
    -    Tiền mới! Tiền đâu mà anh có nhiều thế này?
    -    Dạ… dạ… tiền gia đình tôi mới đổi.
    Anh ta cầm cọc tiền, đếm rồi la lên:
    -    Gần ba chục ngàn tiền mới. Tiền của ai mà nhiều thế này?
    -    Dạ, của…của… gia đình… mấy người bà con.
    -    Ðược thôi. Anh có mang theo giấy tờ gì chứng minh số tiền này không?
    Lục lúng túng, không biết trả lời sao cho suông sẻ. Người đàn ông tiếp:
    -    Theo quy định, mỗi hộ chỉ được đổi tối đa hai ngàn đồng tiền mới. Ở đây đến những ba chục ngàn, là phải mười lăm hộ. Thế này là thế nào?
    -    Dạ…khôngàdạ, người ta nhờ tôi mang lại cho họ.
    -    Ðược, tôi tạm tin anh. Anh có còn giữ tiền ở đâu nữa không?
    -    Dạ, không.
    Anh ta bỏ hết tiền vào túi xách, đưa cho bạn giữ, rồi bảo Lục:
    -    Anh cho tôi kiểm tra tiếp.
    Anh ta vỗ vào túi sau, hai túi hai bên của Lục. Thấy có gì nổi lên lộm cộm, anh ta bảo Lục lấy hết đưa ra. Tiền! Anh ta kinh ngạc:
    -    Lại tiền mới nữa.
    Anh ta quay sang nói với đồng bạn:
    -    Trường hợp này phức tạp đấy. Hay là ta đưa anh Lục về gặp thủ trưởng đi nhỉ?
    Lục nghe một vật gì thúc vào sau lưng anh. Chắc là mũi súng, anh nghĩ, tóc gáy dựng ngược. Giọng người đàn ông bây giờ nghe lạnh tanh:
    -    Anh Lục, anh đã bị bắt. Tuyệt đối tuân lệnh tôi, không được kháng cự.
    Lục đứng im, lòng dạ hoang mang, không còn biết gì nữa. Một chiếc xe hơi từ đường Cao Bá Quát vụt chạy ra, dừng lại ngay chỗ anh. Người đàn ông đẩy Lục lên phía trước xe, rồi nhảy lên ngồi sát cạnh anh, kềm chặt. Người kia nâng xe đạp anh lên cao, dùng hai tay ném mạnh lên thùng xe phía sau. Một tiếng kêu loảng xoảng vang lên nghe khô khốc, buồn nản. Xe rồ máy chạy ngay, ngược trở về ngả Cầu Ðen, hướng về phố. Sau khi qua cầu Trường Tiền, xe đi thẳng, rẽ vào đường Bến Nghé, dừng ngay trước một ngôi nhà lớn. Một biệt thự thì đúng hơn. Nhà to, vườn rộng, cổng sắt, bồn hoa, lối đi rải đầy sỏi. Chênh chếch bên kia đường là cổng trường Nguyễn Tri Phương. Hồi còn đi học, anh phải đã từng đi ngang đi lại căn nhà này hàng bao nhiêu lần. Nhà ai nhỉ? Bao nhiêu năm rồi, làm sao nhớ nổi. Nhưng tại sao lại mang anh vào đây?
    Người đàn ông ra lệnh cho Lục xuống xe, dẫn anh đến căn phòng bên hông nhà, đẩy một cánh cửa mở sẵn, đứng tránh sang một bên để cho Lục bước vào. Anh ta chỉ chiếc ghế đặt ngay trước một chiếc bàn sắt kiểu Mỹ, nói:
    -    Anh ngồi đó. Ðồng chí thủ trưởng sẽ nói chuyện với anh sau.
    Lục khẽ khàng ngồi xuống ghế, lòng dạ tê tái. Phòng nhỏ, tường quét vôi màu hồng nhạt, không treo hình ảnh gì, ngoài một câu khẩu hiệu cỡ chữ vừa phải kẻ lên ngay phần tường trước mặt anh: "Cần kiệm liêm chính, chí công vô tư", bên dưới là ba chữ Hồ Chí Minh. Bàn trống trơn, mặt bàn sắt láng lấp lóa ánh sáng dội xuống từ ngọn đèn điện công suất khá mạnh treo lơ lửng trên trần. Người ta sẽ thẩm vấn anh, sẽ bắt anh khai đủ thứ chuyện trên đời. Ai sẽ "làm việc" với anh đây? Nghĩ đến những màn hỏi cung khủng khiếp, anh rùng mình, lạnh toát sống lưng. Anh đã là một tù nhân. Tù! Trời ơi, anh đã bị ở tù. Biết khai thế nào đây? Dấu thì không dấu được rồi, nhưng nói làm sao cho khỏi tội? Quả là anh không có cái số mánh mun, buôn bán. Cái xui vẫn cứ đeo đuổi theo anh. Tưởng là đã nắm chắc nụi trong tay, hóa ra bây giờ mất sạch. Không những thế còn phải nằm tù. Anh tưởng tượng đến những người quen anh đang sốt ruột chờ đợi ở nhà để lấy tiền. Những đứa con không biết bây giờ thế nào? Còn Tân ra sao? Có bị bắt như anh không? Anh nghĩ đến lúc Hạnh trở về, nàng sẽ khinh khỉnh nhìn anh, khuôn mặt đầy vẻ chế giễu, khinh bạc. Lại một lần nữa, Hạnh đã nói đúng: anh trước sau chỉ là một thằng đàn ông vô tích sự.
    Anh lơ láo nhìn quanh như kẻ mộng du. Một tiếng động khẽ vang lên ở góc phòng. Anh giật mình, quay lui. Một người đàn ông vừa đẩy cánh cửa bước vào vừa cười:
    -    Chào anh Lục. Cả ngày chạy ngược chạy xuôi vất vả quá nhỉ? Nào, đã cơm nước gì chưa?
    Anh nhìn người đàn ông trong bộ áo quần bộ đội xuề xòa, dụi mắt. Ai mà trông quen quen? Anh đang cố nhớ thì người đàn ông lên tiếng:
    -    Nhận ra người quen chưa?
    Lục nhìn kỹ, sửng sốt, miệng lắp bắp:
    -    Anh…à… ông Thắng!
