Trang chính » Biên Khảo, Nghệ Thuật, Nhận Định, Điện Ảnh Email bài này

Hollywood, phụ nữ Á châu & phê bình

 

 

 

Phiến diện, châm biếm, tự hào về chủng tộc đặt không đúng chỗ, chia rẽ Đông-Tây, giận dữ, chỉ nhìn thấy cái xấu của Hollywood, bài viết của tác giả Jessica Hagedorn, tiếc thay, không có một quan điểm nào cho thật mới mẻ. Biết rồi, khổ lắm. Tác giả Jessica Hagedorn xem phim với khối óc, phê bình với trái tim, nghĩa là trồng chuối ngược. Tác giả Jessica Hagedorn xem phim chỉ để thấy những cái mà mình muốn thấy. Nếu con người không thể thay đổi dĩ vãng, thì nhà phê bình cũng không nên đứng tại ưu thế của hiện tại để đòi hỏi các tác phẩm của quá khứ phải thế nọ thế kia. Hollywood mặc dù đã có những ông vua độc tài—nhưng minh chúa vì hầu hết họ đều là di dân Âu Châu (Do Thái) đã nếm mùi ngược đãi, đã ăn đòn kỳ thị nên rất trân trọng nhân văn nhân phẩm—các ông vua này dù có nhiều quyền bính trong tay lúc đó họ cũng không thể đóng vai ông trời con hay ông trời lớn muốn làm gì thì làm. Cái khó bó cái khôn. Tác giả Jessica Hagedorn có thể thuộc loại phê bình gia chê phim hoạt họa không sử dụng đào kép thiệt, chê tranh Picasso không giống người thiệt?

Đại khái, dù muốn hay không, các sáng tác phẩm cũng như cá nhân văn-thi-nhạc-nghệ sĩ—dẫu có là “thiên tài”—đều bị trói buộc trong không gian và thời gian. Hollywood, chí ít trong quá khứ, sản xuất phim trước tiên là để cung cấp cho thị trường Mỹ nên cần phải hợp khẩu vị khán giả Mỹ dễ bị chán, luôn luôn đòi hỏi của lạ. Ngoài ra, Hollywood sản xuất phim cho tất cả mọi người xem (người viết nhấn mạnh) chứ không dành riêng cho bọn đàn ông da trắng. Nói cách khác, đề tài phim (hay tiểu thuyết) không thật dồi dào. Quanh đi quẩn lại chỉ bấy nhiêu thôi nên phải xào đi nấu lại, hâm nóng, thêm gia vị. Mại dâm là cái nghề xưa nhứt của nhân loại. Từ cổ chí kim, mại dâm đã có mặt trong mọi xã hội không còn là bộ tộc. Mại dâm đã từng hiện diện trong văn chương, nghệ thuật. Gái điếm Á Châu trong phim Hollywood chỉ là biến thái của gái buôn hương bán phấn da trắng đã có mặt từ thời phim câm. Gái mại dâm Á Châu, nếu có trong phim Hollywood, chỉ là món cũ thêm gia vị mới, thế thôi.
 
 
suziewong
William Holden – Nancy Kwan
(The World of Suzie Wong, poster, 1960)

 

Hạnh phúc thay cho bọn đàn ông Mỹ—luôn luôn phải là Mỹ trắng tóc nâu tóc vàng, mắt xanh mắt xám—luôn luôn được một số ngoại nhân (những kẻ không thích Mỹ như tác giả Jessica Hagedorn?) tặng cho những “đức tánh” như “trẻ con”, “cao bồi”, “ngờ nghệch”, “mộng mị” gái Á Châu toy girls. Thử hỏi: họ cần gì “mộng” với chả “mị”? Vì nếu muốn, nếu cần, họ có thể tới Bangkok, Phnom Penh, Singapore, Việt Nam bỏ ra hai chục đô là có ngay. Đàn ông Hàn, Đài, Trung lấy/mua gái Việt có cần “mộng mị” không? Tác giả Jessica Hagedorn “khen” đàn ông da trắng Mỹ và “khen” Hollywood. Ô kê. Nhưng đàn ông da vàng thì sao? Họ có hơn gì bọn phàm phu tục tử da trắng không? Cung phi mỹ nữ hơn ba nghìn trong cung cấm, chồng chúa vợ tôi, trọng nam khinh nữ, thử hỏi có nước nào kỳ thị rẻ khinh phụ nữ hơn Trung Hoa? Đàn ông Việt Nam đời xưa thì có thể có năm thê bảy thiếp. Trong Ngày Phụ Nữ 8 tháng Ba vừa qua, họ có nâng phụ nữ lên ngôi thần tượng để rước kiệu hoa? Hay các ngài đại gia của ta vẫn ăn mừng, xổ xui bằng cách phá trinh gái vị thành niên? Bác Mao, bác Hồ đều có vài em xinh xinh bên mình để trợ lý khi cần đến. Nếu so sánh cô Kim của Miss Saigon dù có số phận hẩm hiu nhưng không phá thai, ráng nuôi con đến khi lên chín lên mười, cô Kim hạng ba hạng bét này chắc chắn vẫn sáng giá hơn các cô Kim của “Miss Ho Chi Minh City”, hay các cô Kim của “Miss Hanoi” bây giờ chớ?

Tuy nhắm vào thị trường—như mọi sản phẩm của chủ nghĩa tư bản—và trước tiên chỉ cốt để khán giả mua vui, nhưng phim Hollywood cũng đã/đang cố gắng cho ra đời những phim có giá trị và có tính nghệ thuật cao, phản ảnh ít nhiều đời sống thực—luôn luôn nhiều hơn ít dù là phim khoa học giả tưởng—và đa số đã trở thành tác phẩm cổ điển. Ngoài ra lúc đó nhà sản xuất và nhà đạo diễn trước và sau khi cho bấm máy, đều phải làm dâu trăm họ: ngoài lớp khán giả dễ bị nhàm chán, họ còn bị chi phối, trói buộc bởi luật pháp của chính phủ trung ương, của từng tiểu bang một, cộng thêm kiểm duyệt, tôn giáo, người lớn trẻ em, cấm kỵ, kỹ thuật, tài năng, ngân khoản, ngôn ngữ, v.v. Diễn viên da trắng hóa trang đóng da đen, da vàng chỉ tại lúc đó không tìm ra diễn viên bản xứ có tài diễn xuất, biết nói tiếng Anh, v.v. Hollywood không thể bịa ra một phụ nữ Á Châu ngoan ngoãn theo ý muốn, mà phải dựa vào một khuôn mẫu nào đó. Phụ nữ Việt Nam hay Á Châu có thể vì đã quen bị rẻ khinh nên cũng mang tự ti mặc cảm, thường tự ví mình với “khói trong lò” trong khi chàng là “mây mùa thu”. Gái Việt phải “hiền như ma sœur” và luôn luôn được/bị nhắc nhở “em ơi, cứ hiền ngoan như thế”. Nếu phụ nữ Á Châu tự họ đã là con búp bê chỉ biết nói “vâng, dạ” thì bọn đàn ông da trắng Mỹ và Hollywood đâu cần phải mộng mị, bịa đặt như tác giả Jessica Hagedorn đã tặng cho họ.

 

clip_image003[1]

Nghề cũ, bích họa trong một nhà thổ ở Pompeii – La Mã

 

Các hãng phim lớn Hollywood vào thời vàng son đã có những chàng “talent scout” đi khắp nơi để đãi vàng sàng ngọc, truy lùng phát hiện những khuôn mặt lạ, bắt mắt, ăn ảnh, nam lẫn nữ, có khả năng trở thành diễn viên hay siêu sao để ký hợp đồng và huấn luyện nhiều năm, trước khi đưa ra trước ống kính và tung ra thị trường. Trong thế chiến thứ hai, sau sự phát hiện của một phóng viên nhiếp ảnh tại một xưởng thợ, Marilyn Monroe đã được Hollywood huấn luyện, sáng chế, sử dụng, thậm chí lợi dụng. Nhưng nếu không có máy ảnh phóng sự (“phụ nữ Mỹ lao động đóng góp cho chiến tranh”) của anh phóng viên, rồi bàn tay thương mại của Hollywood thì Norma Jean—tên thiệt của MM—sẽ suốt đời là một chị công nhân hay một người mẫu để chụp ảnh mà thôi. Nếu không có Hollywood thì các cô gái tên Lucille Le Sueur, Frances Ethel Gumm, Phylis Lee Isley, Peggy Yvonne Middleton, Hedwig Eva Maria Kiesler, Margarita Carmen Cansino… đã không trở thành những Joan Crawford, Judy Garland, Jennifer Jones, Yvonne de Carlo, Hedy Lamarr, Rita Hayworth bất tử. Và còn nhiều nữa… Trong số này tất nhiên có Anna May Wong, Win Min Than (Miến Điện, chỉ đóng một phim duy nhứt Purple Plain/Cánh Đồng Tím với tài tử Gregory Peck, 1954), có Nancy Kwan và France Nuyen. Nếu Hollywood không phát hiện các mỹ nhân này thì Hollywood cũng sử dụng họ. Nếu không có Hollywood thử hỏi ai còn nhớ các tên tuổi đó. Vậy thì nên cám ơn Hollywood hay nên tố khổ? Tác giả Jessica Hagedorn sao không tìm gặp các diễn viên này hỏi xem họ có hối tiếc việc đóng các vai “hạ nhục” phụ nữ Á Châu trong phim Hollywood hay không?

 

clip_image005[1]
Jennifer Jones – William Holden
(Love Is A Many-Splendored Thing, 1955)

 

Khi thực hiện phim Cuốn Theo Chiều Gió, David O. Selznick, nhà sản xuất phim tài hoa nhưng khó tính đã không hài lòng với bất cứ siêu sao nào của Hollywood đương thời để mời đóng vai Scarlett O’Hara. Hãng phim của ông đã tuyển lựa cả ngàn cô gái Mỹ cho đóng thử nhưng cũng không có kết quả. Cuối cùng vào phút chót, may thay và kịp thời (vì không thể chờ đợi thêm nữa) có người giới thiệu Vivien Leigh một nữ diễn viên Anh sống tại Luân Đôn chưa nổi tiếng, để vào vai Scarlett. Chọn diễn viên ngoại quốc đóng vai một nhân vật đã nổi tiếng trong một cuốn truyện best-seller về cuộc nội chiến Mỹ là một hành vi táo bạo và liều lĩnh, thậm chí khiêu khích, có thể đưa đến tình trạng phim bị tẩy chay. Nhưng vì nghệ thuật và muốn thực hiện một cuốn phim xứng đáng ngang bằng với biến cố lịch sử và cuốn tiểu thuyết nặng ký của Margaret Mictchell, nên D. O. Selznich—người chồng tương lai của Jennifer Jones—đã không ngần ngại. Kết quả, Cuốn Theo Chiều Gió đã trở thành tuyệt tác của điện ảnh thế giới chỉ có một không hai. Ashley Wilkes, chàng trai phong nhã Scarlett si tình, cũng do một tài tử Anh, Leslie Howard, đóng. Trong phim này cũng có cô gái điếm da trắng ở Atlanta tên Belle, một gái buôn hương có trái tim vàng.

 

clip_image007[1]
Vivien Leigh – Clark Gable
(Cuốn Theo Chiều Gió, 1939)

 

Lúc dàn dựng vở nhạc kịch Miss Saigon (London, 1989) Claude-Michel Schönberg và Alain Boublil cũng có tìm kiếm một cô gái Việt Nam để đóng vai Kim. Họ có cho người tìm gặp Thái Hiền nhưng cô danh ca của ta chưa hợp đủ điều kiện để bước lên sân khấu nên cuối cùng họ phải chọn Lea Salonga gốc Phi Luật Tân. Tới nay vẫn chưa có danh ca nào của Việt Nam có thể thủ vai Kim. Các diễn viên quốc tế vào vai Kim gồm có: Ma-Anne Dionisio (Canada, gốc Phi Luật Tân, 1993), Aura Dewa (Stuttgart, 1994), Eszter Biró (Hungary, 1994), Jihyen Park (New Zealand, năm?), Divina Sarkany (Stockholm, năm?). Vai Thúy bạn của Kim cũng do ca sĩ da trắng đảm nhiệm. The Engineer, anh “kỹ sư” ma cô dắt mối (tên ta là Tran Van Dinh) thì do Jonathan Pryce một diễn viên sân khấu kiêm điện ảnh người Anh vẽ mắt xếch, đóng trước tiên. Miss Saigon có thể đã đóng góp vào danh sách “khả ố” của phụ nữ Á Châu-gái điếm “nhu nhược-yếu mềm-đồ chơi của đối tượng… mộng tinh trong hầu hết phim ảnh của Hollywood” theo quan điểm của tác giả Jessica Hagedorn. Nhưng Miss Saigon cũng đã gây xúc động không nhỏ cho khán thính giả toàn cầu, gây sự chú ý đến số phận các trẻ “bụi đời” con rơi của lính Mỹ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc di tản, đoàn tụ.

 

clip_image008[1]

Lea Salonga

 

Thời niên thiếu ở Sài Gòn tôi có xem phim Đất Lành (The Good Earth, 1937) của hãng Metro-Goldwyn-Mayer. Bị xúc động mạnh, sau đó tôi tìm đọc truyện của Pearl Buck trong các bản dịch tiếng Pháp. Phim Tàu “thiệt” lúc ấy chiếu đầy các rạp lớn, nhỏ ở Chợ Lớn nhưng không hạp gu tôi. Khán giả Nam Việt Nam và quốc tế chỉ thực sự để ý đến phim Tàu khi Lý Tiểu Long đột hiện múa võ kung-fu. Đất Lành tiểu thuyết và Đất Lành phim đã khiến quần chúng Tây phương ý thức nhiều hơn về đất nước Trung Hoa, mặc dù về sau có vài nhà phê-bình-chính-trị-nghiêm-túc kiểu tác giả Jessica Hagedorn chê bai nọ kia. Cuốn tiểu thuyết ngắn, Người Mẹ, của Pearl Buck đã có dấu hiệu của tiểu thuyết mới, vì nhân vật người mẹ không có tên. Người mẹ chỉ là một phụ nữ vô danh, một biểu tượng làm đại diện cho các bà mẹ Tàu nghèo khổ, nhẫn nại, hy sinh để giữ trọn tam tòng tứ đức—những mẫu đàn bà con gái “lý tưởng” của Trung Hoa.

 

clip_image010[1]
Paul Muni – Luise Rainer
(Đất Lành, 1937)

 

Anna May Wong có xin đóng vai O Lan (Ai Lan) trong Đất Lành nhưng không được toại nguyện. Vai này đã vào tay nữ diễn viên Mỹ gốc Đức Luise Rainer (sinh 1910, nay đã 101 tuổi đời, còn sống). Tuy nhiên, thay vì Luise Rainer và Paul Muni (Mỹ, gốc Áo-Hungary Do Thái, 1895-1967) chưa chắc O Lan và Wang Lung (Vương Long) do diễn viên da màu đóng sẽ tuyệt vời hơn, chí ít là vào thời điểm đó. Thậm chí, nếu được dàn dựng lại hôm nay với đạo diễn và diễn viên Trung Quốc trong cảnh trí thiên nhiên của nước Tàu thay vì quay tại phim trường của Hollywood, Đất Lành bản mới cũng không bảo đảm sẽ vĩ đại (cảnh giặc châu chấu tàn phá mùa màng) và hấp dẫn bằng—nói chi hay hơn—tác phẩm điện ảnh của đạo diễn Sidney Franklin. Nhưng giả dụ nếu có hay hơn thì sẽ là một cái “hay” khác, vẫn không thể xóa được tác phẩm cũ. Madame Bovary do Jennifer Jones đóng (Mỹ, 1949) rất cảm động, rất thuyết phục, ấn tượng hơn các đồng nghiệp quốc tế gồm các quốc gia sau đây: Pháp, Anh, Ý, Đức, Tây Đức, Ba Lan, Liên Xô, Á Căn Đình. Tôi xem phim này năm lên 12, 13 với chị tôi tại rạp Lê Lợi bình dân chiếu thường trực 15 đồng(?) một vé.

 

clip_image012[1]

Jennifer Jones
(Madame Bovary, poster, MGM, Mỹ 1949)

 

Ở trường chúng tôi có đọc và có viết chính tả vài trích đoạn trong cuốn tiểu thuyết nổi tiếng của Flaubert nên hai đứa thích mê tơi ngồi lại xem tới hai lần, đến chiều tối mới lấy buýt về nhà. Các phim màu sau này tuy hiện thực, chi tiết, dài hơn cuốn phim đen trắng một giờ rưỡi của Hollywood, vẫn không đạt tới cái tinh túy, cái hồn của tác phẩm văn học. Isabelle Huppert siêu sao Pháp trong vai bà Bovary mới đây không để lại cho tôi một ấn tượng lớn hay nhỏ nào. Madame Bovary, vì là một phụ nữ ngoại tình và vì sợ chạm “thuần phong mỹ tục” của Mỹ sẽ bị cấm chiếu, nên câu chuyện đã được “rào đón” bằng cách lồng nó vào phiên tòa xử nhà văn Gustave Flaubert (James Mason đóng) và tác phẩm của ông ta ở thế kỷ 19. Câu chuyện ngoại tình sẽ do chính tác giả kể lại trong phiên tòa để biện minh cho tác phẩm và nhân vật chánh với lời tuyên bố “Bà Bovary chính là tôi đây/Madame Bovary, c’est moi” lừng danh. Phim Ba Chàng Lính Ngự Lâm (The Three Musketeers, 1948) do các siêu sao Hollywood đóng tới nay vẫn còn là cuốn phim màu xuất sắc nhứt phỏng theo tác phẩm nổi tiếng của A. Dumas con.

 

clip_image014[1]

Jennifer Jones
(Madame Bovary, poster, MGM, Mỹ 1949)

 

clip_image016[1]

Edwige Fenech
(Die Nacke Bovary, Đức, 1969)

 

Tác giả Jessica Hagedorn viết: “Và nếu như chúng ta [phụ nữ Á Châu] không im lặng, như những tấm thảm lau giày khốn khổ ở ngay bậc cửa ra vào, chúng ta bị ‘quỷ hóa’ như những con rồng cái—thủ đoạn, gian dối, gợi dục. Cứ mang cho tôi những kẻ bị xem là quỷ bất cứ lúc nào—Anna May Wong trong vai ác tà, uốn éo như rắn trong áo xường xám ôm sát những đường cong, ít nhất là cũng mát con mắt của người xem, không hầu hạ mà cũng chẳng phục tùng ai.” Xin thưa: Anna May Wong có thể nọ kia trong Shanghai Express là do đòi hỏi của vai trò, chứ không phải là cá tánh thiệt, bản lãnh thiệt của cô ngoài đời. Trong trường hợp này thay vì ca tụng cá nhân Anna May Wong, lẽ ra tác giả Jessica Hagedorn phải ca ngợi Hollywood đã cho Anna May Wong đóng một vai như thế. Trong vai đó và nhìn từ phía Á Châu, Anna May Wong là hiện thân mới của Điêu Thuyền, Đắc Kỷ, Gái Liêu Trai trong truyện Tàu. Nhìn từ phía Hollywood thì đó là “version” Á Châu của Messaline, Salomé của lịch sử tây Phương, là “femme fatale” của Hollywood trong các film noir phỏng theo tác phẩm của các nhà văn Mỹ viết loại truyện trinh thám mới (pulp fiction) như Dashiell Hammett, Raymond Chandler, James M Cain, Horace McCoy… những cuốn truyện “hard boiled novels” hiện thực và phản ánh nước Mỹ thập niên 20-30.

Nếu Kiều Chinh đóng vai phụ nữ Tàu, thì Joan Chen và Haing S. Ngnor cũng đóng vai cha mẹ Việt Nam của Lệ Lý trong phim Trời & Đất (1993). Georgia Moll (Ý) đóng vai Phượng trong phim Người Mỹ Trầm Lặng (1954) vì ở Việt Nam lúc đó chưa có ai biết đóng phim. Marlon Brando đóng vai một người Nhựt tên Sakini với Kyo Machiko (Rashomon) trong phim hài The Teahouse of the August Moon (1956). Trong phim Sayonara (1957), Ricardo Montalbán siêu sao Mỹ gốc Mễ của các phim ca vũ nhạc Mỹ thập niên 40-50 được cho vào vai một nam nghệ sĩ kabubi—tên là Nakamura trong phim—chuyên đóng vai phụ nữ, để giới thiệu với khán giả Mỹ môn kịch cổ điển nổi tiếng của Nhựt Bổn. Chọn lựa như thế, có thể vì các nghệ sĩ kabuki lúc đó chưa biết nói tiếng Anh. Mà cũng có thể vì Hollywood cần một tên tuổi lớn và quen thuộc để câu khách, nhưng đó là cái quyền của họ. Nếu diễn viên Mỹ đóng vai người Nhựt mà thuyết phục được khán giả thì ô kê, chả sao hết. Đào kép cải lương của ta cũng đóng vai Lữ Bố-Điêu Thuyền, Kim Trọng-Thúy Kiều như ai. Ngoài ra, các diễn viên Hollywood không chỉ đóng vai người ngoại quốc trong phim Mỹ mà họ còn sang tận Âu Châu đóng vai người bản xứ, nói tiếng địa phương hay sẽ được lồng tiếng, như Doris Dowling (Riso Amaro/Gạo Đắng, 1949, Ý), Anthony Quinn và Richard Basehart (La Strada/Con Đường 1954, Ý). Chỉ xin kể sơ hai phim nổi tiếng nhứt vì còn nhiều, rất nhiều nữa.

 

clip_image017[1]clip_image018[1]

Giorgia Moll trong vai Phượng
(Người Mỹ Trầm Lặng, 1954)

 

Tác giả Jessica Hagedorn có thể đã quá ngây thơ trên bình diện tâm lý? Bởi lẽ, khán giả ai ai cũng dư biết Nancy Kwan không phải là Suzie Wong mà chỉ là đóng kịch, đóng phim. Những lời thì thầm hứa hẹn của Nancy Kwan/Suzie Wong (“Em chẳng đáng gì. Em sẽ ở bên anh cho đến khi anh nói: Suzie cút đi.”) chỉ là những lời tâm sự để làm vui lòng người yêu trong phút đó, chưa chắc chàng đã tin, mà cũng không nhứt thiết sẽ được giữ lời hay phản ánh đúng con người thật của Suzie hoặc các cô gái Hồng Kông/Á Châu buôn hương bán phấn mà Suzie Wong là “đại diện” bất đắc dĩ. Tác giả Jessica Hagedorn viết: “Nếu chúng ta ‘tốt’, thì chúng ta giống như trẻ nít, tuân phục, im thin thít, và luôn luôn sốt sắng chuyện làm tình (hãy xem màn trình diễn huy hoàng của France Nuyen trong vai Liat trong phim South Pacific (Nam Thái Bình Dương) còn nếu không thì chúng ta thuộc trong nhóm nạn nhân khốn khổ (xem Casualties of War – Vong Nạn Chiến Tranh, phim tàn bạo lấy bối cảnh Việt Nam của đạo diễn Brian de Palma chiếu năm 1989)”. Xin thưa: Trẻ con chưa chắc luôn luôn “tuân phục”, “im thin thít” và “sốt sắng”, xin kể ra để cho thấy tác giả Jessica Hagedorn luôn luôn sử dụng các hình ảnh đã sáo mòn (clichés), ưa diễn dịch, tổng quát hóa theo ý mình.

 

  clip_image019[1]
Michael J. Fox – Sean Penn
(Casualties of War, poster, 1989)

 

Xem phim Casualties of War (poster cho thấy anh lính G. I. tốt mỉm cười và anh lính G.I. xấu quát tháo) mà tác giả Jessica Hagedorn chỉ thấy “chúng ta là nạn nhân khốn khổ” thôi thì tội nghiệp quá. Casualties of War, qua một câu chuyện có thể thực sự đã xảy ra trong chiến tranh Việt Nam—bốn lính Mỹ vào làng bắt cóc một cô gái Việt Nam đi theo chúng, luân phiên hãm hiếp rồi bắn bỏ—là một phim chống chiến tranh và sự bạo tàn trong chiến tranh. Nếu thích diễn dịch thì ta có thể xem cô gái bị hành hạ thân xác là ẩn dụ cho Việt Nam để kết án không chỉ riêng chiến tranh Mỹ-Cộng mà chiến tranh nói chung. Tác giả Jessica Hagedorn viết tiếp: “Flower Drum Song (Tiếng Trống Hoa), bản nhạc trống này cũng như Suzie Wong, hoàn toàn là một sản phẩm thương mại của Mỹ (sic).” Ô hay, sản phẩm thương mại của Mỹ nếu không hoàn toàn là “của Mỹ” thì phải hoàn toàn là “của ai” nhỉ? “Của Mỹ” là một từ dư thừa, phải cắt bỏ, hay phải thay thế bằng “của Hyllowood” thì họa may mới có nghĩa. Nhưng như vậy cũng chưa ổn vì ngoại trừ các phim ngắn “court metrage” mươi mười lăm phút, có cuốn phim dài nào của bất cứ nước nào mà chẳng thương mại? Flower Drum Song trước khi thành phim là một ca kịch của hai tác giả Rogers và Hammerstein dựa theo tiểu thuyết (1957) của tác giả Mỹ gốc Hoa, Chin Yang Lee. Cả sách và phim ngày nay không còn hợp gu giới trẻ Á Châu ở Mỹ vì các nhân vật quá “hiền lành”. Sau đây là phản hồi của một khán giả da trắng trên mạng: “Một cuốn phim dễ thương, hay, rất hay, với bối cảnh là Phố Tàu ở San Francico, có nhiều bài hát đẹp, các nhân vật và diễn xuất tuyệt vời.” Tác giả Jessica Hagedorn lại viết: “Chúng tôi (Phi Luật Tân) không có phong tục geisha như Nhật Bản, nhưng vẻ đẹp của hình dáng bên ngoài vẫn được trân quí quá mức bình thường. Con gái xứ chúng tôi là những cô trinh nữ(?!) được canh chừng và chăm sóc để trở thành hoa hậu. Và rất nhiều người dân xứ tôi đã chấp nhận cái hình ảnh một người đàn ông da trắng là một đấng cứu rỗi đẹp trai: G.I. Joe (anh lính Mỹ).”

Ô hay (bis) lấy “phong tục” của xứ mình để đổ lỗi cho Hollywood là lấy râu bà nọ cắm dái ông kia. Anh lính Mỹ đẹp trai đã giải phóng Phi Luật Tân khỏi họng súng ác độc của anh lính Nhựt phát xít trong thế chiến thứ hai, tác giả Jessica Hagedorn không nhớ ơn thì thôi, cớ chi lại mai mỉa? Tiếc thay trong chiến tranh Việt Nam anh lính G.I. Joe đã bị nhóm trí thức cánh tả, sinh viên Mỹ hippi trốn lính, thích nghe nhạc rock, thích sử dụng ma túy để “make love not war” không ngớt xuống đường biểu tình phản chiến, ảnh hưởng tới dư luận thế giới khiến Washington và lính Mỹ bị trói tay nên Việt Nam mới ra nông nỗi. Chẳng còn bao xa, chỉ cần chờ vài năm nữa thôi, anh lính Khựa bành trướng sẽ tới viếng Manilla, tác giả Jessica Hagedorn sẽ tha hồ mà ca tụng. Xin thưa: Anh lính Mỹ đẹp trai G.I. Joe trong phim Hollywood không chỉ là một đấng cứu rỗi mà cũng là một đấng hiếp dâm. Xin kể ba ví dụ phim có lính Mỹ hiếp dâm gái địa phương nổi tiếng nhứt: Town Without Pity (gái Đức, 1961), Platoon (gái Việt, 1986), Casualties Of War (gái Việt, 1989). Ngoài ra còn có thêm phim Two Women (1960, phỏng theo một cuốn tiểu thuyết của nhà văn Ý Alberto Moravia) có lính Mỹ hiếp dâm phụ nữ Ý trong thế chiến thứ hai. Tuy là phim Ý-Pháp nhưng đã được Hollywood vinh danh với giải Oscar diễn viên xuất sắc cho Sophia Loren. Và còn nữa, dĩ nhiên.

Như đã nói ở trên, mại dâm là cái nghề cũ nhứt của nhân loại, đã có mặt khắp thế giới. Hy Lạp, La Mã thời cổ đại có cả hai loại mại dâm nam nữ được công khai chấp nhận. Hình ảnh giao hoan với kẻ bán dâm nam lẫn nữ đã xuất hiện trên các chiếc bình cổ Hy Lạp, trên tranh bích họa, thậm chí tranh treo tường. Ấn Độ, Trung Hoa, Nhựt Bổn ngày xưa cũng có “dâm họa” (eroctic art). Trong Thánh Kinh có cô gái điếm hoàn lương Mary Magdelena. Thế kỷ 19 có Sonya trong Tội Ác Và Hình Phạt của Dostoevsky. Nhưng bản gốc của gái điếm trong kịch, trong phim Hollywood ngày nay có thể là nàng Trà Hoa Nữ của Alexandre Dumas con. Trà Hoa Nữ của tiểu thyết Pháp (1848) đã trở thành La Traviata/Kẻ lạc lối của đại ca kịch (1852) của nhạc sĩ Giuseppe Verdi (Ý). Kế đến là đại ca kịch Madama Butterfly của Giacomo Puccini (Ý), phỏng theo truyện ngắn Madame Butterfly (1898) của John Luther Long (Mỹ) có thể đã dựa theo những biến cố có thiệt ở Nagasaki (Nhựt Bổn) vào khoảng đầu thập niên 1880. Một trăm năm sau Madame Butterfly hoá thành Miss Saigon vào cuối thập niên 1980 ở Luân Đôn. Nhìn chung, Hollywood như vậy chỉ là kẻ thừa kế và tiếp tục một truyền thống chuyện tình dị chủng. Hollywood thực ra không có một danh sách lê thê về “phụ nữ Á Châu/gái điếm” mà chỉ đi kể lại mãi một câu chuyện tình dị chủng đó, với hay không các biến thái.

 

clip_image021[1]

Ân ái với gái điếm – cốc đựng rượu nho Hy Lạp

 

Xin để qua một bên nhà thổ, nhà chứa gái của tây Phương (Pháp) vì ngoài đề. Bó chưn, che mặt, nhốt vào cung cấm, lãnh cung, giam lỏng trong nhà, ân ái ngàn lẻ một đêm thỏa thuê xong sáng hôm sau mang ra treo cổ, chặt đầu. Biến phụ nữ thành đồ chơi, thành nô lệ tình dục cho đàn ông là “văn hóa cổ truyền” của Á Châu, Trung Đông, tới nay vẫn chưa chấm dứt hẳn, không do Hollywood bịa đặt ra. Đắc Kỷ, Điêu Thuyền, Võ Tắc Thiên, Từ Hi Thái Hậu, gái liêu trai, geisha, cô đầu, Hồng Lâu Mộng, Cung Oán, Truyện Kiều… đã có mặt trước khi Hollywood ra đời. Mao Trạch Đông, Giang Thanh có thể là Fu Manchu, là Rồng Cái của nước Tàu đời nay, không do Hollywood sáng chế. Gái điếm là điểm tụ của tình dục, tình yêu, số phận, bất công, cấm kỵ, phạm giới, định mạng… nên luôn luôn có sức hút mãnh liệt. Tiếng ca ai oán cất lên trong đại ca kịch Madama Butterfly, trong ca kịch Miss Saigon là tiếng khóc, tiếng than, tiếng oán, tiếng hờn, tiếng trách. Mà cũng là lời yêu thương thống thiết, thể hiện tình mẫu tử và sự hy sinh chấp nhận chia ly để cho đứa con đi theo cha về Mỹ, sẽ có một cuộc đời tốt đẹp hơn đời mình, nên luôn luôn khiến khán giả khắp nơi bùi ngùi, rơi lệ.

Tình yêu là tột đỉnh của tình thương, có sức mạnh phi thường để vượt qua mọi thử thách (thù địch, giai cấp, chủng tộc, giới tính…). Trở ngại càng cao tình yêu càng lớn, càng bộc lộ, bộc phát. Tình yêu dịu dàng của đôi trai gái hàng xóm trong làng có thể chỉ là thói quen, là tình bạn trở thành tình yêu êm ái dịu dàng. Nhưng nếu có một kẻ lạ bỗng dưng xuất hiện (nghệ sĩ, trai thành, lính ngoại…) tạo ra một cuộc tình tay ba giằng co, biến cuộc gặp gỡ giữa kẻ lạ/gái làng thành tình yêu, thành đam mê, và cuối cùng thành định mạng thì sẽ lôi cuốn người nghe/đọc/xem, vì họ vừa là nhơn chứng vừa là kẻ tham dự. Khi cuộc tình cấm kỵ kết thúc bằng một hay hai cái chết thảm thương, kẻ đã được nghe/đọc/xem như tỉnh mộng/ác mộng, thấy mình vẫn còn sống. Vì còn sống nên sẽ hài lòng và sẽ hạnh phúc với kiếp sống/cuộc đời bình thường/tầm thường của chính mình, và đó là một trong các lý do khiến con người tìm đến với văn chương nghệ thuật, để được sống đến tận cùng và được chết mãnh liệt hơn. Hollywood sẽ thôi làm phim tình dị chủng ngay, nếu không còn khán giả.

Thay vì chê bai các phim cũ của Hollywood, sao tác giả/diễn viên Jessica Hagedorn không đóng phim, viết kịch bản mới, có các nhân vật nữ Á Châu “cứng rắn, bướng bỉnh, gợi cảm, ngu si, xinh đẹp, thích chọc giận, hèn nhát, anh dũng, và tầm thường. Trên hết, nàng có khả năng hồi phục và vươn dậy” cho Củng Lợi hay “vài diễn viên Á châu vùng Thái Bình Dương [...] đóng những vai thông minh, thành thật, và có chiều sâu”? Chắc chắn khán giả sẽ nô nức kéo tới xem chật rạp loại phim mới “phi-Hollywood” vinh danh phụ nữ Á Châu và chắc chằn sẽ đoạt giải Oscar dành cho phim ngoại quốc hay nhứt và diễn viên hay nhứt. Phụ nữ Á Châu “ngu si, hèn nhát, tầm thường” (Jessica Hagedorn) trong phim Á Châu thì ô kê, nhưng trong phim Hollywood thì là khinh khi, miệt thị. Như vậy có mâu thuẫn không nhỉ? Hollywood chỉ làm phim Hollywood, như vậy quá đủ rồi. Ai dị ứng thì đừng coi. Các tác phẩm đầu tay của Trương Nghệ Mưu, Trần Khải Ca có hiện thực, có phản ánh phần nào đời sống thực của Trung Quốc đương đại, đã được Âu Mỹ đón chào, nhưng trớ trêu thay đã bị cấm trong nước. Ngọa Hổ Tàng Long có thể là đỉnh cao của phim Tàu vì mấy năm nay chưa thấy có phim nào nổi tiếng bằng? Sau thời kỳ đầu có thể nói là “vàng son” nhưng rất ngắn ngủi, Trung Quốc giờ đây chỉ sản xuất phim dã sử hay phim chưởng hoàn toàn hư cấu, ngày càng tốn kém để ca tụng một nước Trung Hoa/Trung Quốc vĩ đại.

Một số đàn ông đàn bà gặp nhau trong một quán bar Los Angeles làm chuyện nọ kia là chuyện riêng của họ. Họ là một thứ hội viên của một Hội Quán, được trọn quyền làm những chuyện mà họ ưa thích. Họ không thể là đại diên cho tất cả người da trắng Mỹ và tất cả phụ nữ Á Châu. Sử dụng họ để tổng quát hóa, lý thuyết hóa rồi đùng đùng tiểu thư nổi giận múa bút viết một bài đầy “âm thanh và cuồng nộ” buộc tội đổ lỗi cho Hollywood là chỉ thấy cái bên ngoài, là nông cạn, thiếu suy nghĩ chín chắn. Tác giả Jessica Hagedorn viết: “Khi tôi đang trong tuổi mới lớn ở Philippines vào thập niên 1950, bộ óc tưởng tượng phong phú (người viết nhấn mạnh) của tôi đã bị đô hộ bởi những huyền thoại nguyên chất của Mỹ. Tôi bị hoang mang (người viết nhấn mạnh) và mê hoặc bởi những hình ảnh miêu tả phụ nữ Á châu đã bị Hollywood bóp méo [...]: Jennifer Jones là một bác sĩ Á lai Âu bị cuốn hút(?) vào một “chuyện tình dị chủng lãng mạn(?) và tan vỡ(?)” trong Love is a Many-Splendored Thing (Tình Yêu Lộng Lẫy Đa Màu). Ô hay. Nếu tác giả Jessica Hagedorn đã có “bộ óc tưởng tượng phong phú” thì chẳng có ai “đô hộ” nổi, nói chi Hollywood. Nếu đã bị “mê hoặc” thì đâu còn sáng suốt để mà “hoang mang”. Những huyền thoại nguyên chất của Mỹ? Phim Love Is a Many-Splendored Thing (hay Ngọn Đồi Vĩnh Biệt theo bản chuyển âm tiếng Pháp) và The World of Suzie Wong đều dựa vào tác phẩm tự truyện, không do Hollywood bịa đặt. Bóp méo? Xin lỗi, cũng… không đúng. Bóp tròn họa may. Bóp cho thành vòng eo số tám cho nó thêm xếch xy “ít nhất là cũng mát con mắt của người xem” (Jessica Hagedorn).

Như đã thượng dẫn, Hollywood đâu có bịa ra “chuyện tình dị chủng lãng mạn và tan vỡ” trong Love Is a Many-Splendored Thing (1955) mà chỉ phỏng theo cuốn truyện A Many-Splendored Thing (1955) của Hàn Xuyên (Han Suyin), một tiểu thuyết tự truyện best seller giữa thập niên 50, nghĩa là chuyện thật, đã được thế giới nồng nhiệt tán thưởng. Vị nữ bác sĩ Á lai Âu trong phim chính là Dr. Han Suyin. Năm 1949 Han Suyin gặp Ian Morrison một phóng viên chiến trường người Anh tại Hồng Kông. Họ yêu nhau. Một mối tình cấm kỵ. Vì Ian Morrison đã có vợ. Một năm sau Ian Morrison tử vong trong chiến tranh Triều Tiên. Các lá thư chàng viết cho nàng từ chiến trường tới chậm hơn hung tin. Nàng mang các lá thư lên ngọn đồi cũ nơi họ đã chia tay đọc lại. Jennifer Jones thể hiện vai nữ bác sĩ rất duyên dáng tuyệt vời, thùy mị mà trí thức, gọp đủ hai đức tích văn minh và truyền thống của Âu-Á. Han Suyin không phàn nàn gì về cuốn phim ăn khách đó thì cớ chi tác giả Jessica Hagedorn phải động lòng nghĩa hiệp?

 

clip_image027[1]
Jennifer Jones – William Holden
(Love Is a Many-Splendored Thing, 1955)

 

clip_image029[1]

 

clip_image031[1]

 

Phim The World of Suzie Wong (1960) do Paul Osborn (Hollywood) viết kịch bản phỏng theo một vở kịch do David Merrick đạo diễn trên sân khấu Broadway năm 1958 với France Nuyen trong vai Suzie Wong. Khi sang West End Luân Đôn năm sau, 1959, Suzie Wong do diễn viên Tsai Chin đóng. Kịch bản Mỹ phỏng theo một cuốn truyện (1957) của Richard Mason (1919-1997) một nhà văn người Tô Cách Lan (Anh). Khi chuyển thành phim vai chính được giao cho France Nuyen nhưng vì cô “starlet” này kiêu hãnh, khó tánh, hay cãi cọ nọ kia, tới phim trường trễ, nên cuối cùng đã bị Nancy Kwan thay thế, mất cơ hội ngàn vàng để trở thành siêu sao. Tôi nhớ dạo đó ở Sài Gòn—lúc tôi đang học sư phạm—có tin đồn France Nuyen là gái Việt lai Pháp tên thật là France Nguyễn, khi ở miền Nam nước Pháp (Côte d’Azur) đã từng là nhân tình(?) của Bảo Đại và nàng đã tát tai ông vua cuối cùng của triều Nguyễn.

Thập niên 80-90 Hollywood đã cho ra mắt nhiều phim về Á Châu không có “gái điếm” hay phụ nữ da vàng “như tấm thảm lau giày khốn khổ”. Ví dụ: Rambo:First Blood Part II (diễn viên Hawaii đóng vai gái Việt, 1985), Heaven & Earth (diễn viên Lê Thị Hiệp, 1993), Red Corner (Richard Gere và Ling Bai diễn viên Trung Quốc trong vai nữ trạng sư, 1997), A Bright Shining Lie (chiến tranh Việt Nam và chuyện tình của John Paul Vann với một cô giáo Việt Nam dạy tiếng Anh do Vivian Wu đóng, 1998), sao không thấy tác giả Jessica Hagedorn nhắc tới? Thiển nghĩ của tôi lả điện ảnh—Hollywood nói riêng và quốc tế nói chung—ngoại trừ vài trường hợp lẻ tẻ, là một bộ môn nghệ thuật tập thể, sử dụng nhân tài của nhiều quốc gia cho nên ta không nên vạch lằn ranh quá rõ rệt giữa chủng tộc màu da, hoặc quá khắt khe đòi hỏi nọ kia quá nhiều. Điện ảnh là nghệ thuật kể chuyện, phần lớn là truyện hư cấu, dù có thể phản ánh đời thật và đời thường, nhưng không bao giờ—mà cũng chẳng cần phải—đúng thật trăm phần trăm. Khán giả không ngu si, khi vào ngồi trong bóng tối của rạp hát trước tiên là để mơ mộng. Do các lý lẽ đã kể, gái điếm là nhân vật hàng đầu để diễn viên trổ tài diễn xuất nên ít có ai dám… em chả. Tính sổ tay, tôi thấy gái điếm Á Châu trong phim Mỹ chỉ đếm được trên mười đầu ngón tay. Gái làng chơi da trắng do các diễn viên, siêu sao Hollywood thể hiện thì đã có tới cả trăm. Đó là chưa kể phim Âu Châu, Nam Mỹ. Để tránh dài dòng và chiếm chỗ quá nhiều, tôi xin cung cấp một danh sách ngắn. Kể theo trí nhớ, không theo thứ tự trước sau, không nhớ năm phim ra đời. Nhưng độc giả vẫn có thể tìm kiếm thêm trên mạng nếu muốn:

Gloria Swanson (Sadie Thopson), Joan Crawford (Rain), Bette Davis (Of Human Bondage), Greta Garbo (Anna Christie), Anne Baxter (The Razor’s Edge), Claire Trevor (Key Largo), Marlene Dietrich (Shanghai Express), Vivien Leigh (A Streetcar Named Desire), Leslie Caron (The L-Shaped Room), Elizabeth Taylor (Butterfly 8), Kim Novak (Of Human Bondage), Donna Reed (From Here to Eternity), Capucine (North to Alaska, Walk on the Wild Side), Shirley Jones (Elma Gantry), Shirley MacLaine (Some Came Runing, Irma La Douce), Cloris Leachman (Butch Cassidy and the Sundance Kid), Jodie Foster (Taxi Driver, gái điếm vị thành niên), Jane Fonda (Klute), Brooke Shields (Pretty Baby, gái điếm vị thành niên), Mary Stuart Masterson (Bad Girls), Pamela Sue Martin (Lady in Red), Sharon Stone (Casino), Debra Winger (Cannery Row), Elizabeth Shue (Leaving Las Vegas), Susan Sarandon (Pretty Baby), Theresa Russell (Whore), Kim Basinger (L.A. Confidential), Dolly Parton (The Best Little Whore House in Texas), Jennifer Jason Leigh (Last Exit to Brooklyn), Charlize Theron (Monster), Jamie Lee Curtis (Trading Places), Melanie Griffith (Milk Money), Julia Roberts (Pretty Woman), Briget Fonda (Scandal), Gwyneth Paltrow (Hard Eight), vân vân và vân vân.

 

clip_image033[1]
Richard Gere – Julia Roberts
(Pretty Woman, 1990)

 

Tất nhiên Hollywood đôi khi/nhiều khi cũng có nói láo/cũng cần nói dối, hay chỉ nói phân nửa sự thật như… mỗi chúng ta. Trần thế sẽ trở thành địa ngục nếu không còn ai biết nói dối. Tuy nhiên, nếu người viết muốn tố cáo buộc tội hay chỉ “đặt vấn đề” thì trước nhứt phải nghiên cứu kỹ lưỡng trước khi đặt bút viết. Nói tóm lại, Hollywood có thể nọ kia kia nọ nhưng mỗi phim Hollywood đều có cái tốt và cái xấu, có giá trị nhân văn—chí ít là theo quan điểm, lý tưởng Hollywood và trong các cuốn phim cũ đã được/bị tác giả Jessica Hagedorn lôi ra đấu tố—vì đó là mục tiêu của các “ông tổ” đã sáng lập Hollywood, mong tạo ra một thú tiêu khiển bình dân dành cho đám đông quần chúng di dân sang Mỹ lúc ấy còn nghèo khó, thất học, không có phương tiện, thì giờ, tri thức để xem kịch, đại ca kịch (opera), nghe nhạc trình tấu, đọc sách… các thú tiêu khiển đắt tiền và tốn kém thì giờ của giai cấp thượng lưu. Nhân vật “hề Charlot” do chàng nghệ sĩ Luân Đôn nghèo khổ Charlie Chaplin di cư sang Mỹ sáng chế và đóng vai trong các phim câm 15 phút, nửa giờ để vừa chọc cười vừa gây xúc cảm là với mục đích ấy—và chung cuộc với kỹ thuật ngày càng tân tiến điện ảnh đã trở thành Nghệ Thuật Thứ Bảy bao gồm mọi nghệ thuật.

Do vậy, tôi viết bài này không để bào chữa binh vực Hollywood, bởi lẽ rất giản dị là Hollywood không cần một thầy cãi không có thân chủ như tôi. Cái láo của Hollywood nếu to sẽ bị la ó, nếu nhỏ sẽ được châm chước bỏ qua do thông cảm hay vì… khán giả lực bất tùng tâm. Tôi viết bài này cũng không với mục đích chơi dại đâm cái cối xay gió là tác giả Jessica Hagedorn—xin lỗi mỹ nhân về cái ẩn dụ hơi bị kém thẩm mỹ này. Vậy thì tại sao tôi viết? Xin thưa: Để bổ sung, để trình bày cả hai mặt của đồng tiền/cuốn phim cho các độc giả/khán giả Việt Nam có thể vì dễ tính, dễ thuyết phục, dễ bị “tự ái quốc gia” suy gẫm thêm. Điện ảnh của phim truyện—có thể khẳng định rằng thể loại này đã phát xuất từ kinh đô chiếu bóng Hollywood nơi tập trung nhiều tài năng trong lĩnh vực sáng tạo—đã gây ảnh hưởng dây chuyền qua lại khắp năm châu bốn bể. Qua những thăng trầm theo thời gian và thời cuộc, dù sao Hollywood vẫn đứng vững, vẫn còn gây xúc động, ngạc nhiên, hứng thú mỗi năm. Hollywood đã, đang và sẽ còn có những đóng góp, nếu không luôn luôn xuất sắc thì cũng đáng kể cho nhân loại—trong khi các nền điện ảnh một thời vang bóng như Pháp, Ý, Nga, Đức, Nhựt, Thụy Điển, Mễ Tây Cơ… nếu chưa hấp hối, chưa mai một hẳn, thì cũng ngày càng bị sa sút. Tóm lại, ta có thể thoải mái tuyên bố mà không sợ sai: Hollywood còn điện ảnh còn.

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Đăng Thường


7 bình luận »

  • Tin 19-3-2011 « BA SÀM viết:

    [...] Nguyễn Đăng Thường: Hollywood, phụ nữ Á châu & phê bình — (Da [...]

  • Anhbasam Điểm Tin 19-3-2011 « doithoaionline viết:

    [...] Nguyễn Đăng Thường: Hollywood, phụ nữ Á châu & phê bình — (Da [...]

  • Đặng Hữu Phúc viết:

    Bài viết Hollywood, Phụ nữ Á châu & Phê bình thật là tuyệt vời.
    Đã gần 50 năm, thuyền đứng bờ trôi, bóng dáng hào hoa phong nhã của giáo sư Pháp văn Chu Văn An , lại hiện về trên Da màu, với bài viết thật tuyệt vời , với những hình ảnh thật tuyệt vời ,nói về cuộc đời và sống trọn cuộc đời đâu phải chuyên chơi,– đàn mang tên đáy nhưng không đáy , đã đứt rồi chăng sợi nhớ thương? ( thơ Vũ Hoàng Chương)và diễn bày chính lí với hồn thơ Nhớ R.( Thơ Nguyễn Đăng Thường 28.2. 11 Da màu)

    Hỡi đất ,hỡi trời
    Linh hồn nào không chơi vơi?

    Hỡi phường, hỡi phố
    Linh hồn nào không phẫn nộ?

    Hỡi bướm, hỡi hoa
    Linh hồn nào không sa đoạ?

    Hỡi Thiên Đàng, hởi Địa Ngục
    Linh hồn nào không lang thang?
    ( Nguyễn Đăng Thường)

    Có hai câu thơ của Thâm Tâm ,
    xin gửi đến những tài tử giai nhân
    đã xuất hiện trong bài viết và trong poster phim ảnh minh họa của nhà thơ NĐT :

    Đìu hiu ngoài bãi gió tịch dương
    Bay vàng đôi lối nhớ càng thương

    Hai câu thơ này cũng là để tưởng nhớ đến nhà thơ Nguyễn Đăng Thường– tác giả của câu thơ

    Bác Hổ đi rồi, Bác Thường chưa đi

    nếu một mai Bác Thường ra đi .

    Bác Hổ ( dấu hỏi) là nickname của Bác Hồ , do Bác Thường thân mến tặng Bác Hồ. Gọi Bác là Bác Hổ cũng chí lí: Bác Hổ đã vào Hà nội âm thầm lặng lẽ trong bóng đêm , sau ngày 10/10/54 là ngày giao Hà nội cho CS và Bác vào Hà nội
    ngày nào sử sách CS không xác định.
    Nói đến Bác Hổ ở đây là vì bài viết có nói đến thân phận phụ nữ Á Châu và Việt nam.

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Mến chào anh Đặng Hữu Phúc!

    Anh viết: “Đã gần 50 năm, thuyền đứng bờ trôi, bóng dáng hào hoa phong nhã của giáo sư Pháp văn Chu Văn An, lại hiện về trên Da Màu, với bài viết thật tuyệt vời, với những hình ảnh thật tuyệt vời, nói về cuộc đời và sống trọn cuộc đời đâu phải chuyện chơi…” Gần năm mươi năm đã trôi qua rồi, cái “bόng dáng hào hoa phong nhã” tôi e nay chỉ còn “hoa nhã” trong trí nhớ của chúng ta mà thôi! Hihi. Dù sao thì cũng xin cám ơn anh rất nhiều.

    Anh viết phản hồi tặng tôi rất tuyệt vời. Anh trích thơ Vũ Hoàng Chương, thơ Thâm Tâm rất tuyệt vời. Anh nόi về Đạo Phật, Thiền Tông rất tuyệt vời. Nόi tόm lại, chúng ta “tuyệt vời nhau qua lại” như thế này chắc cό độc giả đã bĩu môi bịt mũi lắc đầu: “thầy hát trò khen hay, trò ca thầy khen tuyệt”.

    Tôi không thích thơ Vũ Hoàng Chương. Tôi không thích thơ Nguyên Sa. Tôi không thích nhạc Trịnh Công Sơn. Tôi không thích thơ Nguyễn Đăng Thường. Nhưng tôi trân trọng tài năng và con người nghệ sĩ của các ông Chương, Sa, Sơn. Nόi tόm lại, anh và tôi tuy cό những gu khác biệt nhau nhưng chúng ta vẫn cό thể “tương ngộ/tương phùng” trên mạng Da Màu và các mạng khác.

    Vũ Hoàng Chương là giáo sư văn, là ông thầy hiền lành, khả kính, nổi tiếng nhứt Chu Văn An dạo ấy, nếu không kể Nguyên Sa và Đỗ Quí Toàn. Tôi cό viết về một kỷ niệm nho nhỏ ở Chu Văn An cό liên quan đến ông Vũ-Thơ Say trong một bài nhận định hay phỏng vấn khá lâu rồi nên không còn nhớ rõ.

    Tôi viết về những điều mắt thấy tai nghe khi chẳng đặng đừng, dù cό tự kiểm duyệt, nhưng tánh tôi ưa nόi thẳng nόi thiệt nên đã gây dị ứng không nhỏ ở vài độc giả. Viết, vì thấy cần phải viết. Viết, vì chưa rơi xuống đáy của “tuyệt vọng” nên ngôn ngữ/ngôn từ chưa “rực rỡ”. Không lượm thượm, không khό/khổ đọc quá và cό người đọc là mừng nhiều rồi.

    Người xưa cό nόi : “Ngồi vào bàn bạc mà chơi ai không muốn được”, nhưng cá nhân nhỏ bé – bé nhỏ thiệt – của tôi khi nhảy vô sân chơi thì chỉ thích chơi, nếu không quá lười, mà không cần “được”. Còn nhảy nhόt được, còn cười cợt được, còn chơi chọc được, còn vui còn buồn được lúc nào hay lúc nấy. Do dậy, dù bạn bè vẫn muốn in một cuốn thơ NĐT chơi nhưng tới nay tôi vẫn chưa gật.

    Thân ái.

  • Đặng Hữu Phúc viết:

    Kính chào GS Nguyễn Đăng Thường
    Tôi khen bài viết của GS tuyệt vời , các hình ảnh minh họa tuyệt vời và được Gs tuyệt vời khen lại ” thầy hát trò khen hay, trò ca thầy khen tuyệt”.
    Thiệt ra , đây không phải là văn chương huề vốn. Với tôi,thơ văn có đọc qua chút ít , mấy ý thơ , ý văn , có nhớ chút ít , nên khi được Gs khen quá mức như vậy , cũng thấy ngượng ngùng vì vốn một , lời muôn.

    Chân thành cảm ơn GS đã ghi lại câu viết mở bài của tôi, nhất là câu…nói về cuộc đời và sống trọn cuộc đời đâu phải chuyện chơi”. Tôi còn đang bối rối vì tôi ý viết– ” chuyện chơi” mà sao nó lại thành” chuyên chơi”, làm ý nghĩa có thể khác xa với ý định nói. Dĩ nhiên GS biết mấy chữ này từ một bản dịch bài thơ Hamlet trong truyện Bác sĩ Zhivago.

    Tôi cũng đoán GS khen tôi lu bù một phần là ở 8 chữ mở đầu — “Đã gần 50 năm, thuyền đứng bờ trôi,..”

    Thuyền đứng bờ trôi, là những cảm hoài của tất cả chúng ta , từng người , từ những ngày bé thơ cho tới lúc tuổi già nhìn về cố lý và cũng là từ trong kinh Viên Giác– do mây bay mau thấy mặt trăng đi nhanh, do thuyền đi thì thấy bờ trôi.

    Tôi rời Việt nam bằng thuyền 17.5.85 nên lòng cảm hoài thuyền đi thì thấy bờ trôi mênh mông vô hạn.

    GS có viết : ” Một số đàn ông đàn bà gặp nhau trong một quán bar Los Angeles làm chuyện nọ kia là chuyện riêng của họ… Sử dụng họ để tổng quát hoá , lí thuyết hoá rồi đùng dùng tiểu thư nổi giận múa bút viết một bài đầy ” âm thanh và cuồng nộ” buộc tội đổ lỗi cho Hollywood là chỉ thấy cái bên ngoài , là nông cạn , thiếu suy nghĩ chín chắn.”
    Lí luận và diễn giải này thiệt là hay, nên xin gửi đến GS và độc giả Da màu tâm tình của Macbeth:

    Life’s but a walking shadow, a poor player
    That struts and frets his hour upon the stage
    And then is heard no more. It is a tale
    Told by an idiot, full of sound and fury,
    Signifying nothing.

    Nếu GS có thể dịch thơ trên ( từ She should have died hereafter) để độc giả cùng thưởng thức, xin muôn vàn cảm tạ.
    Kính
    Đặng Hữu Phúc , Sydney.

  • Nguyễn Đăng Thường viết:

    Kính thưa anh Đặng Hữu Phúc,

    Anh tung chưởng mới độc quá nên “thầy” phải phất… cờ trắng. Tôi mà đụng tới Shakespeare thì cό khác gì anh Tây anh Mỹ dịch Nguyễn Du!

    Từ nguyên tác:

    Life’s but a walking shadow, a poor player
    That struts and frets his hour upon the stage
    And then is heard no more: it is a tale
    Told by an idiot, full of sound and fury,
    Signifying nothing.
    (Shakespeare, Macbeth, Act V, Scene V.)

    Sau đây là hai bản dịch “chánh thức”, Việt và Pháp:

    “Đời chỉ là một chiếc bόng thoáng qua, một thằng hề tội nghiệp, hò hét quay cuồng trên sân khấu trong giây phút, rồi lặng tiếng im hơi, người đời không còn nghe thấy nữa… Đό là một câu chuyện do một thằng ngốc kể, cũng đủ cả hò hét cuồng nộ, nhưng nào cό nghĩa gì đâu.”
    (William Shakespeare, Tuyển tập tác phẩm, Trung tâm Văn hόa Ngôn ngữ Đông Tây, 2006, Hà Nội.)

    “La vie n’est qu’un fantôme errant, un pauvre comédien qui se pavane et s’agite durant son heure sur la scène et qu’ensuite on entend plus; c’est une histoire dite par un idiot, pleine de fracas et de furie, et qui ne signifie rien.” Tạm dịch: “Đời chỉ là một bόng ma lang thang, một anh kép hài đáng thương khệnh khạng bước ra sân khấu ba hoa múa may lúc cό mặt rồi chẳng còn ai nghe thấy nữa, một câu chuyện do một thằng khờ kể lại, rổn rảng và đầy cuờng nộ, không cό nghĩa gì cả.”
    (Bản chuyển ngữ tiếng Pháp của F.V. Hugo trong Shakespeare Hamlet/Othello/Macbeth, Livre de Poche & Librairie Générale Française, 1984, Paris.)

    Và chόt hết là bản dịch hay nhứt, tất nhiên từ dưới đếm lên:

    Đời chỉ là chiếc bόng câu, một anh kép hài đáng thương
    Khệnh khạng bước ra sân khấu ba hoa múa may
    Trong lúc xuất hiện rồi thôi: một câu chuyện
    Từ cửa miệng một thắng khờ ú ớ ầm ã cuồng nộ
    Hoàn toàn vô nghĩa.
    (Nguyễn Đăng Thường)

    Thân ái.

  • ninh_mai viết:

    Không hiểu trao đổi giữa hai bác NDT (tác giả) và Đặng Hữu Phúc có liên quan gì đến bài viết, hay chỉ là “thầy hát trò khen hay, trò ca thầy khen tuyệt”. Thiết nghĩ, hai bác có thể thư qua thư lại dùng email cá nhân thay vì qua trang mạng damau.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)