Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Phụ Nữ Á Châu Trong Phim Ảnh: Không hả hê, Không May Mắn[1]
Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Điện Ảnh, Giới Tính, Sang Việt ngữ Email bài này

Phụ Nữ Á Châu Trong Phim Ảnh: Không hả hê, Không May Mắn[1]


♦ Chuyển ngữ:
6 bình luận ♦ 4.03.2011

 

Lời Giới Thiệu: Tại sao phim ảnh dường như luôn miêu tả phụ nữ Á châu toàn là những nạn nhân khốn khổ của lịch sử và định mệnh? Jessica Hagedorn (sinh năm 1949) đã đặt câu hỏi này trong bài tiểu luận đăng trên tạp chí Ms. Ngay cả một cuốn phim như The Joy Luck Club (Câu Lạc Bộ Hỷ Lộc), dựa vào tiểu thuyết ăn khách của Amy Tan, cũng củng cố cái thành kiến sáo mòn về sự nhu nhược của người Á châu và phụ nữ Mỹ gốc Á châu. Là tác giả chuyên viết phim kịch và tiểu thuyết, Hagedorn kêu gọi một cách kể truyện khác, bằng cách miêu tả phụ nữ Á châu là những người có bản lĩnh và có thể tự kiểm soát vận mệnh của họ. Tác phẩm đã xuất bản của Hagedorn gồm có: truyện dài Dogeaters (1990), The Gangster of Love (1996), Dream Jungle (2001); tuyển tập thơ Danger and Beauty (1993); Charlie Chan Is Dead: An Anthology of Contemporary Asian American Fiction (1993); và kịch bản phim Fresh Kill (1994).

 asianwomeninfilms

 

Viên ngọc Viễn Đông. Điếm. Kỹ nữ. Thứ thiếp. Điếm. Tiếp đãi viên. Gái Bán Ba. Tú Bà. Điếm. Búp Bê Trung hoa. Đóa Hồng Tokyo. Điếm. Madame Butterfly. Điếm. Miss Sài Gòn. Điếm. Rồng Cái. Hoa sen. Gook[2]. Điếm. Cu li. Điếm. Núi lửa Bangkok. Điếm. Gái phục vụ. Điếm. Nô lệ tình dục. Điếm. Mọi rợ. Điếm. Gái nóng.  Điếm. Không diện mạo. Điếm. Men sứ (dễ vỡ). Điếm. E lệ. Điếm. Trinh nữ. Điếm. Câm. Điếm. Thiểu số Gương mẫu. Điếm. Nạn nhân. Điếm. Nữ Chiến sĩ. Điếm. Cô dâu đặt hàng. Điếm. Mẹ. Vợ. Người Yêu. Con gái. Em gái.

hagedorn

Nhà văn/kịch sĩ Jessica Hagedorn

Khi tôi đang trong tuổi mới lớn ở Philippines vào thập niên 1950, bộ óc tưởng tượng phong phú của tôi đã bị đô hộ bởi những huyền thoại nguyên chất của Mỹ. Nét đẹp ngoại lai gợi cảm, thấm nhập qua cách diễn dịch da vàng, đã được tôn dương, vượt ra khuôn khổ đời thường.  Tôi bị hoang mang và mê hoặc bởi những hình ảnh miêu tả phụ nữ Á châu đã bị Hollywood bóp méo: những nữ thần sang trọng và độc ác với cặp mắt xếch và khéo léo đến xảo quyệt, hoặc là các em “trinh nữ” vùng biển Nam quấn sà rông tươi cười với đường cong ngúng nguẩy, tóc đen gợn sóng, và làn da trắng được hóa trang thành ngâm đen bằng mỹ phẩm. Hiếm khi những nhân vật “Á châu” này được người Á châu trình diễn. Các nam diễn viên da trắng như Sidney Toler và Warner Oland đóng vai chàng “thám tử bí hiểm Á Đông” Charlie Chan với đuôi mắt  được dán keo làm cho xếch cao và giọng nói chop suey[3] líu lo, đứt quoãng. Jennifer Jones là một bác sĩ Á lai Âu bị cuốn hút vào một “chuyện tình dị chủng lãng mạn và tan vỡ” trong Love is a Many Splendored Thing (Tình Yêu Lộng Lẫy Đa Màu). Vào thời mẹ tôi còn trẻ, nữ diễn viên da trắng Luise Rainer được mời đóng vai Người Vợ Trung Hoa Kiên Nhẫn trong phim Đất Lành (The Good Earth) vào năm 1937, dựa trên quyển tiểu thuyết cùng tên của Pearl Buck. Vào thời ấy chẳng mấy ai chất vấn tại sao; họ đều rối rít biết ơn Hollywood khi thấy bất cứ diễn viên nào trong phim chỉ thoáng giống họ.

Cắt sang năm 1960: The World of Suzie Wong (Thế Giới của Suzie Wong), lại thêm một chuyện tình đẫm lệ Đông/Tây. Tôi bấy giờ đã đủ lớn khôn để có ấn tượng. Hấp dẫn, đầy bản lĩnh, Suzy (thủ vai bởi nữ tài tử Nancy Kwan) hành nghề trong quán rượu phục vụ đám thủy thủ da trắng, nhưng dường như chẳng hề bị ai quấy. Là một cô gái siêng năng chăm chỉ, buổi tối lại chuyển qua nghề làm điếm để nuôi đứa con thơ, không hiểu sao nàng có khả năng chưng diện những bộ quần áo xa xỉ làm người ta chóa mắt sững sờ trong hầu hết các màn trong phim, thậm chí quần áo cũng hòa hợp cùng kiểu cùng màu với ví tay và giày. Các anh thủy thủ cũng thuần túy là kiểu mẩu của Hollywood, sạch sẽ lành mạnh và không có vẻ gì đe dọa đáng sợ. Suzie và các cô điếm khác trong phim này đều xinh xắn, cười đùa khúc khích, và họ là những người làm tình không biết mệt, biết khiêu vũ và có trái tim vàng. William Holden đóng vai một anh chàng chân thật, coi bộ đạo đức. Chàng là họa sĩ chính tâm đi tìm cảm hứng ở đối tượng Kẻ Lạ. Dĩ nhiên, Suzie yêu anh chàng say đắm. Nàng luôn luôn bảo chàng, “Em chẳng đáng gì,” và “Em sẽ ở bên anh cho đến khi anh nói – Suzie, cút đi.” Nàng cũng cho rằng chuyện bị đàn ông đánh đập là dấu hiệu của sự đam mê thực thụ và rất là thất vọng khi chàng họa sĩ đức độ một mạch từ chối không biểu lộ nỗi đam mê của chàng.

Nancy Kwan in FLOWER DRUM SONG

Nữ tài tử Nancy Kwan trong phim Flower Drum Song

Tiếp nối sự nghiệp ngắn ngủi nhưng đáng nhớ của Nancy Kwan là một vở nhạc kịch ngắn năm 1961 có tên là Flower Drum Song (Tiếng Trống Hoa), bản nhạc trống này cũng như Suzie Wong, hoàn toàn là một sản phẩm thương mại của Mỹ. Các vai nữ theo đúng khuôn mẩu nhạc kịch Hollywood thời bấy giờ; phụ nữ thường ngây ngô, hầu hạ đàn ông. Người đóng vai đối lập với Kwan là một cô gái Trung hoa ngoan ngoãn, do Miyoshi Umeki thủ vai, cũng là diễn viên trong vai sâu sắc hơn, là vai cô gái Nhật trung hậu trong phim Sayonara. Bạn còn nhớ phim đó không? Trong Sayonara, Umeki quá trung thành, nên cô đã cùng tự tử với diễn viên Red Buttons. Trong tiềm thức tôi đã ghét Sayonara khi xem nó lần đầu lúc còn bé; bây giờ thì tôi hiểu tại sao. Đưa ra những giải pháp bi thảm là cách duy nhất Hollywood có thể thoát khỏi sự kiểm duyệt của thời ấy. Với một hai trường hợp ngoại lệ, một người nào đó trong những bộ phim này luôn luôn phải chết để trả giá cho việc vi phạm những điều cấm kỵ về tình dục và chủng tộc.

Myoshi Umeki and Red Buttons Myoshi Umeki và Red Buttons trong phim Sayonara

Chỉ đến khi gần đây mới có sự tràn ngập của phim ảnh do các nhà làm phim người Á châu và người Mỹ gốc Á châu, phụ nữ của khu vực Thái Bình Dương, trong mắt của Hollywood là một hỗn hợp của lôi cuốn, sợ hãi, và khinh miệt. Phần lớn phim ảnh của Hollywood biến chúng ta–những người da màu và phụ nữ–thành những người tầm thường nhỏ mọn hoặc một thứ của lạ. Trí thông minh của chúng ta bị đánh giá thấp, tính nhân bản của chúng ta bị bỏ quên, và nền văn hóa đa dạng của chúng ta trở thành nhập nhằng, vì người làm phim thường lấy tính chất của văn hóa này quàng cho quốc gia kia. Nếu chúng ta “tốt,” thì chúng ta giống như trẻ nít, tuân phục, im thin thít, và luôn luôn sốt sắng chuyện làm tình (hãy xem màn trình diễn huy hoàng của France Nuyen trong vai Liat trong phim South Pacific (Nam Thái Bình Dương) còn nếu không thì chúng ta thuộc trong nhóm nạn nhân khốn khổ (xem Casualties of War – Vong Nạn Chiến Tranh, phim tàn bạo lấy bối cảnh Việt Nam của đạo diễn Brian de Palma chiếu năm 1989). Và nếu như chúng ta không im lặng, như những tấm thảm lau giày khốn khổ ở ngay bậc cửa ra vào, chúng ta bị “quỷ hóa” như những con rồng cái – thủ đoạn, gian dối, gợi dục. Cứ mang cho tôi những kẻ bị xem là quỷ bất cứ lúc nào – Anna May Wong trong vai ác tà, uốn éo như rắn trong áo xường xám ôm sát những đường cong, ít nhất là cũng mát con mắt của người xem, không hầu hạ mà cũng chẳng phục tùng ai. Nàng còn “cướp màn” của Marlene Dietrich trong vở Shanghai Express (Thượng Hải Tốc Hành) đạo diễn bởi Josef von Sternberg. Từ những năm 1920 cho đến 1930, Wong là “minh tinh” nữ độc nhất của chúng ta. Nhưng ngay cả nàng cũng bị đầy ải trong những vai mọn, những vai mà nhà làm phim Renee Tajima đã gọi là lưỡng thể rồng cái/hoa sen.

NPG x68812, Anna May WongNữ tài tử Anna May Wong (ảnh của Francis Goodman, chụp năm 1933)

Cắt sang năm 1985: Có một cảnh ở gần cuối cuốn phim đầy dối trá nhưng thu hút kỳ lạ của Michael Cimino có tựa đề là Year of the Dragon (Năm Thìn) viết chung với Oliver Stone, đoạn phim này cũng là một trong những đoạn phim tréo ngoe mà tôi thích nhất. Nếu bạn hỏi các bạn của tôi, nhiều người đã xem phim này (đặc biệt nếu họ là người Á châu), thì đoạn phim này cũng là đoạn họ thích nhất. Bối cảnh phim là một hộp đêm trong khu phố Tàu đông nghẹt người. Trong phim có hai cô gái du đãng rất trẻ của băng Rắn Hổ đang bắn nhau với Mickey Rourke, trong vai một anh cảnh sát Mỹ gốc Ba Lan điên điên, cho dù là một tên xấu trai kiêu ngạo, khinh thị phụ nữ, hiếp đáp kẻ yếu, chẳng chút gì là hấp dẫn– thế mà lại chinh phục được trái tim của một ký giả truyền hình, cô nàng Mỹ gốc Á châu thuộc loại gái ngoan, trong đoạn kết của cuốn phim lố bịch và đầy phi lý. Đây là loại phim mà ngay lúc mở đầu đã rào đón, biện hộ, đề phòng sự phản đối của người xem về cái thành kiến quơ đũa cả nắm khi miêu tả người Á châu.

Sự thú vị trong cái ngang ngược của các nữ du đãng phố Tàu trong phim Năm Thìn là một cú trả thù nhỏ bé của tôi, để đáp lại sự áp bức văn hóa của tất cả các cô Suzie Wong, những nhân vật nữ có thái độ “Em muốn được làm nô lệ của chàng”. Các nữ du đãng  trong băng Rắn Hổ chỉ là một phông cảnh mờ nhạt so với anh chàng da trắng vai chính, tâm điểm của ống kính trong phim của Cimino. Nhưng nhiều năm sau, khi cuốn phim bị lãng quên trong kho của nhà cho thuê phim, các nữ du đãng băng Rắn Hổ vẫn mãi là một hình ảnh phản kháng sáng ngời trong ký ức tôi, khoe đường cong trong những tấm áo óng ánh bó sát người với mái tóc mào gà nhuộm xanh đỏ chói chang.

Doreen ChanNữ du đãng Doreen Chan trong phim Year of the Dragon

Mickey Rourke với vẻ mệt mỏi từng trải, thương hại cúi nhìn cô nữ du đãng (Doreen Chan) trong băng Rắn Hổ mà hắn mới bắn, hiện đang nằm sóng sượt chảy máu trên đường: “Xem chừng như cưng sắp chết đến nơi rồi, người đẹp.”

Nữ du đãng: “À há? (máu tuôn ra từ mồm cô) Tao hãnh diện lắm.”

Rourke: “Thế à? Có gì muốn nói với anh trước khi ngỏm không, cục cưng?”
Nữ du đãng: “Có chứ. (Ngừng một chút) Địt mẹ mày.”

Cắt sang năm 1993: Tôi đã được nghe kể rằng, cũng giống như nhiều người dân Nữu Ước, tôi xem phim với bán não cầu bên phải luôn bị kích thích quá độ. Tôi thú nhận đã khó tính, phê phán quá khích, nghi ngờ tình cảm, và nghi ngờ cả cái tốt đẹp của con người. Khi một nhà phê bình như Richard Corliss của tạp chí Time hết lời khen ngợi Câu Lạc Bộ Hỷ Lộc “gấp bốn lần hơn phim Terms of Endearment” phản ứng tự nhiên của tôi là thiên về hướng chống lại. Tôi không thích người ta chỉ dạy tôi nên có cảm giác như thế nào. Tôi đi xem phim dựa vào quyển tiểu thuyết bán chạy nhất của Amy Tan trình chiếu năm 1993, cái phim cần dùng tám cái khăn tay để lau nước mắt, với nhiều người trong đó có đứa con gái mười tuổi của tôi. Tôi bị dằng co giữa sự mong muốn rất thành thật được cuốn vào cơn bão tố tình cảm của mẹ và con gái, với cái kháng cự dai dẳng cố chống lại không cho phép các nhà làm phim khống chế và điều khiển tư tưởng của tôi. Cứ mỗi lần nhân vật trong phim hồi tưởng về quá khứ là một màn bi kịch lại xảy ra. Âm nhạc trổi lên; giọng người kể chuyện trang nghiêm và đượm buồn: nước mắt, nước mắt, và càng nhiều nước mắt tuôn ra ngập cả màn ảnh. Các cô con gái đầy vẻ kính cẩn; các bà mẹ với bao điều bí mật được chôn kín.

Tôi hân hoan khi thấy sự cao cả và nghị lực của bốn bà mẹ cũng như nhận thấy tài năng sáng chói của những diễn viên đã đóng vai họ, nhưng tôi bị bức xức bởi vẻ thụ động của các cô con gái người Mỹ gốc Á châu. Sự hiện diện của các cô có vẻ chỉ để làm nguồn thu nhận những câu chuyện rất ấn tượng về cuộc đời của các bà mẹ. Dường như vì thích ứng quá dễ dàng với xã hội Mỹ, các cô con gái này đã mất hết mọi khái niệm về bản thân họ.

Mặc dù cố kháng cự, mắt tôi vẫn nhòa lệ khi bà mẹ tuyệt vọng do Kiều Chinh thủ vai, bị buộc phải bỏ rơi hai đứa con gái song sinh trên con đường làng ở vùng chiến tranh của Trung hoa. (Kiều Chinh giống bà mẹ của tôi và người chị song sinh của bà, đã chịu khổ vì sự tàn bạo của người Nhật khi họ chiếm đóng Philippines.) Trong cuốn phim này đã thấy có một chú bé sơ sinh bị nhận chìm đến chết–bà mẹ, do diễn viên đẹp chết người Frances Nuyen thủ vai–đã trở nên điên loạn vì đau buồn; một người thứ thiếp đã xẻ thịt mình để cứu bà mẹ đang chết mòn; và một cô con gái nhút nhát đã bị người chồng cộc cằn người Mỹ gốc Á châu khống chế; một cô con gái nhút nhát khác bị anh chồng da trắng bỏ rơi; và còn nhiều nữa . . . . Theo tôi thì ảnh hưởng  bi thảm dồn dập của cuốn phim làm người xem thành chai đá, nhưng có một người đàn ông ngồi hai hàng ghế phía trước chúng tôi đã bật khóc nức nở. Một nhà văn Phi Luật Tân gốc Trung hoa, còn dễ cáu hơn cả tôi, đã than phiền, “Có cần thiết là khổ đau phải tương đương với thân phận dị chủng?”

Vì sự thay đổi trong khuynh hướng văn hóa xảy ra rất chậm, Câu Lạc Bộ Hỷ Lộc thừa hường rất nhiều thành kiến của văn hóa dòng chính. Đó là một câu chuyện về phụ nữ Mỹ gốc Hoa được tài trợ với ngân quỹ rất to, do đạo diễn Mỹ gốc Hoa thực hiện, được phụ nữ Mỹ gốc Hoa góp phần trong việc viết phim kịch và sản xuất. Quả là có quá nhiều điều để khích lệ. Và sự thành công về mặt tài chánh của phim này chứng tỏ rằng câu chuyện di dân kể qua quan điểm của phụ nữ được số đông khán giả yêu thích. Nhưng cái khía cạnh đa nghi và cynique của tôi lại bảo rằng sự thành công của nó chỉ có thể mang một ý nghĩa đối với Hollywood: các trường thiên tiểu thuyết dễ làm khán giả rơi nước mắt về tình cảm của các bà mẹ và con gái người Mỹ gốc Á châu sẽ được thực hiện nhiều hơn.

joy Luck Club Bốn bà mẹ và bốn cô con gái trong phim The Joy Luck Club. Từ trái sang phải: Kiều Chinh, Ming-Na Wen, Tamlyn Tomita, Tsai Chin, Frances Nuyen, Lauren Tom, Lisa Lu và Rosalind Chao

Nguyên chuyện Câu Lạc Bộ Hỷ Lộc được thành hình cũng là điều đáng chú ý. Với tiêu chuẩn Hollywood (hãy suy nghĩ như đàn ông da trắng; hãy nghĩ đến tiền, tiền, và tiền), một cuốn phim về người Mỹ gốc Á châu, ngay cả khi dựa vào quyển sách bán chạy nhất cũng là một dự án đầy rủi ro. Khi tôi hỏi một nhà sản xuất phim tôi quen về các tin đồn đình hoãn cuốn phim này, ông chỉ nói, “Nó vẫn là một cuốn phim Á châu,” và còn ngạc nhiên là tôi đã thắc mắc chuyện như thế. Ngay cả sự miễn cưỡng lúc đầu của đạo diễn Wayne Wang khi tham gia dự án làm phim này cũng thú vị không kém; ông nói với tờ New York Times, “Tôi không muốn lại làm thêm một cuốn phim Trung hoa.”

Có lẽ ông không nên lo lắng nhiều như thế. Nói chung, theo giới truyền thông, những năm chín mươi là thập niên của “Pacific Overtures”[4] và sự thanh lịch của người Đông Á. Madonna, nữ hoàng pop chuyên cóp nhặt ý tưởng của người rồi biến hóa thành của mình không biết ngượng, đã ươm cấy kỹ thuật điện tử của Nhật vào cuốn video âm nhạc “Rain (Mưa)” còn Janet Jackson đã nhại kiểu Đông phương trong video của cô có tên “If (Nếu).” Lúc bấy giờ người ta thật sự chú ý đến những cuốn phim của Trung hoa, Nhật, và Việt nam nhưng điều này không có nghĩa là đã có một sự đánh giá đúng đắn về đời sống của phụ nữ. Ngay cả trong vòng liên hệ mật thiết của các nhà nghệ thuật, nhiều người làm phim đáng lẽ hiểu biết hơn lại chọn con đường rút lui dễ dàng. Phim Okoge của Takehiro Nakajima ra đời năm 1992 trình bày một trong những vai trò độc đáo của phụ nữ trong phim ảnh đương đại. Tiếng Nhật, “okoge” có nghĩa là cơm cháy; tiếng lóng (có nghĩa xấu) dùng để chỉ những người phụ nữ thân thiện và yêu mến những người đàn ông đồng tính luyến ái. Chữ “okoge” trong phim dường được cố tình dùng như một cách chiếm hữu lại nghĩa bóng—như một cử chỉ hãnh diện; cách đạo diễn Nakajima miêu tả Sayoko trong phim–người bị gọi là “cơm cháy”–rõ ràng với rất nhiều trìu mến. Sayoko là người phụ nữ có cá tính, tự tin trong xã hội Tokyo hiện đại làm nghề góp giọng cho các nhân vật trong phim hoạt họa, yêu thích tranh của Frida Kahlo, và rất yêu mến một người đàn ông dịu dàng, đồng tính luyến ái, tên Goh. Nhưng những nhân vật nữ khác trong phim này rất đáng thất vọng vì họ rập khuôn trong vai trò những  “phụ nữ dễ bị khích động” và nửa phần sau cuốn phim trở nên sáo mòn. Sayoko hy sinh bản thân cho một gã thô lỗ mà Goh mơ ước, gã này đã hãm hiếp nàng cùng lúc hình ảnh những bức tranh của Frida Kahlo và anh chàng Goh thân yêu trổi dậy từ những cơn sóng biển hiện ra trước mắt nàng. Nàng sinh một bé trai và phải sống rất nghèo khó với một tên hiếp dâm hung bạo. Sự thay đổi bất thình lình từ một người đàn bà có cá tính, có khả năng kiếm sống, trở thành nạn nhân nhu nhược thật là khó hiểu. Nghề nghiệp của nàng biến đâu rồi? Căn chung cư trang trí nghệ thuật của nàng? Chẳng lẽ sự ái mộ tranh của Frida Kahlo không dạy cho nàng điều gì sao?

Misa_ShimizuNữ tài tử Misa Shimizu (Sayoko trong phim Okoge)

Có một cuốn phim tên From Hollywood to Hanoi (Từ Hollywood đến Hà Nội) của Tiana Thi Thanh Nga. Phim này tuy là để tự khoe nhưng cũng là một phim tài liệu đáng được chú ý. Sinh ra ở Việt Nam trong một gia đình thế lực với ông bác là Bộ trưởng bộ Quốc phòng dưới chính phủ Thiệu và ông bố thần tượng trước đây làm Bộ Trưởng Thông Tin, Nga, còn có tên là Tiana, trải qua thời niên thiếu ở California. Trước kia cô là diễn viên điện ảnh trong các phim võ thuật và giáo viên thể dục (“Karaticize with Tiana (Học Karate với Tiana)”, Tiana, hoạt bát và tự tin, quyết định ghi lại cuộc hành trình trở về Việt Nam của nàng.

Từ Hollywood đến Hà Nội đôi khi rất hài hước dù không cố ý. Tiana cho xem một đoạn phim ngắn nàng đang khiêu vũ với một người đàn ông da trắng ở khách sạn Metropole Hà Nội và tuyên bố trong hơi thở đứt quảng: “Đây là tôi, đang đi những bước tango với Oliver Stone!” Sau đó nàng chăm chú lắng nghe chuyện thảm sát ở Mỹ Lai do một trong những người phụ nữ còn sống sót kể lại. Trong một cảnh khác, Tiana vui vẻ khen một người bán thức ăn trên đường phố Hà Nội: “Tóc chị làm đẹp quá.” Người đàn bà không mấy quan tâm, vẻ mặt không cảm xúc, nói gọn lỏn: “Cô có muốn ăn không, hay muốn gì ?” Đôi khi khó phân biệt giữa Tiana Thi Thanh Nga với con người Hollywood của nàng: Tiana thật dường như vẫn đang đóng những vai trong phim hạng nhì của nàng, những vai này chỉ để làm vui vì chúng là những chuyện tưởng tượng. Thời điểm này rất đúng lúc để khám phá thêm về hậu chiến tranh Việt nam qua quan điểm của phụ nữ; rất tiếc phim này lại được một cô gái Mỹ nông cạn ở “thung lũng” Nam Cali thực hiện.

Tiana thi Thanh Nga Tiana Thị Thanh Nga (mặc áo trắng) cùng chồng là Stirling Silliphant chụp ảnh lưu niệm với gia đình Tướng Võ Nguyên Giáp trong dịp làm phim “Từ Hollywood đến Hà Nội" năm 1991 (nguồn: Sàigòn Giải Phóng online)

Năm 1993 cũng là năm Trần Anh Hùng thực hiện phim The Scent of Green Papaya (Mùi Đu Đủ Xanh), một kiểu hồi ức khác về Việt Nam – đây là cái nhìn lại quá khứ về một quốc gia thanh bình tươi mát trong kỷ niệm thời thơ ấu của nhà đạo diễn này. Cuốn phim bắt đầu vào thời điểm Sài Gòn năm 1951. Một cô bé mười tuổi, người mảnh mai, tên Mùi đến giúp việc cho một gia đình không hạnh phúc; ông chủ gia đình là một nhạc sĩ buồn bã và bà vợ nhân hậu nhưng lạnh lùng. Những người đàn ông trong gia đình trung lưu này rất nhàn rỗi, được hầu hạ, họ ngủ trưa trong khi phụ nữ làm tất cả mọi việc.  Mùi là cái mơ tưởng của đàn ông; một tớ gái chăm chỉ, chịu đựng mọi đùa nghịch ác độc với sự kiên nhẫn và tự trọng; khi trưởng thành rất ít khi nàng phát biểu. Nàng lau nhà, đánh giày, nấu ăn với sự cẩn trọng chăm sóc và không bao giờ than thở. Khi nàng bị gửi đi làm việc cho một gia đình nhạc sĩ giàu có khác, nàng bị người chủ làm cho mang thai. Cuốn phim chấm dứt khi ống kính thu gần gương mặt hài lòng của Mùi. Chậm rãi và trân trọng. Mùi Đu Đủ Xanh có hình ảnh rất đẹp, nhưng nó chứa đựng điều mơ tưởng thực dân của nhà đạo diễn; phụ nữ là một thứ sinh vật hiền lành dễ dạy được nuôi trong nhà. Ngấm ngầm trong hồi ức của giới trí thức, đó là một biến thể Việt Nam của cuốn phim My Fair Lady mà ông nhạc sĩ nhà giàu thay thế vai trò Giáo sư Higgins, người dạy cho Mùi biết đọc và biết viết.

Rồi lại có cuốn phim tuy lạt lẽo nhưng lại đắt khách năm 1993, The Wedding Banquet (Tiệc Cưới) – đây là một sự xung đột văn hóa được gói ghém gọn ghẽ vào phim cười, trong đó văn hóa Trung hoa va chạm với những quan niệm hiện đại về đạo đức trong tình dục của người Mỹ. Vở phim có phần nào theo công thức này, được thể hiện như sau: Waltung, một anh chủ có nhà cho thuê, dân thành phố, trẻ, có nghề chuyên môn, sống với người tình là một anh da trắng, Simon, sống trong một khu thanh lịch, nhà xây bằng đá nâu ở Manhattan. Waltung là con độc nhất và cha mẹ già của anh ở Đài Loan mơ ước có một đứa cháu để nối dòng. Wei-Wei là nữ họa sĩ sống trong căn chung cư nghèo nàn bẩn thỉu do Waltung làm chủ. Nàng tu rượu đế tequila lúc nàng vẽ và đùa bỡn dạn dĩ với anh chủ nhà trẻ tuổi và nghiêm nghị, người chẳng chú ý đến nàng. “Số của tôi là thế, tôi luôn si mê mấy anh chàng đồng tính luyến ái đẹp trai,” nàng lẩm bẩm. Sau màn này, cả cuốn phim tuột dốc, tất cả những đặc điểm trở nên nhòa nhạt và kết thúc trong một tổ ấm hạnh phúc. Như lập lại hoàn cảnh ngang trái của Sayoko trong phim Okoge, Wei-Wei “được” mang bầu, bỗng dưng tự mãn, đầu hàng trước sức ép của gia đình – và không bao giờ có thể tìm lại cuộc đời của chính nàng.

“Phải là một người đàn ông mới biết giá trị của một người phụ nữ thật sự.” Song Liling trong M. Butterfly

Mỉa mai thay, hai cuốn phim chất vấn khái niệm giới tính có đàn ông thủ vai nam diễn viên giả làm phụ nữ lại vạch rõ huyền thoại về người phụ nữ Á châu lý tưởng và những ràng buộc cổ truyền về giới tính nhiều hơn hầu hết các phim do phụ nữ diễn vai. Diễn tiến của cuốn phim xảy ra rất chậm, M. Butterfly trình bày cái mục tiêu tối hậu mà đàn ông Tây phương mơ ước, trong đó tên do thám kiêm nữ đại ca sĩ Song Liling, một hình thức Suzie Wong/Đóa Sen do nam diễn viên John Lone thủ vai, người ta có thể thấy lờ mờ dấu râu quai hàm và cái xương cổ khi ẩn khi hiện của anh ta.

songlilingTài tử Mỹ gốc Trung Hoa John Lone thủ vai Song Liling trong phim M. Butterfly

Điều sâu sắc nhất của những cuộc đột kích vào địa hạt đàn ông thích ăn mặc như phụ nữ này là vở phim đại bi thảm Farewell My Concubine (Vĩnh biệt Thứ Phi) do Chen Kaige làm đạo diễn. Bị cấm trình diễn ở Trung quốc, phim Vĩnh Biệt Thứ Phi đồng hạng giải phim hay nhất năm 1993 ở đại hội phim ảnh Cannes với phim The Piano (Chiếc Dương Cầm) của Jane Campion. Trải qua suốt 50 năm lịch sử đầy biến động của Trung quốc, câu chuyện xoay quanh cuộc đời của hai người diễn viên nam của đoàn nhạc kịch Bắc Kinh và một phụ nữ là vợ của một trong hai người. Ba nhân vật này tạo thành một chuyện tình tay ba khó quên. Họ trăn trở với tình yêu, nghệ thuật, tình bạn, và chính trị trên biến chuyển đầy thảm khốc của lịch sử Trung quốc. Họ hoàn toàn có khả năng thản nhiên phản bội lẫn nhau cũng như có khả năng quên mình vì tình yêu và lý tưởng. Dieyi, tuy là đàn ông nhưng xinh đẹp như phụ nữ, số phận bắt phải đóng vai phụ nữ hết năm này qua tháng nọ, được nam diễn viên người Hồng Kông, Leslie Cheung, diễn vai thật xuất sắc với vẻ mềm mại ẻo lả, thông minh, và duyên dáng. Dieyi tranh dành với cô gái điếm Juxian (Gong Li) để được tình yêu của người bạn, Duan Xiaolou (Zhang Fengyi) đã từng bảo vệ anh lúc còn thơ ấu cũng là một bạn diễn, ngôi sao sáng của đoàn nhạc kịch.

leslie cheung Cố tài tử Leslie Cheung qua vai Dieyi trong phim Farewell My Concubine

Cách trình diễn điêu luyện của Cheung qua vai trò cổ điển người vợ lẽ sẵn sàng chết cho tình yêu trong vở nhạc kịch lồng trong cuốn phim, tất cả chỉ để nói về cái khéo léo của phụ nữ. Cái liếc nhìn của anh ta, sự đam mê được kềm chế, thế đứng yểu điệu, bước đi nhỏ ngắn, và những cử chỉ mềm mại yêu kiều nói lên tất cả những thứ được xem là đáng khen ngợi ở người phụ nữ Á châu – và đây là những tính chất đối nghịch lại với người phụ nữ năng nổ, bộc trực do Gong Li thủ vai. Những nhân vật do Dieyi và Juxian đóng đều nhìn nỗi khổ đau như là một phần và là những mảnh nhỏ của tình yêu và cuộc đời. Juxian thẳng thắn nói với Duan Xiaolou trước khi anh đồng ý cưới nàng: “Em đã quen sống với khó khăn. Nếu anh lấy em, em sẽ hầu hạ phục vụ anh. Nếu anh chán chê em, em sẽ . . . tự tử. Không có gì phải ầm ĩ.” Đó cũng là âm vang bản tính phục tùng hầu hạ của Suzie Wong nhưng trong bối cảnh mới. Ngay cả khi bị dồn vào chân tường, Juxian không yếu ớt vô dụng hay rên rỉ kêu khóc. Nàng cố lung lạc một người đàn ông trong khi vẫn nhận biết sự thật khắc nghiệt là nàng đang đùa với tử thần.

Dieyi và Juxian là hai mặt của sự thật về cuộc đời phụ nữ trên hầu hết các quốc gia Á châu. Đặc biệt vai Juxian – cô vợ cũng là cô điếm hoàn lương – có thể bị xem là một vài trò bạc bẽo, sáo mòn, nhưng  như những nhân vật mà Gong Li đã thủ vai trong các phim của Zhang Yimou, như Red Shorghum, Raise the Red Lantern, và đặc biệt là The Story of Qui Ju, Juxian được diễn tả qua nhiều sắc thái đa diện: nàng cứng rắn, bướng bỉnh, gợi cảm, ngu si, xinh đẹp, thích chọc giận, hèn nhát, anh dũng, và tầm thường. Trên hết, nàng có khả năng hồi phục và vươn dậy. Gong Li là một trong vài diễn viên Á châu vùng Thái Bình Dương đã được đóng những vai thông minh, thành thật, và có chiều sâu. Tuy thế, những nhân vật nàng đã trình diễn vẫn bị giới hạn do có rất ít cơ hội tốt cho phụ nữ trong cuộc đời thật ở Trung quốc.

“Hãy nhìn thẳng vào vấn đề đi. Phụ nữ đếch có giá trị gì ở Trung quốc,” Meeling, chị bạn tôi nhắc nhở. Điều chị nói một cách thẳng thừng về văn hóa của chị là một sự thật đau lòng, nhưng trong văn hóa của tôi nó không hẳn hiển nhiên như vậy, mà thật ra thấm nhuần, bao quát hơn. Ở Phi Luật Tân, các trẻ em gái mới sinh không bị dìm xuống nước cho chết và không bị bó chân để thành quyến rũ hơn. Nhưng con trai trong gia đình vẫn được quí trọng hơn. Mãi đến bây giờ, đàn ông giới trung lưu vẫn được săn sóc chu đáo và được xem là có giá trị cao, cũng giống như những người đàn ông được nuông chìu trong các gia đình khá giả trong phim Mùi Đu Đủ Xanh. Chúng tôi không có phong tục geisha như Nhật Bản, nhưng vẻ đẹp của hình dáng bên ngoài vẫn được trân quí quá mức bình thường. Con gái xứ chúng tôi là những cô trinh nữ được canh chừng và chăm sóc để trở thành hoa hậu. Và rất nhiều người dân xứ tôi đã chấp nhận cái hình ảnh một người đàn ông da trắng là một đấng cứu rỗi đẹp trai: G. I. Joe (anh lính Mỹ).

Tạp chí Buzz mới đây đã cho đăng bài viết có tựa đề “Đàn bà Á châu/Đàn ông Los Angeles,” đó là bản tường trình về một quán bar ở L.A. chuyên phục vụ những mơ ước của đàn ông da trắng muốn có quan hệ tình dục hay kết hôn với phụ nữ Thái lan. Ranh giới giữa cuộc sống thật và phim ảnh trở nên phai mờ. Những người đàn ông Mỹ chuyên viết phim bản và quay phim đã đổ xô đến nhà hàng này, nơi đây các cô hầu bàn hăm hở  “thử” các vai mà họ mong sẽ được chọn. Rất nhiều người trong số đàn ông này đã từng đến Bangkok làm việc cho đoàn quay phim về chiến tranh Việt nam. Họ đã trở về Los Angeles, nhưng đối với họ, cuốn phim không bao giờ chấm dứt. Trong huyền thoại này, các cậu đóng vai lính Mỹ có nhiệm vụ giải cứu người đẹp của rừng đô thị, cứu gái điếm ra khỏi nghề điếm. “Một cảnh không khác truyện phim đã được dựng lên ở đây, một show như Cheers có chút da thịt,” tác giả Alan Rifkin viết: “Các cô hầu bàn đóng thử các vai cho các kịch sitcom trên truyền hình. Khách hàng hẹn hò đi chơi với các cô hầu bàn hay chỉ muốn có được thành tích chơi.”

Sự đô hộ của trí tưởng tượng là con đường hai chiều. Được lên ngôi thần tượng như Hòn Ngọc Viễn Đông thì thoạt đầu không có vẻ gì là bị hạ nhục khinh bỉ; ai mà chẳng muốn được tôn thờ? Có lẽ đó là lý do phụ nữ Á châu luôn luôn là đối tượng … mộng tinh trong hầu hết phim ảnh của Hollywood; ai cũng biết chúng ta đã được dạy dỗ chu đáo như thế nào để biết cách hầu hạ đàn ông trong đời của chúng ta. Trong bộ máy Hollywood, chúng ta chỉ là đối tượng của sự thèm muốn hay trò cười; chúng ta hiện diện để cung phụng tình dục, màu sắc và da thịt trong cái thế giới thật sự thuộc về đàn ông da trắng. Nó cũng tương tự như cái Toni Morrison gọi là “Sự hiện diện của người Phi châu” trong văn chương. Bà viết: Trong phạm vi giải trí, tương đương như chuyện các diễn viên da trắng trước đây bôi mặt thành da đen nhằm giúp họ được phép thảo luận những vấn đề bị xem là cấm kỵ, nhà văn Mỹ cũng có thể sử dụng một nhân vật tưởng tượng có tính chất Phi châu để thuyết phục, hay thể hiện những điều cấm kỵ trong văn hóa Mỹ.” Lý luận này cũng có thể được áp dụng khi thảo luận sự hiện diện đầy quyến rũ của phụ nữ Á châu trong phim ảnh do đàn ông da trắng sản xuất.

Phim ảnh vẫn là phương tiện nghệ thuật quyến rũ mạnh mẽ nhất, điều khiển chúng ta dễ dàng bằng sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh. Bằng nhiều cách, qua vai trò phụ nữ cũng là người Á châu, hoặc là khán giả hay là người trình diễn, chúng ta chấp nhận dễ dàng đến độ bị thiệt thòi – chúng ta là một thứ đồ trang trí, vô hình, hay chỉ là một khuôn mẫu sáo mòn, đơn diện. Khi có những nhân vật giống như chúng ta xuất hiện trong phim ảnh, chúng ta thêu dệt ra cái ngụ ý mà chúng ta cho là được hàm súc trong phim, hoặc chúng ta điền vào chỗ trống. Nếu một nhân vật nữ được biểu hiện như kẻ câm, một người đẹp mềm mại thướt tha, chúng ta tự thuyết phục rằng nàng là một bóng dáng của tổ tiên – quá thông minh nên nàng không cần phải nói lời nào. Nếu nàng là một cô điếm có tấm lòng vàng, chúng ta bảo rằng nàng là một biểu tượng vững chắc của nữ quyền. Nếu nàng là một người không thèm muốn dục tình, tẩy trần, hoặc là loại mọt sách nhàm chán, chúng ta dễ chấp nhận nàng như là một gương mẫu cho con gái của chúng ta noi theo, vì như vậy còn hơn là một con điếm có cuộc đời bất hạnh. Và nếu nàng được trình bày như một vị thánh hoàn toàn dâng hiến, chịu đựng trong im lặng một cách đáng ngưỡng mộ, chúng ta sẽ tự dối rằng nàng giống hệt  các bà mẹ của chúng ta. Vĩ đại hơn đời thật. Tài phép và xảo quyệt. Nói cho cùng, một cuốn phim không bao giờ chỉ là một cuốn phim.

 
(Bài tiểu luận trên của Jessica Hagedorn được trích trong Sign of Life in the USA – Readings on Popular Culture for Writers (xuất bản lần thứ năm) do Sonia Maasik và Jack Solomon biên soạn.)


[1] Nguyên tác là No Joy, No Luck biến đổi từ tựa đề quyển The Joy Luck Club (Câu Lạc Bộ Hỷ Lộc) của Amy Tan.

[2] Tiếng lóng dùng để chỉ người Việt Nam có nghĩa khinh thị.

[3] chop suey là món rau xào thập cẩm thường được bán ở các quán ăn Trung hoa bình dân.

[4] Pacific Overtures là tên một vở nhạc kịch của Stephen Sondheim, John Weidman, và Hugh Wheeler. Vở nhạc kịch lấy bối cảnh Nhật năm 1853 bắt đầu bị Tây phương hóa và cuộc đời của hai người bạn bị cuốn hút trong sự thay đổi này. Chữ overture là một hình thức âm nhạc nhưng ngầm ám chỉ sự xâm lấn của quyền lực Tây phương (lược dịch từ Wikipedia).

bài đã đăng của Jessica Hagedorn


6 bình luận »

  • lê thị thấm vân viết:

    Cũng là phụ nữ Mỹ gốc Á, tôi chia sẻ nỗi bức xúc cùng tác giả Jessica Hagedorn.

    Mời độc giả Da màu đọc bài “Thúy Kiều: nỗi ám ảnh bất hạnh” tôi viết cách đây hơn mười lăm năm.

    http://www.talawas.org/talaDB/suche.php?res=3202&rb=09

  • black raccoon viết:

    Nói đến Hollywood là nói đến núi tiền núi bạc. Kinh đô của ánh sáng điện ảnh. Vương quốc của giai nhân tài tử Mỹ. Nó có một bề dầy lịch sử phim ảnh cũng như uy tín , nói riêng Hoa Kỳ , rất đáng nể. Vì thế, muốn chen chân vào chốn đó , nói thật là không phải dễ. Kể cả nghĩa đen bốc lữa rực tình cho tới nghĩa bóng tài ba nghệ thuật ánh sáng.

    Tuy vậy, tui thấy các nền điện ảnh khác của Á Châu hoặc người gốc Á cũng có “thế mạnh” riêng của nó.

    @ The Joy Luck Club, dựa theo quyển tiểu thuyết của Amy Tan 譚恩美 Đàm Ân Mỹ. Phim có lẽ được người Mỹ chú trọng vào các khía cạnh văn hóa gia đình Trung Hoa . Trong phim , cảnh ồn ào náo nhiệt , hỏi han, ăn uống , ân cần trong không khí gia đình gia tộc kiểu TH lúc nào cũng ấm cúng vui tươi. Nó trái ngược hẳn với cảnh căn phòng cô gái gốc Hoa và người chồng là một trí thức Mỹ , đượm vẻ nhạt nhẽo u buồn. Dĩ nhiên , đó chỉ là một khía cạnh. Nó được người Mỹ ghi nhận. The JLC cũng giông giống như gia tộc VN : mất cha còn chú , mất mẹ bú vú dì. Tình thân ái gia tộc.

    @ Crouching Tiger Hidden Dragon 臥虎藏龍 Ngọa Hổ Tàng Long, sản xuất năm 2000. Đạo diễn Ang Lee 李安 Lý An người Đài Loan . Phim đoạt 4 giải Oscar của Mỹ, trong đó có giải Phim Ngoại Quốc xuất sắc nhứt. Phim thuộc loại võ hiệp kỳ tình TH . Nhưng nếu chỉ có đánh gươm múa quyền thì đâu có gì là đặc biệt.
    Câu chuyện xoay quanh truyền kỳ về thanh gươm Thanh Mệnh Kiếm. Sắc như nước. Mỏng như liễu diệp. Nó chặt đứt bất cứ loại võ khí nào đối địch.
    Trong phim cũng có duy nhứt một cảnh sex. Rất sex. Nhưng không cuồng nhiệt và trắng trợt như Hollywood xưa nay. Chỉ một bàn tay gân guốc của chàng thanh niên Lo lần mò xuống tận dưới , chiếc lưng quần cô gái xệ xuống một khoảng trắng bày rún…

    Cảnh song đấu giữa Michelle Yeoh Dương Tử Viện và Zhang Ziyi Chương Tử Di , theo tui là một cảnh đấu kiếm hay nhứt màn bạc Hồng Kông và Đài Loan xưa nay. Cuối phim , khi cô gái yêu cầu chàng trai : Make a wish Lo ! Và cô ta đã gieo mình bay trong không trung từ đỉnh núi chùa Võ Đang. Phim chấm dứt , người ta không rõ anh chàng Lo có dám “bay” theo người yêu hay không? Tuyệt tác.

    Phim gửi một mesage : trong chiến trận , nhanh gọn , kịp thời , chính xác là các yếu tố chiến thắng. Người ta cũng không quyên một nước Đài Loan và những giàn hỏa tiển Patriot siêu đẳng của Hoa Kỳ lúc bấy giờ.

    @ Love and Honor, phim Nhựt và Mỹ hợp tác. Tài tử Nhựt . Sản xuất 2006. Thể loại Võ Sĩ Đạo. Một câu chuyện tình cảm nhẹ nhàng nhưng gây cấn. Do, chàng võ sĩ đạo ăn trúng con sò mang chất độc , chàng bị mù mắt. Người vợ trẻ đẹp , hiền thục , yêu chồng và rất khả ái. Nàng bị một tên võ sỉ có quyền hành lớn gạt gẫm để cưỡng hiếp. Câu chuyện thấu tai người chồng võ sĩ mù. Gia đình ly tan vì mối hờn ghen. Sau cùng , người chồng vỡ lẽ , anh ta quyết định thách đấu để rữa hận và rữa nhục cho vợ. Khi người lão bộc già tỏ ý lo lắng , chàng võ sĩ nói vắn tắt và chắc nịch : Người cầm gươm không thể chịu nhục . Tôi đã chọn để có thể chết trong danh dự. cả

    Trận đấu diễn ra tại một bìa rừng. Nhanh. Chàng võ sĩ đã dồn uất hận vào lằn gươm như sao xẹt , cắt lìa cánh tay tên gian hùng.
    Phim Võ sĩ Đạo, nhưng không có nhiều cảnh đầu rơi máu đổ. Trận đấu duy nhứt cuối phim không quá vài phút. Nhưng phim đẹp như thơ , hoa Đào , đêm hè , đóm đậu. Đom đóm bay cẩ vào nhà. Nghệ thuật khôi hài cũng thượng thừa và ý nhị. Tài tử xinh đẹp và rất duyên dáng.

    Câu chuyện truyền thống Đông Phương. Trai nam tử hào hùng , vợ đảm đang hiền thục và khả ái. Lòng tự trọng và liêm sĩ . Cảnh trí nhẹ nhàng nên thơ. Phim có sức lôi cuốn kỳ lạ. Giới yêu phim cúa Mỹ rất ưa chuộng.

    Crouching Tiger Hidden Dragon duel scene
    http://www.youtube.com/watch?v=1I4Moi3-g14

  • Trần Đăng Khoa viết:

    Tôi đồng cảm với tác giả trong các nhận định về hình ảnh phụ nữ Á châu trong phim ảnh Hollywood, nhất là các phim thương mại.

    Nhưng khi tác giả chen lẫn vào bài tiểu luận của mình các phim ngoài Hollywood thì có vẻ như những nhận định chung không còn chính xác và có phần nào phủ nhận những thay đổi của xã hội và điện ảnh Á châu. Các cố gắng của Trương Nghệ Mưu hay Trần Anh Hùng đều đáng được trân trọng trong sự phát triển nhận thức về nữ quyền. Đó chẳng là phản ánh 1 sự thật về số phận phụ nữ Á đông để vươn tới 1 sự hài hòa hay sao?

  • Nguyễn thị Hải Hà viết:

    Trong bài viết này có nhiều điểm tôi đồng ý với tác giả.Thứ nhất, phim ảnh Hoa Kỳ thường chứa đựng nhiều thành kiến. Đàn ông Á châu thì phải chuyên đánh võ, đàn ông Ý toàn là Mafia, và phụ nữ Á châu là những cô điếm xinh đẹp. Hagedorn còn sót phim Người Mỹ Thầm Lặng trong đó nhân vật Phượng cũng bị xem là điếm trá hình. Không riêng gì phụ nữ Á châu, phụ nữ da đen, phụ nữ Nam Mỹ, và cả phụ nữ da trắng cũng đều bị các nhà làm phim biến thành đối tượng tình dục tất tần tật. Chuyện này dễ hiểu, người ta làm phim với mục đích thương mãi và tình dục làm cho phim ăn khách. Thứ hai, giới làm phim ảnh Hoa Kỳ thường khi đem râu ông nọ cắm cằm bà kia. Họ có thể cho người Việt mặc áo Tàu nói tiếng Tàu chỉ vì họ không am tường văn hóa nước ngoài. Đáng lẽ họ nên học hỏi để hiểu biết hơn, nhưng không ai chê bai họ vì đại đa số khán giả của nước họ cũng chẳng biết đến những chi tiết nhỏ nhưng rất quan trọng về khía cạnh văn hóa này.

    Bà Hagedorn cũng tự nhận biết là bà khó tính, hay chê bai chỉ trích quá khích, vì thế khi bà nhận định về phim Mùi Đu Đủ Xanh bà đã cố dịu giọng; tuy nhiên tôi thấy sự so sánh phim Mùi Đu Đủ Xanh với phim My Fair Lady là một sự so sánh khập khiễng.

    Thật tình tôi cũng không mặn mà với phim Mùi Đu Đủ Xanh cho lắm. Phim Việt Nam sao hay có cảnh tắm, không tắm mưa thì cũng tắm hồ tắm ao hay múc nước xối từ trong lu. Tội nghiệp cô Trần Nữ Yến Khê cứ bị đạo diễn bắt phải đi vai nghiêng nghiêng xiêu xiêu chứ không được đi thẳng. Đi nghiêng vai để biểu lộ thái độ rụt rè chịu đựng chăng?

    Bà bảo rằng phim chứa đựng điều mơ tưởng thực dân của nhà đạo diễn tôi e rằng có phần quá đáng. Một người đạo diễn gốc Việt Nam lớn lên ở Tây phương thấm nhuần văn hóa Tây phương là điều tất nhiên. Trần Anh Hùng miêu tả một người phụ nữ Việt Nam nghèo đi làm thuê trong những năm 1950. Ông không chủ ý biến cô Mùi thành “một sinh vật hiền lành dễ dạy được nuôi trong nhà” để làm vui mắt khán giả thực dân mà ông chỉ miêu tả một mẫu người phụ nữ Việt Nam thời bấy giờ theo khuynh hướng hiện thực.

    Nhân vật Eliza Dolittle trong phim My Fair Lady, phim này dựa theo vở kịch Pygmalion của George Bernard Shaw, là một cô gái có cá tính rất mạnh, thông minh, tự tin, ương ngạnh, có tài thuyết phục, thường xuyên làm chủ tình huống. Cô có thể thuyết phục cũng như bác bỏ lý luận của giáo sư Higgins khi cần thiết. Higgins, vị giáo sư ngữ học có tham vọng bôi xóa cách phát âm địa phương của cô mà ông cho là nhà quê. Ông cho rằng chỉ cần dạy cô cách phát âm “chuẩn” của người thành phố, ông có thể đánh lừa giới thượng lưu rằng Eliza Dolittle là một nàng quận chúa chứ không phải là cô gái bán hoa. Eliza, cô gái thông minh, bướng bỉnh, miệng bằng tay tay bằng miệng này đã chứng mình cho Higgings biết rằng nếu muốn người ta nhìn thấy nàng là một quận chúa thì ông phải đối đãi nàng kính trọng nàng như một quận chúa. Eliza chắc chắn không phải là một sinh vật hiền lành dễ dạy được nuôi trong nhà. Theo tôi, My Fair Lady là một phim có chất nữ quyền khá rõ rệt vì thế so sánh Mùi Đu Đủ Xanh với My Fair Lady thì đây là một so sánh không cân xứng.

  • Không đề tên dịch giả | Blog Chuyện Bâng Quơ viết:
  • Ý thức nữ quyền | Blog Chuyện Bâng Quơ của Bà Tám và Bạn Bè viết:

    […] Việt Nam hải ngoại đương đại). Kể từ khi tôi đọc và dịch bài tiểu luận “Asian Women in Film: No Joy, No Luck” của Jessica Hagedorn tôi nhận ra nếu dùng nữ quyền luận để quan sát các tác phẩm văn học có […]

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)