    -    Vâng, Thắng đây, anh Lục à! Trí nhớ của anh cũng tốt đấy chứ. Thế nào, việc tôi nhờ anh tìm giùm bản Cương Lĩnh Mặt Trận Giải Phóng hôm nọ đến đâu rồi?

(CHƯƠNG 41)

   
    Hạnh đánh răng rửa mặt xong thì cũng đúng lúc thông báo đặc biệt về việc đổi tiền được truyền đi qua loa phóng thanh đặt trên các toa tàu. Nhân viên của một đội công tác gọi là "Ðội đặc nhiệm đổi tiền cho khách vãng lai" đi các toa phân phối tờ đơn đổi tiền, hướng dẫn, giải thích cách thức đổi tiền. Quất nói:
    -    Bọn họ đã bí mật lên tàu từ ga Mường Mán hồi nửa khuya.
Cả tàu nhốn nháo. Nhiều người hoảng hốt chạy quanh. Một số khác mếu máo, khóc lóc. Dù cơn sốt đổi tiền đã diễn ra suốt mấy tuần nay, nhưng nhiều người không tin, vẫn giữ nhiều tiền mặt. Bây giờ mang tiền ngồi trên tàu thì thật là vô kế khả thi. Những con buôn như Hạnh, chẳng mấy ai giữ tiền mặt, nên chỉ có xôn xao đôi chút lúc đầu, rồi bình thản trở lại.
    Công tác đổi tiền diễn ra chậm chạp. Khách trên tàu đã đông, lại đủ thành phần. Chỗ chèn làm việc chật chội, không thuận tiện, khách di chuyển khó khăn. Lúc đầu, chỉ có nhân viên đội công tác làm việc, nhưng đến trưa, thấy tình hình không mấy khả quan, nên họ yêu cầu sự tiếp tay của nhân viên tàu và cả công an cơ động. Hạnh còn hơn bảy ngàn, đưa cho Quất đổi ngay trong những giờ đầu. Cảm giác đầu tiên của nàng khi cầm những tờ giấy bạc mới tinh là vui. Cả một cọc tiền cất nặng túi được thay thế bằng mười mấy tờ 50 đồng gọn bưng, xếp vừa vặn trong chiếc ví nhỏ. Nàng nhủ thầm: thế cũng hay, bán cả cây vàng mang đi quá dễ, có thể cất gọn gàng trong người.
    Nhưng cảm giác vui vẻ đó không tồn tại lâu. Khi tàu dừng lại ở Nha Trang, nàng xuống ga tìm gánh bún. Sân ga vắng tanh, tuyệt không có một bóng người. Không bún, không cà phê, không hàng rong. Chỉ có nắng và rác. Hóa ra mọi người bận ở nhà đổi tiền. Ðành phải vào cửa hàng. Cửa hàng cũng vắng hoe. Chỉ có một nhân viên ngồi ngáp vắng ngáp dài. Ðưa tờ năm chục đồng ra, cô ta lắc đầu. Lấy cái gì mà thối đây? Tờ bạc hốt nhiên trở nên nặng nề khác thường. Năm chục mà là năm trăm. Tiền chục, tiền năm và tiền một đồng quá ít. Mà ngay cả cầm tờ một đồng cũng không dễ mua được gì, vì trị giá nó vẫn là mười đồng. Nhưng dù sao, nó cũng dễ lưu hành nhất. Trên tàu, người ta chỉ tiêu những thứ lặt vặt, trị giá một đến hai đồng tiền mới: vài quả trứng gà luộc, một phần cơm, chai nước ngọt, gói thuốc chẳng hạn. Tình hình hoàn toàn bế tắc, vì có tiền mà không mua được, có hàng mà không bán được. Toa cung ứng trên tàu, ngoài việc phục vụ cho nhân viên, đành phải ngồi chơi, chịu trận.
    Ðến quá trưa, trong giới con buôn, đột nhiên truyền miệng nhau một "đường dây" đổi tiền lẻ: 50 đồng lấy 49 đồng tiền lẻ. Nghĩa là để có tiền lẻ, phải chịu mất đứt một đồng. Hạnh chấp nhận ngay, đang hỏi dò chỗ đổi, thì Quất cản:
    -    Ðể đó anh lo. Dại gì mất toi một đồng.
    -    Nhưng làm sao mình ăn cơm và tiêu vặt đây?
    Quất kéo tay nàng:
    -    Ði với anh!
    Hạnh theo Quất, lòng phân vân không biết anh ta tính toán cách nào. Anh ghé tai Hạnh:
    -    Tới toa cung ứng, em thích gì cứ kêu, cứ ăn. Anh sẽ ký sổ mắc nợ giùm em. Ðâu có sao. Tụi mình làm ăn chung mà, sợ gì. Phải không nào?
    Nghe cũng có lý, Hạnh đồng ý ngay. Tuy thế, khi ăn xong, nàng nghĩ ra một giải pháp có vẻ "ổn thỏa" hơn: nàng đưa hẳn cho nhân viên toa cung ứng tờ 50 đồng, ăn ghi sổ, rồi trừ dần đến khi nào hết thì thôi. Quất cười:
    -    Em chu đáo quá! Bộ anh không bao em được sao? Thôi, cô Tuyết à, đừng nhận 50 đồng của Hạnh. Tiền đó coi như tôi nợ.
    Hạnh lắc đầu:
    -    Ðâu có được. Tính mình ưa sòng phẳng. Chuyện này Quất nên đứng ngoài. Chị Tuyết giữ giùm mình tờ 50 đồng này đi. Mình còn đi tàu này nhiều lần mà.
    -    Không, để anh bao!
    Hạnh hỏi thắÔc:
    -    Liệu có bao mãi được không?
    -    Sao không. Bao em luôn cả đời đấy. Chỉ sợ…
    Hạnh cười duyên:
    -    Sợ gì? Sợ chị ấy hả?
    Quất nói lãng:
    -    Thôi, coi như xong đi. Nào ta về toa đi.
    Hạnh cất tờ 50 đồng vào túi. Quất nói:
    -    Sau chuyến này, anh nghỉ phép năm đấy. Em liệu có đi tiếp thì đi, mà không thì về nhà nghỉ một thời gian.
    -    Thế à? ỞỰ nhà hú hí với vợ con, thích nhỉ?
    -    Hú hí thì lúc nào chả hú hí, cần gì phải đợi đến phép năm. Anh định đi Ðồ Sơn chơi.
    -    Ðồ Sơn là chỗ nào vậy Quất?
    -    Ðồ Sơn là bãi biển Ðồ Sơn ấy mà, em không biết sao?
    -    Ở đâu?
    -    Ở Hải Phòng.
    -    Ồ, Hải Phòng. Mình nghe nói đến Hải Phòng nhiều. Mình biết bài hát "Hải Phòng hoa phượng đỏ", mình thích lắm. Gì mà "Tháng năm rợp trời hoa phượng đỏ, ôi Hải Phòng thành phố thân yên…", phải không? Té ra Hải Phòng cũng có hoa phượng đỏ như Huế mình. Nhưng chẳng biết nó có đẹp như Huế mùa hè không. Trời, Quất chưa vào Huế chơi mùa hè đó. Hoa phượng nở rợp trời, đẹp hết ý. Quất có biết bài hát của Trịnh Công Sơn " Mưa hồng" không?
    -    Anh có biết bài gì gọi là "xưa" đó, cái gì xưa nhỉ?
    -    Diễm xưa.
    -    Ðúng, "Diễm xưa".
    -    Mà "diễm xưa" là cái gì nhỉ?
    -    Quất tệ thì thôi. Diễm xưa mà không biết là gì.
    -    Ai mà biết. Bộ Hạnh biết à?
    -    Sao không? Thì "diễm xưa" là…là là…ờ mà là cái gì nhỉ? Hình như mình có biết mà giờ quên rồi.
    Quất vuốt má Hạnh:
    -    Thấy chưa! Tưởng giỏi!
    Hạnh ngượng nghịu nói lảng:
    -    Bài "Diễm xưa" cũng hay mà bài "Mưa hồng" cũng hay. Quất có biết vì sao gọi là mưa hồng không?
    -    Làm sao biết được.
    -    Mưa hồng là hoa phượng rơi ngập trời như một trận mưa màu đỏ vậy. Chỉ có chứng kiến cảnh phượng rơi ngập trời như vậy mới hiểu được ý của bài hát.
    -    À, thì ra thế. Cái bọn nhà thơ lắm tưởng tượng. Mưa hồng với chả mưa hồng. Anh thì chỉ thích mưa tiền.
    Hạnh chép miệng, gật gù:
    -    Có lẽ thế. Mưa hồng là chuyện của ngày xưa rồi. Giờ mình cũng chẳng thấy mưa hồng hay mưa xanh gì nữa cả. Mình cũng quên bẵng là Huế bữa này có còn hoa phượng không nữa. Mà này, Quất về đó dẫn bà ấy đi tắm biển, thích nhỉ?
    -    Không đâu. Thực chất là anh về tìm đường làm ăn dưới ấy. Nói về Ðồ Sơn là nói cho nó… nó cao cấp thế, chứ về Ðồ Sơn làm quái gì. Về cảng. Cảng Hải Phòng lớn lắm, đồ ngoại tùm lum. Có cả công ty xuất khẩu. Anh về dưới ấy liên lạc với bà Lý xem thử có thể chen vào một khâu làm ăn nào không. Làm ăn với ngoại thương, không trúng quả thì thôi, chứ trúng thì đậm lắm. Em có thích về dưới đó thử cho biết không?
    Hạnh nói:
    -    Mô được. Chuyến này trở vào, mình phải ghé nhà.
    Quất nhìn thẳng vào mặt Hạnh, đùa:
    -    Lại nhớ ông xã rồi, phải không?
    -    Ừ, thì nhớ chứ sao không. Nhớ mấy đứa nhỏ. Cả tháng rồi chứ có ít đâu, để xem, mình đi từ hôm mồng mười tháng rồi, bây giờ mà mồng mấy nhỉ, mồng 5 hay sáu, mồng sáu. Ngót một tháng rồi. Quất về dưới đó bao lâu?
    -    Xuống đó có vài hôm à. Ðâu có ở lâu làm gì. Từ Hà Nội về Hải Phòng có mấy tiếng đồng hồ.
    Hạnh im lặng, nhìn ra ngoài. Tàu đang chạy qua những cánh đồng trơ cuống rạ, ngập nước lúp xúp. Mặt nước phản chiếu ánh mặt trời xế trưa hắt vào mắt, ran rát. Nàng đưa tay dụi mắt, quay vào, thấy Quất đang nhìn chăm, mỉm cười.

    Tàu đến ga Vinh xế chiều ngày hôm sau. Quất bảo:
    -    Tàu dừng lâu vì có nhân viên bảo trì kiểm tra lại máy móc. Em muốn đi đâu thì đi.
    Tàu vừa dừng bánh, Hành xuống ngay. Nàng mua một xô nước rửa ráy mặt mày tay chân xong, rồi đi lửng thửng về cổạng ga. Mới đi được một đoạn, thì Quất từ trong văn phòng ga, hớt hải chạy tới. Anh thở hổn hển, nói:
    -    Trở lại tàu mau. Tụi nó sắp "tuôn" hàng.
    Nàng sửng sốt:
    -    Sao lại tuôn hàng? Không phải sửa chữa máy móc à?
    -    Thôi, về đi. Giải thích sau.
    Quất chạy đi ngay. Hạnh hối hả chạy theo, vấp té mấy lần trên sân ga lổn chổn những đá, gỗ, cọc sắt nằm rải rác. Quất đứng đầu toa, lên giọng loan báo:
    -    Yêu cầu các đồng chí và các bạn, ai ở chỗ nào ngồi yên chỗ đó. Ðồ đạc, hàng hóa, ai nấy giữ. Ðội kiểm tra cơ động trung ương sắp lên tàu làm việc.
    Qua cửa sổ tàu, Hạnh nhìn thấy một đoàn công an – thuế vụ dàn hàng ngang tiến về tàu. Ðoàn người từ tốn bước đều, nghiêm nghị, ung dung. Khi cách tàu chừng vài mét, đoàn người tách thành từng nhóm. Một tiếng còi đột ngột ré lên. Họ đồng loạt ào ạt nhảy lên tàu. Chỉ trong nháy mắt, cả đoàn tàu bị khống chế. Tàu chết sững. Mọi người kinh hoàng, nín thở. Hạnh đứng lùi lại, nép sát người vào thành toa. Có đến tám người trong toa. Bằng một thái độ hung bạo và dứt khoát, họ lần lượt lôi ra những xách hàng, bao hàng, những gói đồ, đưa tay nắn bóp chung quanh hoặc mở ra xem qua loa rồi hỏi: "của ai?" hoặc "đã đóng thuế, đóng cước chưa?". Không đợi câu trả lời, họ tức tốc ném ngay hàng qua cửa sổ. Người ở dưới đỡ bịch hàng rồi ném ra khoảng đất trống phía sau. Tám người mặt mày đằng đằng sát khi, trông như những hung thần, bước lui, bước tới, nhảy lên ghế, lôi hàng, giựt hàng, ném ào ạt qua cửa sổ. Khóc lóc, mặc! Năn nỉ, ỉ ôi, mặc! Hàng đổ tung toé trên sàn tàu, dưới đất. Các đống hàng cao dần thành những hòn núi nhỏ dọc theo đường ray. Nhiều bà tiếc của, cố níu theo xách hàng, không buông. Mấy tay công an phải xúm lại, người đè, người kéo xách hàng, giựt ra, ném xuống. Có bà nhảy luôn qua cửa sổ theo hàng rơi xuống đất, ôm luôn bao hàng lăn tròn không chịu buông. Các nhân viên an ninh ga phải tiếp tay đến kéo bà ta đi chỗ khác. Bà ta vùng vẫy dãy dụa, vừa vùng vừa la, khóc, chưởi mắng tùm lum.
    Làm sạch trên tàu, dưới gầm xong, họ lục soát phòng kiểm soát viên. Một tay công an lật giường nằm lôi ra hai xách thuốc lá, mở tủ áo quần, lấy thêm một xách nữa. Anh ta dùng thanh sắt, nạy trần tàu, tìm thấy hơn chục tút thuốc dấu bên trên.
Ðội tuôn hàng làm việc y như tiến hành một cuộc tập kích quân sự vào đồn địch. Nhanh chóng, tàn khốc, quyết liệt. Chỉ trong vòng một thời gian ngắn, họ hoàn thành công tác. Các toa trống hẳn. Hàng hóa chất thành từng núi cao nằm dọc theo đường ray. Một tiếng còi vang dài. Các công an, thuế vụ rút xuống đất, sắp thành những vòng cung bao quanh các núi hàng trong lúc những toán công nhân đường sắt lần lượt chuyển hết hàng vào kho.
    Hạnh đứng nhìn cảnh tuôn hàng y như trong mơ. Lúc đầu, nàng đau xót, bần thần, điên tiết. Nhưng cuối cùng mất hết cảm giác. Ðôi mắt lạc thần. Nàng đứng bất động như tượng đá. Toán tuôn hàng đã xuống rồi, nàng vẫn còn đứng đó. Một lúc sau, tỉnh lại, nàng run rẩy bước tới đầu toa, gục mặt, khóc ngất. Thế là hết! Hết hẳn.
    Một ai đó đập nhẹ vào vai nàng. Nàng thẫn thờ quay lui. Quất buồn rầu nói:
    -    Anh có gửi một ít ở toa cung ứng. Không biết sự thể ở đó ra sao.
    Hạnh hỏi:
    -    Xong rồi sao?
    Quất gật đầu, quay đi. Nàng đờ đẫn bước vào toa. Hành khách đang thu dọn lại hành lý, bàn tán sôi nổi. Một số người không ngớt chưởi thề. Một số khác khóc. Khung cảnh tan tác, mệt mỏi và chán chường như chiến trường sau một trận chiến ác liệt.
    Quất trở lại, nhìn Hạnh, thở dài:
    -    Mất sạch. Bọn chúng lục lạo mọi nơi, không để sót một chỗ nào.
    Hạnh ngơ ngác:
    -    Thế à!

    Một thông báo đặc biệt được lập đi lập lại qua hệ thống loa phóng thanh của ga cho biết: đợt kiểm tra hàng hóa đột xuất trên tàu Thống Nhất 4 được thực hiện bởi toán công tác hỗn hợp công an – thuế vụ-giao thông đường sắt nhằm bảo đảm cho các quy định của nhà nước về việc lưu thông hàng hóa bằng tuyến đường sắt. Tất cả các hàng hóa được tạm lưu giữ tại ga Vinh sẽ được trả lại cho chủ hàng. Ai muốn nhận lại hàng hóa của mình, tiếp xúc với trạm thuế Công Thương Nghiệp ga, mang theo đầy đủ giấy tờ chứng minh gồm có: giấy đóng thuế, cước chuyên chở và các hóa đơn mua hàng liên hệ.
    Nghe xong, Hạnh mừng. Rồi thất vọng. Mừng vì hàng vẫn còn đó. Thất vọng vì nàng chẳng có giấy tờ gì chứng minh cả. Làm sao mà có giấy tờ cho được! Hàng hóa lậu thuế, lậu cước. Vả lại, hàng của nàng, thuốc lá, là hàng ngoại, thuộc diện "quốc cấm", thành thử có muốn đóng thuế cũng không được. Chẳng hy vọng gì lấy hàng ra một cách hợp pháp. Gặp Quất ở cửa toa, nàng buồn bã nói:
    -    Mình ở lại.
    -    Ðể làm gì?
    -    Không lẽ bỏ đi. Mà đi đâu? Còn gì nữa mà đi.
    Quất cắn môi, suy nghĩ rồi bảo:
    -    Em định làm gì?
    -    Mình tìm đường để chạy hàng ra.
    -    Không dễ đâu. Theo anh biết, chuyến này họ muốn lấy hết.
    Hạnh cương quyết:
    -    Mình không thể bỏ được. Còn nước còn tát.
    Quất thở dài:
    -    Em muốn thì cứ ở lại. Nhưng em định ở đâu?
    -    Mình chưa biết. Quất có quen ai đây không?
    -    Có, nhưng hắn chẳng có nhà cửa gì ở đây cả.
    -    Không sao, cứ giới thiệu cho mình. Mình sẽ tìm cách. Ðây có nhà trọ không?
    -    Có. Nhưng phức tạp lắm.
    -    Không sao.
    Quất tần ngần nhìn nàng, lắc đầu. Tàu hú còi. Hạnh dứt khoát:
    – Quất đi đi. Mình tự lo được.
Quất không nói gì, vội vàng quay bước. Ði được một đoạn, anh quay lại, nói:
    -    Ðến Hà Nội giao ca xong, anh sẽ trở vào.
    Hạnh bước đi như người mất hồn, chẳng buồn nghe Quất nói những gì.

    Tàu chạy rồi, Hạnh mới hốt hoảng. Nàng quên hỏi tên của người quen của Quất. Cũng quên cả hỏi mượn thêm tiền để phòng khi cần. Chỉ còn bảy ngàn trong túi, làm sao dủ để chuộc ra một lô hàng ba cây. Ði giữa sân ga mênh mông, xa lạ, nàng cảm thấy mình lạc loài, chẳng còn một chỗ tựa nào. Nàng rảo bước đi quanh. Những người ở lại lơ ngơ láo ngáo nhìn nhau, mặt mày bần thần. Họ tụ lại từng cụm năm, ba người, nhỏ to than thở. Ai cũng chưa ra khỏi trạng thái bàng hoàng. Có lẽ không ai biết phải làm gì.
    Nàng tiến lại gần một chị có dáng dấp của một "con phe" Hà Nội, hỏi:
    -    Hàng chị cũng bị tuôn?
    -    Vâng. Cô cũng thế à!
    Hạnh đoán đúng, giọng chị ta "rặt" Hà Nội. Chị ta tiếp:
    -    Mẹ kiếp! Bọn chúng hỏi giấy tờ, tôi lục bóp, chưa kịp tìm ra thì bọn chúng đã ném hàng xuống.
    Một người đàn bà khác đứng gần đó, nói chen vào:
    -    Cái bọn khốn nạn. Chúng làm như giời đất này là của chúng. Chúng tuôn hàng lậu không nói làm gì. Ðàng này, hàng có đóng thuế cước chúng cũng tuôn. Phen này, ra Hà Nội, tôi phải kiện cho chúng nó biết tay. Chúng nó bảo là làm theo chính sách. Chính sách cái con mẹ gì. Nhà nước ta đâu có cái chính sách kiểu đó. Chính sách một, chúng nó làm thành mười.
    Hạnh hỏi:
    -    Vậy bác có giấy tờ gì chứng minh không?
    Người đàn lục bóp, lấy ra mấy tấm giấy:
    -    Sao lại không. Nhưng chúng nó có xem đâu.
    -    Có giấy tờ thì vào trạm nhận lại được mà.
    -    Nhưng mà chúng chất từng đống như thế kia, biết đâu mà tìm?
    Hạnh hỏi:
    -    Bác đi hàng gì?
    -    Linh tinh.
    -    Bác đóng thuế hết tất cả à?
    -    Ai mà dại thế. Ðóng thuế hết thì thà mang tiền cho chúng nó ăn cho khỏe, đi buôn làm gì?
    -    Vậy hàng không đóng thuế, làm sao lấy ra?
    Người đàn bà thở dài:
    -    Ấy, ấy. Thế mới phiền. Phải đút cho chúng nó ăn, không thì gay đấy!
    Thấy người ta lục tục đi về trạm thuế, nàng cũng bước theo. Tại đây, đã có hàng chục người đứng ngồi, chầu chực. Nàng xin một mẫu giấy khai báo hàng hóa, xem thử. Mẫu đơn đòi hỏi phải cung cấp đủ thứ chi tiết về lý lịch, số lượng hàng hóa, loại hàng, trị giá, nơi mua, nơi đóng thuế gốc, nơi cung cấp, ghi chú các chi tiết về bao bì. Ðọc xong, nàng chán nản, ngồi phịch xuống chiếc ghế dài đặt phía ngoài trạm, sát bức tường thành cao, loang lổ. Một số người được kêu vào văn phòng. Họ trở ra với nét thất vọng tràn trề trên khuôn mặt. Thấy một người đàn ông trong áo quần bộ đội bước ra, nàng đứng dậy, hỏi khẽ:
    -    Tình hình thế nào, chú?
    -    Tôi mua một ít hàng cung cấp cho đơn vị, có giấy tờ đầy đủ, nhưng họ buộc đơn vị phải làm văn thư chuyển vào mới giải quyết.
    Người đàn bà mới nói chuyện khi nãy với nàng, bước vào. Không đầy ít phút sau, bà ta bước ra, mặt mày giận dữ. Nàng hỏi:
    -    Thế nào bác?
    -    Mẹ kiếp! Nó bảo cứ điền đơn để đó, cứu xét sau. Hàng hóa đã bỏ vào kho niêm hết rồi.
    Cứ thế, người này ra, người kia vào. Một hồi lâu, người ta chua chát nhận ra một điều: trạm không muốn giải quyết một trường hợp nào cả. Cho dù có muốn giải quyết cũng không thể được, vì cả mấy núi hàng lẫn lộn nhau, làm sao có thể nhất thời xác định được hàng nào là hàng nào, của ai. Mọi người tuyệt vọng nhìn nhau, im lặng. Hạnh ngồi xuống, ôm đầu. Một âm vang sâu thẳm lập đi lập lại trong đầu nàng: hết rồi, hết sạch rồi. Không còn gì nữa. Vàng. Xe. Tài sản, vốn liếng. Tiền mượn, tiền vay, tiền để dành. Hình ảnh chồng con chập chờn nhảy múa, hư huyễn. Làm sao đây,hỡi trời!
         

    Trời tối. Sân ga vắng vẻ. Ánh đèn vàng nhạt, chỗ có chỗ không, để lại những mảng sáng tối không đều trên khoảng đất rộng lổn chổn đủ thứ vật liệu bừa bãi.
    Sau khi nuốt vội vài miếng đồ ăn và ráng uống hết cốc bia vại Trúc Bạch ở cửa hàng ăn, nàng trở lại trạm, kiên nhẫn ngồi đợi. Chờ cho đến khi người khách cuối cùng bước ra, nàng rón rén bước vào. Phòng nhỏ, nhưng khá tươm tất. Bàn có lót kính. Ghế ngồi là một cái ghế xoay, tuy cũ nhưng trông còn chắc chắn. Có lẽ là loại ghế Mỹ mang từ miền Nam ra. Người đàn ông ngồi đó, đứng tuổi, mặt mày thoạt trông không mấy thiện cảm. Da đen, lấm tấm mụn đỏ. Một cái sẹo cỡ chừng hơn đốt ngón tay chạy từ giữa cằm sang một bên môi dưới, nên miệng trông hơi méo. Nàng nản. Nàng chìa gói thuốc samit mở sẵn trước mặt người đàn ông. Ðợi ông ta lấy xong một điếu, nàng để trên bàn, đưa tay đẩy nhẹ về phía ông ta. Nàng nhìn ông ta cười, giữ giọng cho thật duyên dáng, nói:
    -    Dạ, chào anh. Em tên Hạnh, từ miền Nam ra. Em xin phép hỏi anh, anh là trưởng trạm ở đây, phải không ạ?
    Hình như ông ta đã quá quen với giọng điệu của nhiều người đến đây năn nỉ, xin xỏ, nên ném ra một câu khô khốạc:
    -    Chị cần gì?
    Nàng khựng lại, nhưng vẫn giữ nụ cười. Giọng nàng nghe ngọt lịm:
    -    Công tác ở đây cũng bận bịu lắm, anh nhỉ?
    Người đàn ông không nói gì, châm thuốc hút. Ông ta phà ra một cụm khói bay vòng vèo trong phòng. Khuôn mặt ông ta hơi dãn ra. Nàng hỏi:
    -    Anh công tác ở đây chắc cũng lâu rồi?
    Ông ta để điếu thuốc trên cái gạt tàn bằng gỗ, ngẩng nhìn:
    -    Ðiều đó thì quan hệ gì đến chị?
    Hạnh nhoẻn miệng cười, mắt long lanh:
    -    Ðâu có. Em hỏi cho biết vậy mà. Em có một người anh bà con cỡ tuổi anh hiện công tác ở Ngân Hàng Trung Ương Hà Nội. Anh em mà đến mấy chục năm mới gặp nhau đó anh. Anh ấy đi tập kết từ hồi 1954. Anh chắc cũng ở vùng này?
    -    Sao chị biết?
    -    Em đoán thôi, nhờ giọng nói. Thành phố Vinh này lớn thật. Em muốn đi nhiều nơi cho biết, nhưng chưa có thì giờ. Khi nào có dịp, anh giúp em đi chơi được không?
    Người đàn ông chợt bật cười:
    -    Chị này đến lạ! Làm sao tôi lại có thể đưa chị đi chơi được. Mà lại, thành phố Vinh này buồn lắm, có gì đâu mà đi.
    – Mỗi thành phố có một nét đẹp riêng. Nghe nói chợ Vinh cũng lớn lắm phải không anh?
    -    Thì cũng có lớn thật đấy, nhưng chả bằng trong miền Nam đâu.
    -    Anh nói thế chứ, đâu cũng có chỗ lớn chỗ nhỏ. Như chợ Ðông Ba trong vùng em chẳng hạn, ai nói đến Huế cũng nhắc đến chợ Ðông Ba, chứ nó mô có lớn. Nhỏ chút xíu hà.
    Giọng người đàn ông bây giờ có hơi vui:
    -    Chợ Ðông Ba là ở Huế, phải không?
    -    Dạ, chợ Ðông Ba là chợ lớn nhất ở Huế. Anh có bao giờ vô trong đó chưa?
    -    Chưa. Tôi mới vào có Sài Gòn.
    Hạnh reo nhỏ:
    -    Thế là anh có đi ngang Huế của em rồi. Lần sau, anh có đi công tác trong Nam, ghé em chơi. Nhà em ở Thành Nội. Em sẽ chở anh, à không, em cho anh mượn xe đi thăm lăng tẩm, chùa chiền, thăm Ðại Nội. Anh biết không, Huế có nhiều nơi đẹp và thơ mộng lắm.
    Cửa bỗng mở. Một nhân viên bước vào:
    -    Báo cáo đồng chí thủ trưởng, có đồng chí bên Ðường Sắt cần gặp.
    -    Nói đồng chí đợi một lát. Chị, bây giờ tôi có nhiều việc cần phải giải quyết. Tôi thích nghe chuyện Huế lắm, nhưng ta để dịp khác. Bây giờ thì chị cần gì?
    Giọng Hạnh đột nhiên trở nên sướt mướt:
    -    Anh, anh giúp em, anh làm ơn giúp em. Hàng hóa em bị tuôn hết trơn hồi chiều. Tất cả vốn liếng em để vào đó hết. Toàn gia đình em hoàn toàn dựa vào đó. Anh ráng giúp em, rồi sau đó, anh muốn…muốn gì ở em, em cũng chịu hết. Anh, giúp em đi anh.
    Hạnh đứng dậy, đi vòng phía bên bàn, tiến đến gần người đàn ông, mắt nhìn ông ta tha thiết. Chưa bao giờ nàng cảm thấy mình bạo dạn và tình tứ đến như thế. Ông ta dùng chân đẩy chiếc ghế thụt lùi một khoảng, sửng sốt nhìn người thiếu phụ lạ đang bước tới. Ông ta đưa tay kéo hộc bàn, tay kia đưa lên, ra dấu ngăn lại, miệng lắp bắp:
    -    Chị…cô dừng lại.
    Hạnh giật mình, dừng lại, miệng vẫn mỉm cười. Người đàn ông chỉ chiếc ghế, giọng rắn lại:
    -    Chị ngồi xuống kia đi. Ðây là cơ quan nhà nước.
    Hạnh nghe lời bước lui lại ghế của mình, nói:
    -    Em xin lỗi anh về tội đường đột. Nhưng xin anh thông cảm cho hoàn cảnh của em.
    Người đàn ông hỏi:
    -    Sao, chị đi hàng gì?
    -    Dạ, thuốc lá.
    -    Ngoại?
    -    Dạ.
    -    Bao nhiêu?
    -    Dạ, khá nhiều.
    -    Thì nhiều là bao nhiêu?
    -    Dạ, 50 cây Ba số, Jet, Craven A.
    -    Có giấy tờ gì không?
    -    Dạ, dạ không.
    -    Bao bì thế nào?
    -    Chỉ có hai xách. Số còn lại không có bao bì gì hết.
    -    Xách màu gì?
    -    Màu xanh đậm.
    -    Chị đi xe nào?
    -    Xe 8, Thống Nhất 4.
Người đàn ông ngẫm nghĩ, rồi vỗ trán nói:
    -    Gay đấy. Ðang mùa chiến dịch.
    -    Dạ, anh nói gì? Chiến dịch gì vậy anh?
    -    Không, tôi nhầm. Chuyện nội bộ mà. Còn vụ này là…là…hàng khi chở vào kho để lẫn vào nhau, không phân biệt được thứ nào ra thứ nào.
    -    Bởi vậy em mới nhờ anh.
    -    Tất cả vừa mới nhập kho chiều nay. Hiện đang chờ "trên" cho kế hoạch. Bây giờ chị về đi, có gì ta sẽ bàn ngày mai.
    Hạnh nhìn ông ta van vỉ:
    -    Anh hứa với em một lời đi. Rồi cái gì…cái gì…em cũng chịu hết.
    Người đàn ông cười, nụ cười thoải mái nhất mà nàng nhìn thấy từ khi bước vào đây.
    -    Cái gì…là cái gì?
    -    Dạ, bất cứ cái gì anh thích. Em nói thiệt.
    Nàng lại cười duyên, mắt nhìn càng tình tứ hơn:
    -    Anh hứa với em đi anh.
    -    Chị cứ về đi, mai hãy tính.
    -    Hay là anh cho em địa chỉ đi, em ghé nhà anh.
    Nguời đàn ông xua tay:
    -    Ðâu có được. Gay lắm.
    -    Hay là mình…mình hẹn một chỗ nào khác đi. Bất cứ chỗ…chỗ nào…em cũng đến được.
    Người đàn ông im lặng, vẻ suy tính. Hạnh nhìn chăm ông ta và bắt gặp trong đôi mắt đục một tia sáng bất chợt loé lên. Một sự kích động? Một niềm vui? Một ao ước? Ðôi mắt chuyển động qua lại, chợt nhìn nàng rồi chợt quay đi.
    -    Hay là…hay là…như thế này. Nhưng không, không được đâu.
    Hạnh chồm người lên bàn. Thấy bàn tay người đàn ông đang úp giữa bàn, kế bao thuốc, ngón tay trỏ gõ gõ trên mặt kính, nàng đặt nhẹ bàn tay mình lên. Thật dịu dàng. Nàng chạm phải một cái gì thô nhám. Dường như ông ta giật mình. Nàng nghĩ ông ta sẽ rút bàn tay lại. Không, ông ta vẫn để yên. Hạnh tiếp:
    -    Anh, anh giúp em. Em biết anh giúp là được mà.
    -     Gay lắm, chị. Ðang mùa chiến…à không đang lúc có khó khăn.
    Hạnh vuốt ve bàn tay người đàn ông:
    -    Anh. Hứa với em đi. Em biết anh làm được mà.
    Người đàn ông rút nhẹ bàn tay, cố tránh nhìn Hạnh:
    -    Thôi được, chị à…cô…em cứ về đi, để anh…anh…anh …tính. Ở đây lâu không hay. Ngày mai, để xem, ngày mai, anh có hội buổi sáng. Có gì, chiều mai…Mà em ở đâu?
    Hạnh khổ sở:
    -    Em cũng chẳng biết em phải ở đâu nữa. Em hiện giờ tứ cố vô thân. Khổ thật! Hay anh giúp em luôn đi. Anh ở mô… em… ở nấy, có được không anh?
    Người đàn ông lúng túng:
    -    Chịu thôi. Hay là đêm nay em tạm về nhà trọ bến xe Vinh đi. Ở đó, có chỗ nghỉ qua đêm.
    -    Làm sao em về đó được?
    -    Em ra lộ, đón xe ngựa đi. Có gì, chiều mai, em trở lại.
    Nhân viên khi nãy lại trở vào nhắc nhở. Biết không làm gì hơn được, Hạnh đứng dậy. Nàng rút cái bì giấy đặt lên bàn:
    -    Em về. Chúc anh ngủ ngon, công tác tốt.
    Nàng bước ra cửa. Chợt nghe giọng người đàn ông hấp tấp gọi lại:
    -    Này em, này chị kia…
    Nàng làm bộ không nghe, đi thẳng.
    Nghe lời khuyên của người đàn ông, Hạnh ra đường, đón xe ngựa. Phải đợi cả tiếng đồng hồ sau, nàng mới thấy chiếÔc xe ngựa xuất hiện. Trên con đường trải nhựa khá lớn của thành phố Vinh, hình ảnh chiếc xe ngựa chạy lọc cọc trông khá lạ lùng, cả đời nàng chưa bao giờ thấy. Xe chạy dọc theo đường, dừng lại nhiều nơi trước khi đến bến xe.
    Bến xe lớn. Nhà trọ nằằm khiêm nhường ở một góc. Nói là nhà trọ, nhưng khi vào quan sát thử, nàng thấy đó là một nhà ngủ tập thể. Không có từng giường riêng. Chỗ ngủ là mấy dãy giường lớn ghép bằng những tấm gỗ. Khách trọ nằm kế nhau, mỗi người nằm một khoảng hẹp vừa đủ chỗ để đặt lưng. Chiếu, mùng, chăn trông đen đúa, bẩn. Mới bước vào, nàng đã nghe cái mùi ngai ngái khó chịu, nên vội bước ra ngay. Tới phòng quản lý mua vé, thì không còn nữa. Nàng vừa thất vọng lại vừa mừng, vì kiểu này, nếu có chỗ, chưa chắc nàng đã có thể nằm ngủ được, dù chỉ một thời gian ngắn, nói gì đến cả đêm.
    Ðành phải về ga lại thôi. Khuya, xe ngựa chẳng còn. Nàng phải đứng đón xe bộ đội. Mới có chín giờ tối mà đường sá vắng teo. Dọc đường lại chẳng có quán xá, tiệm hàng gì. Toàn là những cơ quan nhà nước và các khoảng đất trống bỏ hoang. Thấy xe nào chạy ngang, nàng cũng đưa tay vẫy. Chẳng xe nào chịu ngừng. Có một vài chiếÔc ngừng, thì những người đàn ông trên xe lại buông lời chọc ghẹo nham nhở y như nàng là gái làng chơi, rồi chạy vụt đi. Một chiếÔc ngừng hẳn, tay tài xế mở cửa vẫy nàng lên xe. Nhưng khi nghe nàng chỉ muốn về ga, anh ta từ chối phắt, đóng sầm cửa lại, dọt đi. Nàng chẳng hiểu vì sao.
Không biết cách nào hơn, nàng đành đi bộ về ga.
    Nàng tìm một chỗ bên ngoài cửa hàng ăn uống ga, trải tờ báo, ngồi dựa vào tường, cố gắng ngủ. Suốt đêm, vừa sợ, vừa lo, vừa chán nản, lại bị đám muỗi háu đói vây quanh, nàng không cách gì ngủ được, chập chập chờn chờn mong trời sáng.

    Hạnh quanh quẩn suốt ngày trong khuôn viên ga. Khi thì đi uống nước, khi thì đi ăn, đi tắm hay tò mò đứng nhìn hành khách lên xuống tàu. Thỉnh thoảng, nàng lại tạt về trạm thuế, xem thử ông trưởng trạm về chưa. Văn phòng trạm vắng vẻ, chỉ có một, hai nhân viên ra vào. Một vài người lân la, hỏi dò tin tức, họ chỉ lắc đầu, nói là không biết gì hết.
    Ðến chiều, nàng ngồi trực trước trạm. Ăn chẳng muốn ăn, khát chẳng muốn uống. Cổ khô đắng như vừa bệnh nặng dậy. Nàng chẳng dám đi đâu, vì sợ rằng tay trưởng trạm trở về bất ngờ, nàng không gặp được. Nhưng trái với lòng mong đợi, bóng dáng tay trạm trưởng vẫn bặt tăm. Ðến tối, nàng gần như kiệt sức, lơ láo nhìn quanh như kẻ mất hồn. Tám giờ tối. Chín giờ tối. Mười giờ tối. Tay trạm trưởng vẫn mịt mờ. Nàng tuyệt vọng úp mặt vào hai bàn tay, khóc. Ðột nhiên có tiếng gọi:
    -    Hạnh!
    Nàng giật mình vùng đứng lên. Quất. Quất trở lại. Trong một thoáng, nàng có cảm tưởng như anh ta là một vị thiên thần hiện xuống cứu giúp nàng. Nàng mừng rỡ, chạy lại phía Quất, dang hai tay ra như sẵn sàng ôm lấy cả thân hình anh ta. Nhưng khi Quất đến gần, nàng rụt tay lại. Quất ôm lấy hai vai nàng, bóp chặt:
    -    Cứ tưởng em không còn đây nữa. Trời, cô em Huế của tôi nhếch nhác như thế này đây hả?
    Hạnh gỡ tay Quất ra, nhìn anh, cố dấu nét vui mừng lộ liễu:
    -    Sao anh vào nhanh thế?
    Quất hào hứng nói:
    – Sao mà có thể để em đây một mình cho đành, phải không nào? Giao ban xong, chưa về nhà là anh bắt ngay xe bộ đội đi công tác miền Nam, vào đây tìm em.
    -    Trời, tốt thế đấy!
    -    Em loanh quanh ở đây làm gì?
    Nàng hạ giọng:
    -    Thì còn làm gì nữa mà anh hỏi. Em đang đợi tay trạm trưởng. Ông ta hứa…
    -    Vô ích thôi, em.
    -    Sao vậy?
    Quất kéo nàng ra khỏi trạm, nói nhỏ:
    -    Báo cho em hay, việc tuôn hàng vừa rồi nằm trong một chiến dịch định sẵn sau khi đổi tiền, nhằm mục đích đánh vào việc buôn bán ngoài luồng, làm hại nền kinh tế xã hội chủ nghĩa. Hàng tuôn vừa rồi không thuộc trạm thuế quản lý đâu, mà nằm ở tỉnh và bộ ngoài Hà Nội.
    Hạnh run rẩy, thất thần:
    -    Có thật không? Ai nói với anh?
    -    Ðám bạn anh ngoài Tổng Cục cho biết. Chắc chắn trăm phần trăm. Bọn anh sẽ bị kiểm điểm. Có thể bị xử lý kỷ luật, mất việc luôn chưa biết chừng.
    Hạnh buông mình ngồi rủ xuống đất, khóc nấc lên. Quất im lặng đứng nhìn. Một hồi lâu sau, nàng nhìn Quất, nói qua màn nước mắt:
    -    Chắc em chết mất, Quất ơi. Lấy gì mà nuôi con đây trời!
    Nhưng rồi nàng đứng dậy, giọng nghe ráo hoảnh:
    -    Em phải gặp tay trạm trưởng mới được.
    -    Ðể làm gì?
    -    Ðể…để…
    Nàng im bặt. Quất tiếp, giọng dứt khoát:
    -    Anh làm việc bao nhiêu năm ngoài này, anh biết. Em gặp tay trưởng trạm cũng vô ích tôi. Hắn chẳng có quyền hành gì trong vụ này cả.
    Nàng uất ức nói:
    -    Thế mà…thế mà…
    -    Gì? Hắn hứa với em những gì?
    -    Không.
    Quất hỏi:
    -    Bây giờ em tính sao?
    Hạnh lắc đầu, tuyệt vọng:
    -    Không biết tính sao cả.
    Quất nhìn nàng ngập ngừng:
    -    Hay là…hay là…ra Hà Nội rồi đi Ðồ Sơn với anh. Ta xem thử con đường làm ăn dưới đó thế nào? Biết đâu?
    Hạnh nhìn Quất, không nói gì. Nàng ôm mặt trong lòng bàn tay, cảm thấy thấm thía cái vô nghĩa của cuộc sống. Quất đặt hai bàn tay lên vai nàng, vuốt nhẹ. Nàng im lặng, để yên.

 

Trần Doãn Nho

bài đã đăng của Trần Doãn Nho


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch