Trang chính » Biên Khảo, Đọc và Đọc lại Email bài này

Lưu Đầy và Đế Quốc trong Bối Cảnh Nhà Ngụy

v\:* {behavior:url(#default#VML);}
o\:* {behavior:url(#default#VML);}
w\:* {behavior:url(#default#VML);}
.shape {behavior:url(#default#VML);}

 Noi-lua-mo-cua-ca-dem--Dinh

<>

Đinh Linh: nồi lửa, mở cửa cả đêm

 

</>


Lưu Đầy và Đế Quốc trong Bối Cảnh Nhà Ngụy1


Exile and the Kingdom1

Nhà Ngụy (Fake House)

Tác giả: Đinh Linh

Nhà xuất bản: Seven Stories Press (Fall 2000)

224 pp. $23.95 (U.S.)

"Sau khi đã sinh sống ở Việt Nam, Philadelphia sẽ dễ thở hơn lúc tôi trở về," nhân vật chính trong truyện "Hai Kẻ Đãng Trí" nhận xét. Như nhân vật chính, một trong "hai kẻ đãng trí" của tuyển tập truyện ngắn Nhà Ngụy (Fake House), Đinh Linh, trong hai năm, 1999-2001, đã về Sài Gòn sinh sống. Làm quen lại với thành phố, nơi mà gần bốn thập niên trước anh đã được chào đời, Đinh Linh dùng khoảng thời gian này để suy ngẫm về ý niệm quê hương và nhân dạng sau hơn hai thập niên tỵ nạn và trưởng thành ở Hoa-Kỳ.

 

Đinh Linh, một nhà văn Mỹ gốc Việt, thông thạo hai ngôn ngữ Anh, Việt, và gần đây thêm tiếng Ý (sau 2 năm sinh sống ở Certaldo, Ý, qua chương trình của International Parliament of Writers bảo trợ nhà văn xuất xứ từ những quốc gia không có căn bản nhân quyền) còn là một họa sĩ, nhà thơ và dịch giả. Lênh đênh hàng ngày trong những sáng tác vượt biên giới ngôn ngữ, Đinh Linh đã thấu hiểu được tâm cảnh của một con người "dạng chân" qua hai giòng văn hóa, không có một ranh giới quốc gia làm hạn định, hay một bờ bến cứu độ làm sự bình an. Văn của anh là loại văn có tính cách trào lộng, vắn tắt và tiết kiệm như ca-dao Việt Nam, tục tĩu như thơ truyện Canterbury Tales của Chaucer, linh động như tranh phiếm họa dân gian (manga) của Hokusai, phơi bầy đầy dẫy sự bẩn thỉu, mỉa mai và cay đắng của những cuộc sống bên lề. Văn của anh, mặc dù mô tả những trạng thái lưu đầy, luôn luôn cố vượt thoát ra những hạn hẹp của văn hóa và chủng tộc.

 

Tựa đề Nhà Ngụy của tập truyện mang tính cách vừa chính xác vừa mơ hồ. Nhà Ngụy cũng là tựa đề một truyện ngắn trong tập truyện, về "phông" mặt tiền của một căn nhà kho bỏ hoang, mất điện và không có những tiện nghi căn bản (buồng tắm, nhà vệ sinh, v.v.) của một ngôi nhà bình thường. Nhà Ngụy có thể ám chỉ nước Mỹ—vừa là một thế giới xa lạ, nhiều nghịch lý, vừa là nơi chứa chấp và cưu mang những thành phần "ngụy" của miền Nam Việt Nam trước đây. Nhà Ngụy là nhà giả, nhà không có nền móng, và, qua tầm mắt những người dân "ngụy" đã rời bỏ Việt Nam, cũng có thể ám chỉ . . . Nhà Việt.

 

Về bố cục, Nhà Ngụy được chia ra làm hai phần: phần đầu gồm chín truyện ngắn với bối cảnh ở Mỹ, phần sau gồm mười hai truyện ngắn với bối cảnh Việt Nam. Nhưng cũng có lúc độc giả có cảm tưởng như hai bố cảnh Mỹ Việt được xếp chồng lên nhau, tạo ra một ấn tượng như được nhìn thấy sự vật qua một tấm gương dị hình–một ấn tượng như người sống giữa hai không gian cùng một lúc, hay ở một nơi tranh sáng tranh tối của những trò hề, những lố lăng của văn hóa và ngôn ngữ lai căng.

 

Cho thí dụ, trong truyện "Hai Kẻ Đãng Trí," nhân vật chính, một việt kiều về thăm nhà bị một anh xích lô đạp chửi là "đồ Nacirema" ("American" đọc ngược lại). Một người dân thiểu số chất vấn sự trung thành của y với "tổ quốc" Việt Nam trong truyện "Cái Động": "chúng ta là người dân của một nước tên gọi Việt Nam–cái tên mà hầu hết mọi chúng ta đây đều không phiên âm nổi. (Tại sao Việt Nam mà không là Trung Cộng ? Tại sao không gọi nước chúng ta là Hợp Chủng Quốc ?)" Trong truyện "California Fine View," một thanh niên bản xứ Việt Nam đua đòi, tưởng rằng mình đã được gián tiếp "đi Mỹ" khi hắn mặc quần jeans hiệu "Levy’s" mua mà cả rẻ ở chợ Bến Thành và đi ăn tiệm "California Fine View," nơi mà thực đơn quảng cáo có "pepperoni thứ thiệt, nhưng bảo đảm phó mát nhân tạo" (vì bộ tiêu hóa của người Việt bản xứ thường bị dị ứng bởi những món ăn nhiều chất bơ sữa).

 

Đinh Linh đề tặng Nhà Ngụy cho những kẻ "không được Chúa chọn." Sự đề tặng của tác giả cũng có thể coi như một lời giới thiệu súc tích về những nhân vật không hy vọng được cứu vớt trong tác phẩm. Những nhân vật này tượng trưng cho nhiều thể hiện của người khách cưới không có quần áo sang trọng mặc đi ăn cưới trong câu chuyện giảng phúc âm của Thánh Matthêu, và vì thế đã bị chủ gia khắc nghiệt ném vào "chỗ tối tăm," nơi "có khóc lóc, nghiến răng, vì nhiều kẻ được gọi, nhưng ít ai được Chúa chọn." (Matthêu: 22.1-14.)

 

Chỗ tối tăm này–một bờ cõi trơ trọi lộng gió của Nhà Ngụy–cũng tương đương như ý niệm về sự đau khổ của Simone Weil:

 

Chúng ta cảm thấy như kẻ ngoại cuộc, bị bứt hết cội rễ,

bị đầy ải dưới trần gian. Chúng ta như Ulysses đã bị thuyền

nhân bắt cóc mang đi lúc đang ngủ, và thức giấc ở đất lạ, nhớ

về quê hương với một nỗi nhớ khủng khiếp, tưởng như xé

toác cả tâm linh . . . . [2]

 

Tuy nhiên, khác với người hùng tỉnh táo và nhiều lý trí đã lần được đường về nhà trong ngụ ngôn của Simone Weil, phần đông những nhân vật trong Nhà Ngụy mãi mãi là những kẻ vô cư vì họ thường bị đam mê và ảo ảnh lôi cuốn. Gã Việt kiều về thăm nhà trong "Hai Kẻ Đãng Trí" cũng như người ăn sen của Homer, say sưa túy lúy với bạn đồng hành trên chuyến xe lửa Thống Nhất từ Bắc vào Nam để vô tình đánh mất bao hành lý chứa những cuộn phim chụp hình đã ghi nhận từng đặc điểm trong chuyến hành trình–và vì thế đã bị đánh mất "cái nhìn" du khách, mất đi cái la-bàn để trở về nơi mà gã đã khởi hành. Fritz Glatman, một luật sư Mỹ ly dị, không có một ý niệm gì về văn hóa Á Châu, mơ tưởng mình sẽ được một hạnh phúc cấp tốc–như một món ăn fast food ở MacDonald–qua hình ảnh một cô vợ Á Đông "mail-order" từ Origami Geishas catalogue. Trong truyện "Chưa Tới Đã Ngủm," có thể là truyện ngắn buồn nhất của Nhà Ngụy và cũng là tự truyện của tác giả, Đinh Linh phác họa tâm trạng một cậu bé lớn lên trong một hoàn cảnh đã bị thui chột, hủy hoại—hoàn cảnh như một sự phá thai đã an bài. "Cậu bé" Đinh Hoàng Linh, mặc dù được đầy đủ trên phương diện vật chất, vì sống trong một gia đình có bố mẹ ly dị, và vì chứng kiến nhiều những thể hiện của bạo lực–từ chuyện đánh nhau trong khuôn sân nhà trường đến ảnh hưởng của giai thoại lịch sử và cảnh tượng chết chóc trên báo chí hàng ngày và phim thời sự–đã mất đi cái nhìn trẻ thơ. Vì hoàn cảnh, vì lịch sử, tâm hồn cậu bé đã thành chai đá–đã "chết" trước khi thành dân tỵ nạn, trước khi đặt chân lên đất Mỹ–dead on arrival—chỉ vì đã được sinh ra là người Việt Nam trong hậu bán thế kỷ 20.

 

Một vài nhân vật trong Nhà Ngụy, vì không nhà hay nhớ nhà, và không thể đồng hóa với nơi mà họ đang sinh sống, đã có những thèm khát dục vọng tương đương như cái thèm cho một món ăn quốc túy, hay thê lương hơn, cái thèm cho hương ấm, cho những gần gũi được thúc đẩy hoàn toàn bởi bản năng, cái thèm cho một trạng thái ấu trĩ kém văn minh. Trong truyện "555," một người đàn ông Việt tỵ nạn, vừa chân ướt chân ráo đến Mỹ, đã phung phí tiền lương lao động vào một "nhà xoa bóp" trong khu phố Tầu xập xệ của một thành phố lớn. Anh ta thích đi "văn nghệ" những cô gái nhà nghề "dễ chịu tuy không đẹp lắm" người Hoa hoặc người Đại Hàn, vì họ cùng màu da nhưng khác tiếng nói, và như vậy, anh cảm thấy có "những gần gũi trực tiếp, không bị ngôn ngữ che đậy." Trong "Túp Lều Của Chú Tom," Bùi, một thanh niên việt kiều nghèo xơ xác, đôi khi có những buổi giao cấu khô cằn, tẻ nhạt với Deborah, cô bạn hờ người da trắng. Mối liên hệ xác thịt của Bùi với người đàn bà bản xứ có đượm lẫn lộn mối trả thù dân tộc với sự thương hại, và cả sự ghét bỏ cho chính bản thân Bùi. Deborah là người da trắng, nhưng vì là thứ da trắng xấu xí dơ dáy, loại mà ngay những người Mỹ cũng khinh miệt gọi là "bọn da trắng rác rưởi" (white trash), đã vì vậy mà "kết bạn" với Bùi.

 

Mặc dù Hoa Kỳ và Việt Nam từ nhiều năm nay đã chính thức có những liên hệ ngoại giao và thương mại, những nhân vật trong Nhà Ngụy đã chứng tỏ cho ta thấy rằng hậu quả chiến tranh Việt Nam vẫn còn âm ỷ tồn tại qua nhiều bối cảnh cười ra nước mắt. Thảm họa chính của chiến tranh Việt Nam, của bất cứ một chiến tranh nào, là cái thiếu khả năng của con người trong sự tha thứ và quên đi những vết thương. Oái oăm thay, sự tha thứ và lãng quên không phải là ân xá mà đối với những kẻ đã hy sinh cho chiến tranh, chỉ là sự chối bỏ–một cách "thẩm mỹ hóa" dĩ vãng. Trong "Saigon Pull," nhân vật chính, một thương binh Việt Nam về hưu, đã suy ngẫm, " Quả là thế hệ mới không quen với những xấu xa, hay bất cứ một thứ gì quê mùa, què cụt, không ăn ảnh. Mọi nhắc nhở về chiến tranh đều làm tụi nó xấu hổ."

 

Trong những truyện ngắn với bối cảnh Việt Nam bon chen và đầy những khao khát vật chất, tác giả đã phơi bầy một nuối tiếc có phần sống sượng và hoàn toàn thực tế hóa, rằng biết đâu Việt Nam ngày nay lại chẳng phồn thịnh (như Đức Quốc và Nhật Bản) nếu Bắc Việt ngày trước đã chịu thua trận để ăn tiền bố thí của chú Sam. Người thương binh đứng tuổi trong "Saigon Pull" đã nhận xét, "Chúng nó nhìn thấy tụi du khách Mỹ ngoài phố rủng rỉnh những tiền và chẳng hiểu sao bọn cha ông chúng ngày trước lại đi đánh thằng Mỹ." Cái nuối tiếc ấy đã tiêu biểu cho một sự vỡ mộng não nề với cả hai chính sách ngoại giao Mỹ và lối nói khoa trương rỗng tếch của Đảng. Sự nuối tiếc ấy dù sao cũng thể hiện một cái nhìn rất chan thật của những tâm hồn đã bị hoàn cảnh làm cho uất ức, khô cạn–những tâm hồn, đến một lúc nào đó, đã không còn bị ảo ảnh trong hang động làm lu mờ lý trí.

