Trang chính » Sáng Tác, Tùy bút Email bài này

Nước non ngàn dặm…

0 bình luận ♦ 27.12.2010

 

 

 

“Nước non ngàn dặm ra đi …” là câu đầu tiên của bài ca Huế theo điệu Nam Bình. Lúc học năm thứ nhì trung học (nay là lớp bảy), đang còn là chú bé ngơ ngáo, tôi đã biết được hai câu của bài ca ấy nhờ đọc cuốn Đôi Bạn của Nhất Linh. Cũng lạ, Đôi Bạn cuốn hút cả vài thế hệ thanh niên trước năm 1945 đã đành, đứa nhóc con là tôi cũng say mê, rồi mê luôn Loan và Dũng, mê luôn cả đoạn văn có hai câu ca Huế ấy. Nay đọc lại cuốn tiểu thuyết nổi tiếng đó, lòng ham mê giảm bớt nhưng vẫn thấy bồi hồi như gặp lại một kỷ niệm đẹp của thời niên thiếu. Để thấy những thế hệ trước tôi “yêu” Dũng như thế nào, tôi xin trích dẫn một đoạn văn của Vũ Khắc Khoan trong Mơ Hương Cảng:

“… Trong ma túy lên đường, chướng khí rừng mạn ngược và sương độc núi lam biên giới, quân cờ (được gọi tên là Dũng) dần dần trút bỏ hình thù thô kệch giả tạo ban đầu, vụt lớn lên thần tượng, vóc dáng bao trùm cả một thế hệ … Dũng kỳ dị, beau ténébreux, hiện lên lãng mạn trên một nền mờ dịu của mây trắng mùa thu và gió heo may thổi lộng mặt sông hoang vắng…”

Thế thì bảo sao tôi lại không nhớ đến đoạn văn trong đó Dũng và Loan khẽ hát theo câu ca Huế ngày xưa:

“- Có mỗi việc quay cái máy hát cho anh em nghe mà các anh ấy bàn mãi chưa biết cử ai.

Loan vui mừng:

-Phải đấy. Cử tôi cho.

Cận nói:

-Nhưng chỉ có một cái đĩa.

Loan nói:

-Chắc lại vẫn cái đĩa Nam Bằng ngày xửa ngày xưa chứ gì?

Nàng vừa quay máy vừa hát khe khẽ:

-Nước non ngàn dặm ra đi…

Một lúc tiếng hát nổi lên. Trừ Dũng ra, còn người nào cũng chú ý lắng tai nghe.

Loan nói:

-Em thích cái đĩa này lạ.

Dũng ngâm theo đĩa hát:

-Thấy chim hồng nhạn…bay đi.

Loan không nói gì, vin một cành khế đầy hoa hồng và lấm tấm những quả khế xanh non, ngước mắt nhìn ra vẻ tìm xem có quả nào to ăn được chưa. Mùi hoa khế đưa thoảng qua, thơm nhẹ quá nên Dũng tưởng như không phải là hương thơm của một thứ hoa nữa. Đó là một thứ hương lạ để đánh dấu một khoảng thời khắc đã qua trong đời: Dũng thấy trước rằng độ mười năm sau, thứ hương đó sẽ gợi chàng nhớ đến bây giờ, nhớ đến phút chàng đang đứng với Loan ở đây. Cái phút không có gì lạ ấy, chàng thấy nó sẽ ghi mãi ở trong lòng chàng cũng như hương thơm hoa khế hết muà này sang muà khác thơm mãi trong vườn cũ.”

Rồi tôi tìm đọc và nghe nguyên bài ca Huế ấy, mà dưới đây là đoạn đầu:

Nước non ngàn dặm ra đi
Cái tình chi
Mượn màu son phấn
Đền nợ Ô Ly
Đắng cay vì đương độ xuân thì
Độ xuân thì
Số phận lao đao hay là cái nợ duyên gì
Má hồng da tuyết
Quyết liều như hoa tàn nguyệt khuyết
Vàng lộn theo chì
Khúc ly ca
Sao còn mường tượng nghe gì
Thấy chim hồng nhạn bay đi

Tiếng nhạc âm hưởng Chàm nghe buồn thê thiết ấy cùng với lời ca bi ai não nùng kể lại sự tích công chúa Huyền Trân.

Vào thời vua Trần Anh Tông (1293-1314), vua Chiêm Thành là Chế Mân cho sứ mang vàng bạc, châu báu, sản vật sang cống và xin cưới Huyền Trân Công Chúa theo như lời hứa gả trước kia của Thái Thượng Hoàng Trần Nhân Tông (1279-1293) khi Ngài còn sinh tiền nhân chuyến đi thăm Chiêm Thành. Trong triều có nhiều người không thuận, vua Anh Tông cũng chiều ý triều thần. Nhưng Chế Mân vẫn tha thiết xin cưới. Ta có thể suy đoán không sai lầm rằng công chúa Huyền Trân hẳn phải là một tuyệt thế giai nhân theo vua cha sang thăm đất Chàm, nhà vua đa tình Chế Mân trông thấy và không thể nào quên. Sau đó vua Chàm bèn xin dâng châu Ô và châu Ri (nay là Thừa Thiên- Huế) làm sính lễ, vua Anh Tông thấy lợi cho đất nước quá nên bằng lòng ngay. Giữa năm 1306 Công Chúa Huyền Trân về với Chiêm Thành. Việt và Chiêm khác huyết thống, khác tiếng nói, khác chữ viết, khác văn hoá, phong tục, tập quán, hẳn nàng công chúa “đương độ xuân thì” đó đã phải chịu muôn vàn “đắng cay” như được diễn tả trong lời ca dẫn trên.

Chuyện Huyền Trân Công Chúa đã là nguồn cảm hứng cho văn, thơ, kịch trong văn học nước nhà.

Nhưng không phải chỉ trong văn chương mà thôi. Huyền Trân Công Chúa được đặt tên cho một con đường thật đẹp gần nhà ga Huế trước1975. Vừa rồi, năm 2007, để tưởng niệm nàng công chúa đã “mượn màu son phấn” và “má hồng da tuyết” đánh đổi lấy một dải giang sơn gấm vóc mà gần 500 sau, vào năm 1802, vua Gia Long sau khi thống nhất sơn hà dùng làm kinh đô cho cả nước, Công Ty Du Lịch Hương Giang đã khởi công xây một ngôi đền có tên là Đền Huyền Trân. Phần chính của ngôi đền đã làm xong, và đang xây tiếp Trung Tâm Thiền Học, Thư Viện Phật Giáo. Toàn thể kiến trúc ấy chiếm một khu đồi núi khá rộng lớn cách thành phố Huế khoảng 4 cây số. Đó cũng là vùng có nhiều lăng tẩm của các vị vua triều Nguyễn. Vào khỏi chiếc cổng lớn của ngôi đền, khách viếng thăm gặp ngay bức tượng Huyền Trân Công Chúa thật đẹp, mặc áo cà sa, tạc bằng đá trắng, lớn hơn hình người thật, mắt nhìn xa về phía đỉnh núi. Ngay trước tượng là một chiếc lư bằng đồng cũng rất lớn, hương khói nghi ngút.

Kể ra công chúa Huyền Trân rất xứng đáng với lòng quý mến của dân tộc Việt Nam ta. Nhưng trong lịch sử nước nhà vẫn còn có những nàng công chúa khác noi theo tấm gương hy sinh ấy, cũng “đắng cay vì đương độ xuân thì”, tiếc thay gần như bị người đời hoàn toàn quên lãng.

Năm 1611, tiếp theo những tranh chấp biên giới, chúa Nguyễn Hoàng mang quân vào đánh nước Chiêm Thành lấy thêm đất lập ra phủ Phú Yên. Hai năm sau, Nguyễn Hoàng mất, con là Nguyễn Phúc Nguyên lên thay, đương thời gọi là chúa Sãi. Chúa Sãi có 11 hoàng tử, và 4 công chúa: Ngọc Đỉnh, Ngọc Liên, Ngọc Vạn, và Ngọc Khoa. Người con gái lớn là Ngọc Đỉnh gả cho Chưởng Cơ Nguyễn Cửu Kiều. Vị này về sau được thăng lên đến chức Hữu Quân Đô Đốc, phủ Mỹ Quận Công.

Năm 1627, chúa Trịnh Tráng lấy cớ chúa Nguyễn Phúc Nguyên, tức chúa Sãi, không chịu tiến cống, nạp thuế và cho con ra Thăng Long chầu vua Lê, bèn rước vua Lê đem đại binh vượt sông Linh Giang (sông Gianh) tấn công miền Nam. Khi cuộc chiến chống với chúa Trịnh Tráng đang diễn ra một cách quyết liệt tại địa đầu phía bắc, chúa Nguyễn Phúc Nguyên được tin ở Phú Yên lưu thủ Văn Phong hợp binh với Chiêm Thành nổi lên đánh phá ở phía nam. Vì bận đối địch với chúa Trịnh, Chuá Sãi bèn cử Phó Tướng Nguyễn Hữu Vinh vào nam đánh dẹp, đồng thời gả công chúa Ngọc Liên cho Phó Tướng. Hữu Vinh đại thắng, đổi phủ Phú Yên thành dinh Trấn Biên.

Tuy nhiên vùng địa đầu phương nam vẫn không yên ổn, Chiêm Thành và cả Chân Lạp thường cho quân quấy phá mong lấy lại đất cũ, trong lúc ấy cuộc chiến với chúa Trịnh ở phương bắc đang gay go. Chúa Sãi đành phải dùng mỹ nhân kế đem hai cô con gái cưng gả cho vua Chiêm và vua Chân Lạp: công chúa Ngọc Khoa về với vua Chiêm Po Romé, công chúa Ngọc Vạn về với vua Chân Lạp Chei Chetta. Cuộc bán gả như thế không ngoài mục đích dùng Chiêm Thành, Chân Lạp làm “phên dậu” ở phía nam. Quả thế, từ đó phương nam tạm yên để chúa Sãi, và tiếp theo các chúa Thượng, Chúa Hiền được rảnh tay chống với các chúa Trịnh. Nhưng ý đồ nam tiến của các chúa Nguyễn không phai nhạt. Sau đó không lâu, dinh Trấn Biên (phủ Phú Yên) được dùng làm bàn đạp cho những cuộc nam tiến khác. Dần dần các chúa Nguyễn chiếm hết đất Chiêm Thành và một phần đất của Cam Bốt tức là thuỷ Chân Lạp (theo Việt Nam Sử Lược của Trần Trọng Kim, Đất Việt Trời Nam của Thái Văn Kiểm, và Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên).

Trong tình thế ấy, số phận của hai nàng công chúa Ngọc Vạn, Ngọc Khoa ra sao, không thấy sử sách nói đến. Công chúa Huyền Trân đời Trần thì khác. Vua Chế Mân băng hà một năm sau khi lấy Huyền Trân. Theo tục lệ Chiêm Thành, Vua chết thì Hoàng Hậu phải lên giàn hỏa cùng nhà vua siêu thoát cho trọn nghĩa. Nhà Trần thấy thế bèn cử tướng Trần Khắc Chung vào Chiêm giải cứu cho Huyền Trân. Đến đây nhiều huyền thoại được thêu dệt mà dưới đây là hai chuyện thường được truyền tụng. Chuyện thứ nhất kể rằng sau khi cứu được Huyền Trân, từ Chiêm Thành ra Thăng Long mang tin lành cho vua Anh Tông mà Trần Khắc Chung đã lênh đênh dong thuyền trên sông trên biển đến hơn một năm trời thay vì chỉ mất độ vài ba tháng. Chuyện thứ hai thì bảo tướng Trần Khắc Chung đã quá già so với Huyền Trân đang là thiếu nữ, và Huyền Trân lại rất đau lòng vì bội ước với vua Chiêm, nên đã lên núi Yên Tử thuộc tỉnh Uông Bí xuất gia đầu Phật. Có lẽ Công Ty Du Lịch Hương Giang tin vào mẩu chuyện thứ hai nên cho đúc tượng Huyền Trân mặc áo cà sa.

Thế ra nước Việt Nam ta cũng đã từng là một đế quốc xâm lược. Đoạn biện luận dưới đây của sử gia Trần Trọng Kim trong Việt Nam Sử Lược nên được suy gẫm:

“Nước Chiêm Thành chính là nước Lâm Ấp ngày trước đã từng qua mấy trăm năm, cùng với họ Lý, họ Trần đối địch, chống với quân Mông Cổ, không cho xâm phạm vào cõi, lập nên một nước có vua, có tôi, có chính trị, có luật pháp. Nhưng chỉ hiềm vì nước ấy cứ hay sang cướp phá ở đất Việt Nam, thành ra hai nước không mấy khi hòa hiếu được với nhau.

Đã là đối địch thì không sao tránh khỏi được cái luật chung của tạo hóa là: khỏe còn, yếu chết. Vì vậy cho nên từ khi vua Thánh Tông nhà Lê đã lấy đất Quảng Nam và đã chia nước Chiêm ra làm ba nước rồi, thì từ đó về sau thế lực nước ấy mỗi ngày một kém, dân tình mỗi ngày một suy. Chẳng những là đến nổi mất nước với chúa Nguyễn mà chủng loại Chiêm Thành bây giờ cũng chẳng còn được mấy nghìn người nữa. Một nước trước như thế, mà nay như thế, dẫu rằng nước ấy đồng hóa với nước ta mặc lòng, song nghĩ cũng thương tâm thay cho những nước yếu hèn không tránh khỏi được cái họa:cá nhỏ bị cá lớn nuốt.”

Những bài học lịch sử như trên cần phải được lưu ý để tránh những vết xe đổ. Thế nhưng dường như lịch sử vẫn thường tái diễn, nay lại đến phiên đất nước Việt Nam ta là nạn nhân.

Trong những năm gần đây, ai cũng thấy ý đồ xâm lăng của Trung Quốc càng ngày càng lộ liễu trước những nhượng bộ thật khó hiểu của nhà cầm quyền Việt Nam, từ vấn đề biên giới, ải Nam Quan, thác Bản Giốc, đến rừng đầu nguồn, đến biển đảo, đến cao nguyên. Đặc biệt là cao nguyên – mái nhà của Đông Dương, điểm chiến lược trọng yếu nhất cho sự tồn vong lãnh thổ – dưới chiêu bài khai thác bô-xít, quân Tàu tiến vào bám trụ. Nhượng bộ như thế thì chắc chắn một ngày không xa nước Việt Nam sẽ không còn có gì để nhượng bộ nữa, và đâu đâu cũng sẽ có quân Trung Quốc. Thì chuyện gì sẽ xẩy đến? Nếu có chiến tranh, quân đội Việt Nam sẽ bị cắt đứt thành nhiều đoạn, sẽ không có hậu phương để yểm trợ tiền tuyến, sẽ không phải chỉ ở cái thế “lưỡng đầu thọ địch”, trái lại địch quân sẽ có mặt khắp nơi, bắc đổ về, biển lấn vào, cao nguyên tràn xuống, rừng túa ra. Liệu một thiên tài quân sự nào có thể mang lại chiến thắng cho Việt Nam bé nhỏ chống với Trung Quốc khổng lồ trước tình hình như vậy? Mà dù không có chiến tranh, người Trung Quốc trong một thời gian ngắn sẽ tràn ngập khắp lãnh thổ Việt Nam. Bằng những chuyến “du lịch” rầm rộ như nước chảy không cần chiếu khán. Bằng vô số những đoàn người đi “lao động”, có những khu biệt lập để họ sống riêng với nhau ngoài vòng pháp luật của Việt Nam, kết quả của những cuộc đấu thầu cho những công trình lớn lao mà Trung Quốc đoạt được gần hết. Bằng vô vàn những đám con buôn mang theo hàng hóa, thực phẩm dư thừa, rẻ mạt, độc hại, như rác rưởi, bị từ chối bởi những thị trường khác vì không hội đủ tiêu chuẩn kiểm phẩm, đem qua đổ đầy chợ búa, thành phố, thôn quê Việt Nam, vân vân và vân vân. Cứ thế, dân Tàu sẽ đông dần, rồi đông hơn dân sở tại, thì đánh đấm làm gì cho mang tiếng đế quốc xâm lược. “Bất chiến tự nhiên thành” mới là thượng sách chứ! Nếu mục đích của hầu hết những cuộc chiến tranh là vấn đề di dân, thì những gì đang xẩy ra tại Việt Nam đấy là cuộc di dân vĩ đại có tính cách “cốt lõi” của người Tàu. Và nếu thế, Việt Nam sẽ biến thành “Nam Tạng”?

Nhưng tại sao lại có tình trạng ấy? Tại vì Trung Quốc đã có đủ thế lực để sai khiến chánh quyền Việt Nam? Tại vì Trung Quốc cài người quá tinh vi, quá thâm độc, không ai có thể ngờ tới? Tại vì một số lãnh tụ cốt cán của bộ máy cầm quyền Việt Nam đang tâm bán nước? Và toàn dân Việt Nam đều đã bị đánh lừa, bó tay, bưng tai, bịt mắt? Người dân trong nước cũng như ở hải ngoại đang rất hoang mang, hoảng sợ trước thảm cảnh đó, thảm cảnh tổ quốc trước nguy cơ bị diệt vong. Không, ta có quyền hy vọng không phải như thế. Việt Nam với quá khứ vinh quang, tổ tiên bất khuất, con cháu không thể nào bỏ quên truyền thống, không thể nào chịu làm nô lệ cho ngoại bang. Nhiều người đã bất chấp tù đày và nguy hiểm cho tính mạng đang vùng lên phản kháng, đấu tranh.

Xin trở lại với Ngọc Vạn, Ngọc Khoa. Công nghiệp của hai vị công chúa ấy rất đáng được ca ngợi. Tiếc thay, nếu Huyền Trân Công Chúa được vinh danh trong lịch sử, trong văn thơ, trong lòng người, thì hai người con gái yêu của chúa Sãi ít ai biết. Chính sử cũng không thấy nói đến. May thay, trong Đại Nam Liệt Truyện Tiền Biên có ghi lại sự tích của hai vị ấy. Và cũng còn lại mấy bài thơ cảm khái, ít người biết, một của Tân Việt Điểu, một của Á Nam Trần Tuấn Khải. Xin ghi lại dưới đây:

Ngọc Vạn, Ngọc Khoa vững một niềm,
Vì ai tô điểm nước non Tiên?
Chị lo giữ vẹn tình Miên Việt,
Em nhớ làm tròn nghĩa Việt Chiêm.
Bà Rịa, Biên Hòa thêm vạn dặm,
Phan Lang, Phan Lý mở hai miền.
Non sông gấp mấy châu Ô Lý,
Nam tiến công người chẳng dám quên.

 

Tân Việt Điểu

      Cảm Vịnh Hai Bà Ngọc Vạn Ngọc Khoa

Hồng Lạc ta đâu hiếm nữ tài
Nghìn xưa Trưng Triệu đã từng oai.
Noi gương: Khoa, Vạn, hai Công Chúa
Một sớm ra đi mở đất đai.
Mối tình hữu nghị Việt Chiêm Miên
Thần xỉ mong sao được vững bền.
Chúa Sãi bao năm nhờ diệu kế
Giữ miền Nam Á đặng bình yên.
Đời vốn quen dùng sức lửa binh
Gây nhiều thảm họa khổ sinh linh.
Riêng đây ngọc lụa thay gươm giáo
Trăm họ âu ca hưởng thái bình.
Cũng vì hạnh phúc của muôn dân
Vì nước, vì nhà, sá quản thân.
Lá ngọc cành vàng coi nhẹ bỗng,
Hiếu trung cho trọn đủ mười phân.
Những tiếc riêng cho phận nữ hài
Đem thân giúp nước há nhường trai.
Vắng trang lịch sử, nào ai biết
Người đã hy sinh vị giống nòi.
Tới nay kể đã mấy tinh sương
Mượn bút quan hoài để biểu dương:
Bà Rịa, Phan Rang ngàn vạn dặm
Công người rạng rỡ chốn quê hương.

Sài Gòn, ngày 15-7-1959
Á-Nam Trần Tuấn Khải

Lịch sử của các nước ở Châu Âu cũng có ghi lại khá nhiều cuộc hôn phối giữa vua nước này với công chúa nước khác. Hoàng Đế Napoléon đệ nhất của nước Pháp chẳng hạn, để tránh sự đối kháng của nước Áo, đã bỏ Joséphine và cưới Marie-Louise, công chúa nước Áo, làm vợ.

Gần gũi với ta hơn là Trung Quốc. Đông Chu Liệt Quốc, một cuốn sách giá trị trong cổ văn Trung Hoa, ghi lại rất nhiều cuộc thông gia giữa các nước chư hầu. Sau đây là một chuyện:

“Bấy giờ Tề Cảnh Công đã tuổi già, sức yếu, trong cung chỉ còn một nàng gái út chưa định vu quy, lòng không nỡ đem bỏ sang nước Ngô. Ngặt vì trong triều không có người tài, ngoài biên không có tướng giỏi, nếu trái mệnh nước Ngô, sợ quân Ngô kéo sang đánh phá, nước Tề sẽ phải một phen tan tác như nước Sở vừa rồi. Quan Đại Phu là Lê Di cũng khuyên Tề Cảnh Công chớ nên làm cho Ngô tức giận, phải gả nàng gái út Thiếu Khương về Ngô. Tề Cảnh Công thương con gái, nước mắt chảy ròng ròng, sai quan Đại Phu Bảo Mục đưa Thiếu Khương đi, và dặn:

‘Khanh nói với vua Ngô đây là con gái yêu của ta, xin vua Ngô hết lòng chăm sóc cho.’

Thiếu Khương tuổi còn nhỏ, dẫu được kết duyên với Thái Tử nước Ngô, nhưng ngày đêm tưởng nhớ đến cha mẹ khóc hoài không thôi.

Thái Tử thương vợ, thường an ủi, nhưng nàng vẫn luôn luôn sầu thảm, dần dần sinh bệnh. Vua cha là Hạp Lư cũng quý nàng dâu, cho xây cái đài lộng lẫy ở cửa Bắc cho nàng giải muộn. Tuy nhiên lòng hoài hương của người xa quê không thể giải buồn bằng cảnh vật bên ngoài, Thiếu Khương mỗi ngày mỗi xanh xao vàng võ. Khi gần chết, nàng xin Thái Tử:

‘Thiếp nghe nói đứng trên đỉnh núi Ngu Sơn có thể trông về Đông Hải, xin Thái Tử chôn thiếp ở đấy, may ra hồn thiêng còn thấy nước Tề.’

Nàng được toại ý. Riêng Thái Tử thương nhớ nàng Thiếu Khương quá, thành bệnh, chẳng bao lâu cũng chết.”

Thời Đông Chu Liệt Quốc bên Tàu kéo dài 500 năm từ năm 722 đến 221 trước Tây lịch, Thiên Tử là vua nhà Chu, còn các vua của những vùng cát cứ chỉ là những vị được Thiên Tử phong tước hầu, cấp đất, nên được gọi là chư hầu. Các chư hầu phải giữ lệ tiến cống hàng năm cho vua trung ương tức là vua nhà Chu.

Theo Nguyễn Hiến Lê (Sử Trung Quốc): “Đất nào cũng là đất của nhà Chu, người nào cũng là dân của nhà Chu. Cho nên ta thấy dân một nước khi không chịu được chế độ hà khắc của nhà cầm quyền thì bỏ qua nước khác; một kẻ sĩ không được trọng dụng ở nước này thì bỏ qua nước khác. Khổng Tử, Mạnh Tử và tất cả các kẻ sĩ thời Xuân Thu và Chiến Quốc đều như vậy.” (Thời Xuân Thu và thời Chiến Quốc gộp lại thành đời Đông Chu – NT chú thích).

Nói một cách khác, Trung Quốc là một nước rộng mênh mông gồm nhiều nước chư hầu khác nhau, tất cả đều phục tùng chánh quyền trung ương là nhà Chu. Họ có những phong tục riêng, tiếng nói riêng, nhưng cùng san sẻ nền văn hóa đại đồng tiểu dị, và đặc biệt là có cùng một chữ viết. Về sau, nhà Chu càng ngày càng suy yếu, các chư hầu nổi lên tranh giành đất đai và quyền thế gây nên cảnh chiến tranh liên miên tưởng như không bao giờ dứt, cho nên thời đó gọi là thời Chiến Quốc. Không những thế các chư hầu cường thịnh lại được thăng tước “Công”, và chư hầu nào mạnh nhất thì làm bá chủ phò nhà Chu đồng thời khống chế những chư hầu khác, như Tề Hoàn Công, Tấn Văn Công, Tần Mục Công, Tống Tương Công. Lại có chư hầu xưng “Vương” như Sở Trang Vương, Hạp Lư Ngô Vương, Câu Tiễn Việt Vương. Các vua chư hầu vì lý do này hay lý do khác, hoặc vì muốn có đồng minh, thường kết thông gia với nhau. Trường hợp công chúa Thiếu Khương nước Tề được gả cho Thái Tử nước Ngô không phải là chuyện hy hữu.

Nước Tề và nước Ngô có thể xem như hai tỉnh của một nước lớn trị vì bởi vua nhà Chu, thế mà nàng công chúa nước Tề đi lấy chồng xa ở nước Ngô đã không thể chịu đựng được nỗi nhớ nhà để đến nổi lâm bệnh mà từ trần. Cho nên từ đó ta có thể nghĩ rằng công chúa Huyền Trân, và nhất là hai công chúa Ngọc Khoa, Ngọc Vạn còn đau khổ gấp nhiều lần nếu so với nỗi khổ của công chúa Tàu sống cách đây hơn 2500 năm. Thế còn công chúa Mrie-Louise nước Áo, con của vua Francois II, kết duyên với Hoàng Đế Napoléon đệ nhất? Ở phương Tây, nữ giới được quý trọng từ lâu. Sau khi Napoléon thất trận bị đem đi đày, Marie-Louise hai lần tái giá với các nhà quý tộc nước Áo.

*

Con người sinh ra vốn bình đẳng, hầu hết các tôn giáo đều dạy như thế. Mọi người dân đều bình đẳng trước pháp luật, hiến pháp của những nước văn minh, tiến bộ đều ghi nhận như thế. Vậy, trên một bình diện khác, nếu thử cân nhắc, nỗi thống khổ của hàng trăm ngàn người so với của một vài người thì bên nào đáng được quan tâm hơn?

Trong những năm gần đây, đàn bà, con gái Việt Nam nghèo đói, ít học, phải rời bỏ quê hương đi kiếm sống tại những nước xa xôi như Đài Loan, Đại Hàn, Thái Lan, Hồng Kông, Macao, Malaysia, Trung Đông v.v… Họ cũng “nước non ngàn dặm ra đi…” Họ kiếm sống bằng nghề làm “cô dâu”; họăc may vá; họăc chăm sóc người già, dọn dẹp nhà cửa, chùi cầu tiêu, giặt giũ v.v… tức là làm nghề đầy tớ; dưới sự sắp xếp của chính quyền trong nước và các công ty môi giới. Lại có cả nhiều nhóm phi pháp lừa đảo tổ chức buôn bán người ra nước ngoài để làm nô lệ tính dục. Hoàn cảnh ấy quả thực hết sức lạ lùng mà người phụ nữ Việt Nam xưa nay chưa hề biết tới. Không nói được, không nghe được, không đọc được ngôn ngữ của những nước họ đến, họ chẳng khác gì người câm, điếc, đui. Lại không có tay nghề chuyên môn, không quen phong tục, tập quán, không được bảo vệ bởi một tổ chức nào kể cả cơ quan chịu trách nhiệm là công ty môi giới, tuyệt đại đa số những thiếu nữ, phụ nữ đáng thương ấy bị đối xử một cách tàn tệ. Bị đốc công của những hãng xưởng hà hiếp, hành hạ, bị những ông chồng già yếu, bệnh tật đánh đập, gây thương tích, đó là chuyện xẩy ra thường xuyên. Có người bị dùng làm “cô dâu” cho nhiều người trong một gia đình, có người bị cưỡng bức cắt bớt một bộ phận trong cơ thể để bán cho bệnh viện, có người được mua bảo hiểm nhân thọ và được cho sống năm bảy tháng, sau đó bị giết chết để “người chồng” hưởng tiền bảo hiểm. Những thảm cảnh ấy được báo chí trong nước, ngoài nước, trên mạng, đăng tải nhiều lần. Một tháng trước đây, một ông chồng người Đại Hàn đánh chết người vợ Việt Nam thuộc dạng đi kiếm sống như nói trên. Thế mà lạ thay, chánh quyền Việt Nam vẫn thờ ơ và tiếp tục liên kết với những công ty môi giới tổ chức những cuộc “đưa dâu”, họăc xuất cảng lao động. Và lạ lùng hơn nữa, vẫn có vô số những người đàn bà xấu số sẵn sàng xa lìa quê hương, “nước non ngàn dặm ra đi.”

Vừa qua, ngày 2/12/2010 Đài RFI (Đài Quốc Tế Pháp Quốc) loan tin: “Tin vào những lời quảng cáo tuyển dụng của các công ty môi giới lao động xuất khẩu, rất đông người lao động Việt Nam, chủ yếu ở các vùng thôn quê nghèo, đã đổ xô đến nạp đơn xin được sang đảo Chypre bán sức lao động với hy vọng thoát khỏi cảnh nghèo khó, lam lũ ở quê nhà mà không biết điều gì đang chờ đợi họ ở xứ sở xa xôi kia.”

Trong một cuộc phỏng vấn, đài RFI cho biết 13 ngàn người Việt Nam, đại đa số thuộc nữ giới, đã được, hay đúng hơn đã bị, mang đến hòn đảo Chypre nhỏ bé xa xôi ấy, với diện tích 9251 km2, với dân số khoảng 80 ngàn người. Đảo Chypre nằm trên Địa Trung Hải phía dưới Thổ Nhĩ Kỳ. Ai cũng thấy rằng 80 ngàn dân trên hải đảo không thể nào thuê mướn, sử dụng cho hết số 13 ngàn người Việt Nam ấy. Cho nên ở thì không có việc làm, đi thì không biết đi đâu, giấy tờ do công ty môi giới giữ, lại cũng không có tiền để mua vé máy bay trở về Việt Nam, họ đã bị dồn vào chân tường.

Ngoài 13 ngàn người nói trên, còn có biết bao nhiêu người khác trong vòng mươi năm gần đây đã bị đày đọa như thế. Chỉ làm một con toán nhỏ đủ thấy số người cùng khổ ấy lên đến hàng trăm ngàn. Cuộc sống của con người Việt Nam vào thế kỷ 21 này lại bi đát đến thế hay sao? Có dân tộc nào trên thế giới đã phải chịu đựng những khổ nạn như thế không?

Ta thương xót công chúa Thiếu Khương sống cách đây hơn 2500 năm của Trung Quốc dù nước này hiện đang manh tâm xâm phạm lãnh thổ nước ta; ta cảm kích trước tấm gương hy sinh của công chúa Huyền Trân đời Trần sống cách đây 700 năm – một đền thờ đồ sộ, lộng lẫy, tốn kém được dựng lên để tưởng niệm; ta mủi lòng khi được biết hai công chúa Ngọc Khoa, Ngọc Vạn sống cách đây gần 400 năm đã bị lịch sử lãng quên; nhưng dường ta lạnh nhạt, vô cảm trước nỗi đau khổ và nhục nhã của hàng ngàn người, hàng trăm ngàn người đàn bà Việt Nam cùng sống với ta ngay trong thời đại này. Phải chăng chúng ta, người Việt Nam mà thôi, đang sống trong một thời đại đầy nghịch lý. Và chúng ta cũng là kẻ đóng góp rất tích cực vào cái nghịch lý ấy?
 

12/2010

 

 

 

.

bài đã đăng của Ngự Thuyết


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch