Trang chính » Âm Nhạc, Giới thiệu tác phẩm, Lê Văn Khoa Email bài này

Symphony “Việt Nam 1975” của nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã thành tựu

(Bài phát biểu tại hai buổi ra mắt tại Quận Cam ngày 22 và 23 tháng Tư 2005)

 

 

 

Thưa quý vị,

Tôi đọc trên tờ flyer giới thiệu đĩa nhạc Symphony Việt Nam 1975 dòng chữ này: “Niềm hãnh diện của người Việt sau 30 năm ly hương: Symphony Vietnam 1975 đã thành tựu.”

Tôi nghĩ đó là một câu nói rất đúng để chỉ về một biến cố trong tháng Tư năm 2005 này. Biến cố này không phải là một cuộc xuống đường rầm rộ, một buổi meeting đông người, hay một hình thức nào như cộng đồng của chúng ta vẫn thường làm liên quan đến việc tưởng niệm ngày mất miền Nam vào tay cộng sản 30 tháng Tư 1975. Ðã nhiều năm qua chúng ta tưởng niệm trong sự ân hận, đau buồn, nhưng năm nay, như câu của tờ flyer mà tôi vừa trích dẫn, chúng ta cảm thấy một sự hãnh diện. Một niềm hãnh diện rất chính đáng, cho tất cả mọi người, vì những nỗi niềm sâu kín của tập thể tị nạn chúng ta đã được một người nói hộ một cách trọn vẹn, bằng một phương tiện nghệ thuật rất cao, là nhạc cổ điển Tây phương. Ðó là Giao hưởng khúc 1975 của nhạc sĩ Lê Văn Khoa.

Từ biến cố 1975 đến nay là 30 năm. Trước đó 30 năm là chiến tranh. Từ 1945 đến nay là 60 năm, trong đó Việt Nam trải qua 30 năm chiến tranh, 30 năm hòa bình. Chúng ta đang đứng trước những con số rất tròn trịa. Từ thời điểm này, chúng ta có thể đưa mắt nhìn về quá khứ để xem với những biến cố lớn lao như vậy, đất nước Việt Nam đã có sản sinh ra những tác phẩm nghệ thuật nào, về văn, về thơ, về nhạc, về họa tương xứng với tầm vóc của các biến chuyển lịch sử mà chúng ta đã sống hay không. Xứng đáng với tầm vóc của lịch sử, kiểu như cuốn trường thiên tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Leon Tolstoi vẽ nên một bức bích họa vĩ đại của đất nước và dân tộc Nga thời kỳ đầu thế kỷ 19 trước sự xâm lăng của Napoleon, hay là bản Giao hưởng Ouverture 1812 của Tchaikosky mô tả cụ thể về biến cố này, hoặc cuốn tiểu thuyết Cuốn Theo Chiều Gió của Margarete Mitchell nói về cuộc chiến tranh Nam Bắc của nước Mỹ vào giữa thế kỷ 19 cùng tác phẩm điện ảnh quay theo tiểu thuyết này. Hoặc xa hơn về quá khứ của nước Trung Hoa, thời Tam Quốc sở dĩ còn lưu lại trong trí nhớ của biết bao thế hệ chính là nhờ bộ tiểu thuyết lịch sử Tam Quốc Diễn Nghĩa của La Quán Trung, hoặc chuyến du hành thỉnh kinh có một không hai sang Ấn Ðộ của nhà sư Trần Huyền Trang đời nhà Ðường mãi mãi còn sống động đến bao đời sau chính là nhờ bộ trường thiên tiểu thuyết Tây Du Ký của Ngô Thừa Ân. Nhìn lại nước ta, những tác phẩm lớn nói về các giai đoạn lịch sử quan trọng rất thiếu vắng, trong quá khứ đã thế, mà trong hiện tại cũng thế. Cuộc chiến kinh thiên động địa xảy ra trên nước Việt Nam của chúng ta ròng rã 30 năm, dưới đủ mọi hình thái, chỉ được ghi lại trong những tác phẩm hạng nhỏ và trung về bề rộng lẫn bề sâu, cả bên này lẫn bên kia. Sau khi chiến tranh chấm dứt, trong 30 năm cai trị của đảng cộng sản đã xảy ra biến cố vĩ đại độc nhất vô nhị trong lịch sử nước Việt Nam từ thời lập quốc cho đến nay, là cuộc đào thoát quy mô toàn cầu của dân tộc Việt Nam trốn chạy chủ nghĩa này, cũng chưa có một tác phẩm nào nói lên cho xứng đáng cái đau khổ như biển, cùng cái ý chí bằng trời của khát vọng tự do nơi người dân đi tị nạn. Chúng ta đã có rất nhiều hình thức tưởng niệm, gợi nhớ các biến cố này, bằng tượng đài, bằng sách báo, bằng lễ lạc, nhưng cái chúng ta thiếu nhất vẫn là tiếng nói của nghệ thuật ở một tầm mức cao, vì chỉ loại này mới có thể trường tồn như một chứng tích trong nhiều thế hệ sắp tới.

 

clip_image002

Bìa CD symphony Việt Nam 1975 của Lê Văn Khoa

 

Nhưng chính trong thời điểm 30 năm này chúng ta bỗng có tin vui! Khúc “Giao hưởng Việt Nam 1975” đã thành tựu! Khúc giao hưởng ấy đến với chúng ta kịp lúc vào thời điểm chúng ta đang bồi hồi tưởng nhớ đến bao biến cố nước mất nhà tan đã xảy ra từ cái tháng Tư oan nghiệt ấy, biết bao thảm cảnh tù tội đọa đày, biết bao sóng gió trùng khơi, trong vòng 30 năm qua! Chúng ta đã có một tác phẩm nghệ thuật chân chính, cao cấp, lớn lao nói hộ cho chúng ta hầu như tất cả những nỗi niềm mà mỗi người trong chúng ta vẫn hằng cưu mang ôm ấp mà không tự mình bộc bạch ra hết được. Hôm nay, chính nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã làm công việc ấy cho tất cả chúng ta, với “Khúc Giao Hưởng Việt Nam 1975” của ông.

Dùng phương tiện diễn đạt là nhạc giao hưởng Tây phương, một phương tiện phong phú nhất để diễn tả bằng âm thanh những trạng thái khác nhau của cuộc sống, nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã làm sống lại cả một giai đoạn lịch sử của Việt Nam. Dựa trên nhiều làn điệu dân ca dân nhạc, ông đã kể lại cho chúng ta nghe một thời thanh bình của đất nước chúng ta nó như thế nào, cuộc sống êm đềm của dân chúng với các rước xách hội hè, với tình yêu trai gái, và sức sống tươi vui của dân chúng bàng bạc khắp nơi. Nhưng rồi chiến tranh tới, chúng ta nghe những bước chân khẽ khàng của những kẻ gây chiến qua những dòng nhạc ngập ngừng bí mật, nhưng cuối cùng cũng biết đó là ai với tiếng vọng của bài Quốc tế ca từ xa xa, rồi Tiến quân ca, rồi bài Xì Lai quốc ca của Trung Cộng, rồi cuộc chiến bùng lên với sức kháng cự của quân dân miền Nam với những giai điệu thật là hùng tráng. Nhưng rồi cuộc chiến tàn với sự thất bại của miền Nam, tác giả đã diễn tả ngắn gọn nhưng với tất cả tâm tư của người trong cuộc, đến nỗi giáo sư sáng tác nhạc Gary Smart của đại học Wyoming đã phát biểu rằng: “Câu nhạc ngắn sau đoạn giao tranh trong hành âm Trong Ðêm Thâu thật sự đánh động tâm tư con người.”

Nhưng cuộc bại trận chỉ mới là bắt đầu của bi kịch. Kể ra, nói về bi kịch thì cả một miền Nam sau 1975 là một bi kịch lớn lao, cả nước đang no đủ bỗng trở thành nghèo đói, đang có nhà cửa bỗng trở thành kẻ vô gia cư, đang có tài sản bỗng trở thành vô sản, đang tự do bỗng thành tù tội. Người ta đang bức tử một xã hội tự do thành một trại lính có tên gọi là xã hội chủ nghĩa. Người dân không chịu nổi, họ phải ra đi. Họ đi đâu? Phần lớn họ đi ra biển, tìm đường đến với thế giới bên ngoài. Và hàng triệu người đã ra đi, nhắm mắt gởi thân phận mình cho đại dương có thể rất hiền từ mà cũng có thể rất hung tợn. Cả một lớp người ra đi này đã tạo nên một khúc bi tráng ca độc nhất vô nhị trong lịch sử Việt Nam, nói cho loài người từ thiên cổ cho đến ngàn sau rằng con người chỉ có thể sống đầy đủ với tư cách một con người nếu họ được tự do. Trong cuộc đi tìm tự do vĩ đại này, dân tộc chúng ta đã trả một cái giá không phải là nhỏ: khoảng nửa triệu người đã chìm sâu dưới lòng đại dương trước khi họ thấy bến bờ tự do. Quý vị phải nghe hành âm số 6 “Trên Biển Cả” để sống với tất cả nỗi khủng khiếp này, để thấy thân phận nhỏ nhoi của con người trước sự gào thét của sóng gió biển khơi, nhưng đồng thời Lê Văn Khoa cũng cho chúng ta một cảm giác rất lạ lùng trong hành âm này, đó là sự vươn lên của ý chí, càng bị vùi dập thì con người càng mạnh mẽ, chúng ta sẽ rõ ràng nghe được sự hùng tráng vẫn tiềm ẩn trong tự thâm tâm chúng ta, và nó đã được khơi dậy, khiến chúng ta hào hứng, chúng ta đầy niềm tin vào mình, vào đồng bào của mình và vào nhân loại, và chúng ta sẽ chảy nước mắt trong nỗi hân hoan bí ẩn ấy, nó bỗng dưng xuất hiện giữa cảnh những chiếc thuyền bé nhỏ đang nghiêng ngả giữa sóng gió vô tình của biển cả. Lê Văn Khoa với dòng nhạc của ông trong hành âm 6 đã gợi được sự tự hào ấy nơi con người, con người đầy sức mạnh có thể làm chủ lấy mình giữa thiên nhiên và giữa xã hội, dù phải trải qua nghịch cảnh cho tới đâu.

 

clip_image004

Ban hợp xướng Ngàn Khơi và dàn nhạc Hội Hiếu Nhạc Việt Mỹ
trình diễn “Ca Ngợi Tự Do” với nhạc trưởng Lê Văn Khoa (2008)

 

Với tư cách là những con người tị nạn, chúng ta biết ơn nhạc sĩ Lê Văn Khoa đã hiến tặng cho chúng ta tác phẩm này, một tác phẩm ca ngợi đất nước và con người Việt Nam, và điều quan trọng nhất là làm bừng sống phẩm giá của con người.
 

PHẠM PHÚ MINH
(tức nhà văn Phạm Xuân Ðài, chủ bút nguyệt san
Thế Kỷ 21)

 

 

 

clip_image006

Bích chương ở Melbourne,
Victoria, Australia (2005)

 

Nhạc trưởng Andrew Wailes của The Royal Melbourne Philharmonic Orchestra, trong chương trình phát thanh bằng tiếng Anh của đài phát thanh quốc gia Hoàng gia Úc, nói về “Symphony Việt Nam 1975” của Lê Văn Khoa:

clip_image008

“Ðây là một tác phẩm rất hay. Như những tác phẩm giao hưởng lớn, nó kể một câu chuyện thật đẹp. Ðây là nhạc về con người thật, về một quốc gia thật. Bắt đầu từ những bài dân nhạc diễn tả một quốc gia thanh bình, hào hùng, rồi bị cộng sản xâm chiếm. Nhạc chuyển lần sang âm thanh rất mới diễn tả sự bất an, đầy bối rối. Người ta chia tay nhau ra đi đến đất nước mới để tìm tự do. Trong hành âm cuối ‘Ca Ngợi Tự Do’, nhạc dàn ra một bài ca thật hay. Nhạc thật lộng lẫy, đồ sộ, thật vĩ đại . . .

Nhạc rất hay, rất sắc sảo, tinh vi, có những đoạn thật mong manh, chúng tôi phải hết sức cẩn thận để không đàn quá mức vì sợ phá vỡ không khí êm ả của nhạc.

Âm nhạc là một ngôn ngữ quốc tế. Là một nhạc sĩ tôi đã đi qua Ðức, Âu và Á châu và tôi chỉ dùng ngôn ngữ của âm nhạc, cho nên tôi nghĩ rất cần thiết để đưa Ðông qua Tây và Tây qua Ðông bằng âm nhạc, để chia sẻ tâm tình giữa các giống người trên địa cầu.”  

 

Nghe trên mạng:

Giao hưởng Vietnam 1975: Hành âm 6 – On High Sea (Trên biển cả)

 

Tải xuống máy (nhấn chuột phải, chọn “Save Target As”):

Giao hưởng Vietnam 1975: Hành âm 6 – On High Sea (Trên biển cả)

 

Nguồn: CD Le Van Khoa Symphony Vietnam 1975, do giàn nhạc giao hưởng Kyiv Symphony Orchestra & Chorus trình diễn, dưới sự điều khiển của nhạc trưởng Alla Kulbaba.

 

 

 

.

bài đã đăng của Phạm Phú Minh


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)