 




[1] Lấy ý từ tựa đề tuyển tập truyện ngắn của Albert Camus, L’Exil et le Royaume (1957).

[2] Simone Weil, “Forms of the Implicit Love of God,” trong Waiting for God, tr. 178 (Emma Craufurd dịch, Harper & Row 1973).

 

Fake House
Stories
by Linh Dinh
Seven Stories Press.
224 pp. $23.95

 

“After Vietnam, however, Philadelphia will be possible again,” the narrator of Linh Dinh’s “Two Who Forgot” contemplates. Like the narrator of this short story in Fake House, from 1999 to 2001 Linh Dinh chose to become a repatriate by returning to work and live in Saigon–the city of his birth–to ponder the notion of home and personal identity after more than two decades of living as a refugee in America.

 

Proficient in English, Vietnamese, and now Italian, Dinh, who started out as an artist, is also a poet (Drunkard Boxing; American Tatts; Borderless Bodies; Jam Alerts) and translator (Night Again: Contemporary Fiction from Vietnam; Three Vietnamese Poets; Seven Poems of the Body), seems acutely aware of the multi-layered, transnational context that defines him as a postmodern satirist. In this sense, Dinh does not quite fit into the mold of Asian American writers born in the United States, whose literary sensibility, however affected by their Asian upbringing, is removed from the political turmoils of their parents’ homeland and as a result becomes mainly preoccupied with assimilation issues in the American context. Dinh, wielding an ironic, contemporary vernacular filled with scatological descriptions and violent images (not unlike visions created by the cartoonist R. Crumb), possesses an existential angst that transcends national boundaries. Perhaps the closest comparison would be to Peter Ho Davies (Equal Love; The Ugliest House in The World), his contemporary who currently lives and teaches fiction in the United States, but was born in Britain to Welsh and Chinese parents. Like Davies, Dinh’s ironic and detached voice acknowledges, but strives ceaselessly to pierce the confinement of ethnic and cultural contexts.

 

The title Fake House, for example,is both specific and ambiguous. It is the title of one of Dinh’s stories and refers to the shell structure of an abandoned warehouse, devoid of electricity and the accoutrements of a conventional living space. Fake House can also mean “Nha Nguy” in Vietnamese. “Nha” denotes either “home” or “country.” “Nguy” is a pejorative word used by the Vietnamese Communists meaning “fake” or “puppet,” to refer to the fallen, pro-American South Vietnamese government. Yet, stripped of historical and linguistic references, Fake House, as a metaphor for “false” foundation, can apply to any system of beliefs, depending on who the viewer is.

 

Structurally, Fake House is divided into two parts–the first part consists of nine stories taking place in the United States, whereas the second part consists of twelve stories taking place in Vietnam. At times, however, the two countries seem to be simultaneously imposed on one another, creating a fun house, bizarro effect–the effect of living in two places at once, or in a twilight zone of cultural and linguistic travesties.

 

In “Two Who Forgot,” for example, a viet-kieu (overseas Vietnamese) revisiting his homeland is cursed by a pedicab driver for being a “Nacirema” (“American” read backward). An ethnic mountain tribesman questions his allegiance in “The Cave,” “[w]e are citizens of a country called Vietnam, a word most of us can’t even pronounce. (Why Vietnam and not China ? Why not call it the United States ?) In “California Fine View,” a native Vietnamese thinks he has vicariously “attained” America by his acquisition of “Levy’s jeans” and his patronage of California Fine View restaurant, where “the pepperoni is real, but the cheese is fake” (because the Vietnamese digestive system generally cannot tolerate dairy products).

 

Linh Dinh dedicates Fake House to “the unchosen.” The dedication serves as a pithy introduction to his gallery of unredeemed outcasts–variations of the wedding guest “without the wedding garment” in Matthew’s parable, whose inappropriate dress and bad manners cause him to be exiled into the outer darkness, where “men will weep and gnash their teeth, for many are called, but few are chosen.” (Matthew: 22.1-14.)

 

This outer darkness–the exposed, borderless realm of Fake House–is akin to Simone Weil’s concept of affliction:

We feel ourselves to be outsiders, uprooted, in exile here below. We are like Ulysses who had been carried away during his sleep by sailors and woke in a strange land, longing for Ithaca with a longing that rent his soul[2] . . . .

However, unlike Weil’s rational and clear-headed hero who finally arrives home, i.e., redeemed by divine grace, Fake House’s various “homeless” characters: a Vietnamese-American man returning to Vietnam, who, like one of Homer’s lotus eaters, allows his impromptu bacchanalia on the Hanoi-Saigon train to literally and metaphorically erase his recorded memory (“Two Who Forgot”); a divorced American lawyer dreaming of instant fulfillment in the form of a mail-order bride from Origami Geishas catalogue (“Fritz Glatman”); a Vietnam war veteran living among ghosts on a remote Vietnamese mountaintop (“Chopped Steak Mountain”) are forever distracted and imprisoned by what Weil poetically refers to as “Calypso and the Sirens.” “Dead on Arrival,” perhaps the most poignant story in Fake House, presents an autobiographical portrait of the author as a young boy. In this story, Dinh illustrates how Weil’s notion of affliction–induced by numbing violence, war, and a dysfunctional father-son relationship–utterly destroys a child’s fragile moral universe and his capacity for love and trust.

 

For some of the inhabitants of Fake House, an inability to grow up (or assimilate) and a nostalgia for home translate into a hunger for uncomplicated sex with reverse racial and colonial overtones. In “555,” a Vietnamese refugee, recently arrived in the United States, squanders his payday earnings on “not so pretty, but pleasant” Chinese and Korean prostitutes because he thinks there is no “dissimulation–only intimacy” in having sex with Asians who are not Vietnamese. In “Uncle Tom’s Cabin,” Bui, a broke and self-hating young Vietnamese-American (whose name ironically means “rich and savory” in Vietnamese), engages in arid, joyless sex with his sometime Caucasian friend. Bui’s sexual encounter, tinged with pity and revenge, falls somewhere between masturbation and (metaphorical) incest. Bui’s “friend,” like himself, is neither physically desirable nor emotionally connected to others.

 

Dinh is an ambitious writer whose stories, while bleak and devoid of a higher moral order, are strangely, entrenchedly humanistic. In the years following renewed diplomatic and trade relations between the United States and Vietnam–which have resulted in blind optimism, unrestrained greed and denial on the part of denizens from both countries–his fictional characters show that the Vietnam War’s consequences linger on in more variegated, insidious contexts. The central tragedy that still plagues those who have been affected by the war is the inability to forget and forgive. Yet, to forget and forgive would be to erase, to “cosmeticize” the past. In “Saigon Pull,” the narrator, a disabled Vietnamese war veteran, muses, “It is true that the new generation has very little tolerance for ugliness, for whatever that is unglamorous, maimed, unphotogenic. All reminders of the war embarrass them.”

 

In “Saigon Pull,” Dinh exposes an outré sentiment that flies in the face of smug anti-war liberals, (yet shared by many overseas Vietnamese-Americans and Vietnamese currently living in Vietnam) that perhaps it would have been better for the North Vietnamese, like Germany or Japan in World War II, to lose the war and win the cash (“[t]hey see the cash-friendly Americans on the street and cannot imagine why we ever fought them”). Such sentiment reflects a profound postwar disillusionment with both American foreign policy and Communist Party rhetorics. It nevertheless represents the most honest assessment of the Vietnam debacle, by angry and depleted souls who are no longer deceived by the reductive images seen inside the Cave.


[1] An earlier version of this essay was published in the online edition of Rain Taxi Review of Books, Winter 2001-2001 issue, at
http://www.raintaxi.com/
online/2000winter/dinh.shtml

The essay’s title borrows Camus’ title of the same name in French, L’Exil et le Royaume.

[2] Simone Weil, “Forms of the Implicit Love of God,” from Waiting for God, p. 178 (tr. by Emma Craufurd, Harper & Row 1973).

bài đã đăng của Đỗ Lê Anhdao


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch