Trang chính » Biên Khảo, Dịch Thuật, Diễn từ, Lưu Hiểu Ba, Sang Việt ngữ Email bài này

Tôi không có kẻ thù


♦ Chuyển ngữ:
8 bình luận ♦ 23.12.2010

Lời giới thiệu của dịch giả Đinh Từ Thức: Lưu Hiểu Ba viết “Lời tuyên bố chót: Tôi không có kẻ thù” này vào ngày 23 tháng 12 năm 2009, hai hôm trước phiên tòa kết án ông 11 năm tù vào ngày Lễ Giáng Sinh 25 tháng 12, 2009. Lời tuyên bố của Lưu Hiểu Ba đã được nữ tài tử kiêm đạo diễn Liv Ullmann đọc tại lễ trao giải thưởng Nobel Hòa Bình tại Oslo ngày 10 tháng 12, 2010.

 

 

LXBmangapicture

Bức tranh "manga" vẽ cảnh Lưu nhận giải Nobel trong song sắt nhà lao ở tỉnh Liêu Đông (Trung Quốc)

 

Trong dòng đời của tôi trải qua hơn nửa thế kỷ,  tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng. Cho đến lúc ấy, tôi là thành viên của đợt sinh viên thứ nhất khi các cuộc thi tuyển vào đại học được lập lại sau Cách Mạng Văn Hóa (Khóa 1977). Từ cử nhân, cao học rồi tiến sĩ, sự nghiệp khoa bảng của tôi thuận buồm xuôi gió. Sau khi tốt nghiệp, tôi lưu lại dậy ở Đại học Sư phạm Bắc Kinh. Là một nhà giáo, tôi được sinh viên quý mến. Cùng lúc, tôi là một trí thức quần chúng, viết sách báo, gây náo động vào thập niên 1980, thường hay nhận được lời mời nói chuyện khắp nơi, và ra nước ngoài với tư cách học giả thăm viếng, do lời mời từ châu Âu và châu Mỹ. Điều tôi đòi hỏi từ chính mình là: dù trong cuộc sống hay trong văn phẩm, tôi phải lương thiện, trách nhiệm, và trọng phẩm giá. Sau đó, vì tôi từ Hoa Kỳ trở về tham gia Phong trào 1989 (Thiên An Môn), tôi bị tống giam vì “tội tuyên truyền chống cách mạng và nổi dậy.” Tôi cũng mất chỗ giảng dậy yêu mến và không còn có thể xuất bản bài viết hay diễn thuyết tại Trung Quốc. Chỉ vì phổ biến quan điểm chính trị khác biệt và tham dự sinh hoạt dân chủ bất bạo động, một nhà giáo mất chỗ dậy, một nhà văn mất quyền xuất bản, và một trí thức quần chúng mất cơ hội lên tiếng trước công chúng. Đây là một thảm cảnh, cho cá nhân tôi và cho cả Trung Quốc đã trải qua ba mươi năm Cải cách và Mở cửa.

Khi tôi nghĩ về điều này, những kinh nghiệm sâu đậm nhất của tôi sau biến cố mùng Bốn tháng Sáu, lạ thay, đều liên hệ tới tòa án: Cả hai cơ hội tôi được nói với quần chúng đều nhờ các phiên tòa ở tòa án Trung cấp Bắc Kinh, một lần vào tháng Giêng năm 1991, và hôm nay. Mặc dầu tội danh của mỗi vụ khác nhau, nhưng bản chất giống nhau, cả hai đều là tội về phát biểu.

Hai mươi năm đã qua, nhưng những hồn ma của mùng Bốn tháng Sáu vẫn chưa được yên. Khi ra khỏi trại giam Tần Thành vào năm 1991, tôi, người đã bị dẫn tới con đường bất đồng chính kiến vì liên hệ tinh thần tới mùng Bốn tháng Sáu, đã mất quyền nói công khai tại chính nước tôi, và chỉ còn có thể nói qua truyền thông nước ngoài. Vì điều này, tôi đã là chủ thể bị theo dõi thường trực, bị canh chừng tại nhà (từ tháng Năm 1995 đến tháng Giêng 1996) và bị gửi tới trại Lao động Cải tạo (từ tháng Mười 1996 đến tháng Mười 1999). Và bây giờ, một lần nữa, tôi lại bị tóm cổ như một kẻ thù của chế độ. Nhưng tôi vẫn muốn nói với chế độ này, dù đã lấy mất tự do của tôi, rằng tôi vẫn giữ vững lập trường đã được tôi diễn đạt trong “Tuyên Bố Tuyệt Thực mùng Hai tháng Sáu” hai mươi năm trước—tôi không có kẻ thù và không oán ghét. Không có cảnh sát nào đã theo dõi, bắt giữ, và khảo cung tôi, không có biện lý nào đã truy tố tôi, và không có thẩm phán nào đã xét xử tôi là kẻ thù của tôi. Mặc dầu tôi không thể chấp nhận việc quý vị đã theo dõi, bắt giữ, truy tố và tuyên án, tôi tôn trọng nghề nghiệp và tư cách của quý vị, kể cả hai vị biện lý, Trương Vinh Cách và Phan Thuyết Tình, là những người đang buộc tội tôi nhân danh biện lý cuộc. Trong cuộc thẩm vấn ngày 3 tháng 12, tôi đã có thể cảm thấy sự tôn trọng và thiện chí của quý vị.

Oán ghét có thể làm mất sự khôn ngoan và lương tâm của một người. Não trạng thù địch sẽ đầu độc tinh thần một dân tộc, khích động đấu tranh chết chóc tàn bạo, hủy hoại tính bao dung và nhân bản của xã hội, và cản trở bước tiến tới dân chủ tự do của một quốc gia. Đó là lý do vì sao tôi hy vọng có thể vượt qua những kinh nghiệm cá nhân để hướng tới sự mở mang và thay đổi xã hội, để đương đầu với sự thù hằn của chế độ bằng thiện chí tột cùng, và giải trừ oán ghét bằng yêu thương.

Mọi người biết rằng nhờ Cải cách và Mở cửa đã đem lại cho đất nước chúng ta sự phát triển và thay đổi xã hội. Theo tôi, Cải cách và Mở cửa bắt đầu với việc từ bỏ “dùng đấu tranh giai cấp như nguyên tắc chỉ đạo” trong chính sách nhà nước của thời đại Mao, và thay bằng một cam kết phát triển kinh tế và xã hội hài hòa. Tiến trình từ bỏ “triết lý đấu tranh” cũng là tiến trình giảm dần não trạng thù địch và loại bỏ tâm địa oán ghét, và một tiến trình vắt “sữa chó sói” đã từng thấm vào bản tính con người. Chính tiến trình này đã cung ứng một môi trường thoải mái, tại quốc nội và hải ngoại, cho Cải cách và Mở cửa, để phục hồi tình yêu thương lẫn nhau trong nhân dân và là mảnh đất mầu mỡ cho cộng đồng sinh tồn trong hòa bình giữa những quyền lợi và giá trị khác nhau, nhờ đó nở ra những sáng tạo thông dụng và tái phục hồi sự nồng thắm cùng sự khích lệ phù hợp với bản tính con người. Người ta có thể nói rằng từ bỏ lập trường “chống đế quốc và chống xét lại” về đối ngoại và “giai cấp đấu tranh” về đối nội là căn bản tiên khởi đã giúp cho Cải cách và Mở cửa tiếp tục đến nay. Chiều hướng thị trường trong kinh tế, đa dạng trong văn hóa, và thay đổi dần trong trật tự xã hội tiến tới cai trị theo pháp luật là tất cả được thừa hưởng từ việc suy yếu của “não trạng thù địch.” Ngay cả trên chính trường, nơi tiến bộ chậm nhất, sự suy yếu của não trạng thù địch đã dẫn tới gia tăng bao dung cho xã hội đa nguyên về phần của chế độ và sự suy giảm đáng kể về lực lượng đàn áp bất đồng chính kiến, và tên gọi chính thức của Phong trào 1989 cũng đã được thay đổi từ “gây rối và nổi loạn” thành “xáo trộn chính trị.” Sự suy giảm não trạng thù địch đã lát đường cho chế độ để lần hồi chấp nhận các nhân quyền phổ quát. Vào năm 1998, chính quyền Trung Quốc đã cam kết ký nhận hai Công ước quan trọng của Liên Hiệp Quốc về nhân quyền, tỏ dấu Trung Quốc chấp nhận các chuẩn mực về nhân quyền phổ quát. Vào năm 2004, Quốc Hội Nhân dân đã tu chính Hiến pháp, lần đầu tiên ghi vào Hiến pháp rằng: “quốc gia tôn trọng và bảo đảm nhân quyền,” tỏ dấu rằng nhân quyền đã trở thành một trong các nguyên tắc căn bản của pháp trị Trung Quốc. Cùng lúc, chế hộ hiện tại đã nêu cao tư tưởng “đặt nhân dân lên trước” và “Kiến tạo một xã hội hài hòa,” tỏ dấu tiến bộ trong quan niệm cai trị của Đảng Cộng sản Trung Quốc.

Tôi cũng đã có thể cảm nhận sự tiến bộ này trên tầm mức lớn hơn qua kinh nghiệm bản thân kể từ ngày tôi bị bắt.

Mặc dầu tôi vẫn giữ vững quan điểm là tôi vô tội và rằng những buộc tội chống lại tôi là vi hiến, trong khoảng trên một năm từ khi tôi bị mất tự do, tôi đã bị giam tại hai nơi khác nhau và trải qua bốn cảnh sát thẩm vấn trước phiên tòa, ba biện lý, hai thẩm phán, nhưng trong khi đảm nhiệm vụ án của tôi, họ đã không hề tỏ ra bất kính, quá giờ hạn định, hay cưỡng bách nhận tội. Cách cư xử của họ đã ôn hòa và hợp lý; hơn nữa, họ thường bầy tỏ thiện chí. Hôm 23 tháng Sáu, tôi được chuyển từ một nơi ở đấy tôi bị giữ trong tình trạng nơi ở bị theo dõi tới Trại giam số 1 thuộc Sở Công an Thành phố Bắc Kinh, gọi là Bắc khán. Trong sáu tháng tại Bắc khán, tôi đã thấy tiến bộ trong việc điều hành trại giam.

Vào năm 1996, tôi đã từng có thời gian ở tại Bắc khán cũ (tọa lạc tại Bán bộ kiều). So sánh với Bắc khán cũ hơn mười năm trước, Bắc khán hiện tại là một tiến bộ vượt bực, cả về “phần cứng”—là tiện nghi—và “phần mềm”—là điều hành. Cách riêng là về mặt quản trị nhân đạo tiên phong tại Bắc khán mới, dựa trên sự tôn trọng quyền và nhân cách của người bị giam, đã đem đến sự điều hành uyển chuyển biểu hiện trên mọi khía cạnh qua cách cư xử của ban cải huấn, và đã được tìm thấy biểu lộ trong ôn hinh quảng bá [những truyền thông có tính cánh an ủi người tù], Hối ngộ tạp chí, và âm nhạc trước khi ăn, thức dậy và đi ngủ. Cung cách điều hành này cho phép trại viên cảm thấy phẩm giá được tôn trọng và ấm lòng, khích lệ lương tâm họ trong việc giữ gìn trật tự trại giam và chống lại những phần tử côn đồ trong số trại viên. Chẳng những nó cung ứng một môi trường sống nhân đạo cho người bị giam giữ, nó cũng còn tiến bộ nhiều về môi trường diễn ra vụ án và trạng thái tinh thần của họ. Tôi đã có liên hệ gần gũi với viên chức cải huấn Lưu Tranh, người đã coi sóc tôi trong phòng giam, và sự tôn trọng cùng săn sóc của ông dành cho người bị giam có thể nhìn thấy qua mọi chi tiết trong việc làm của ông, tỏa ra từ mọi lời nói và cử chỉ của ông, cho người ta một cảm giác ấm cúng. Có lẽ đây là điều may mắn cho tôi được biết một người thành khẩn, trung thực, có lương tâm và một viên chức cải huấn tử tế trong thời gian tôi ở Bắc khán.

Chính vì những nhận thức như vậy cũng như do kinh nghiệm cá nhân khiến tôi tin chắc rằng sự tiến bộ về chính trị tại Trung Quốc không thể ngừng lại, và tôi, với đầy lạc quan, nhìn về phía trước đợi chờ một tương lai Trung Quốc tự do. Bởi vì không một sức mạnh nào có thể chấm dứt việc con người đòi hỏi tự do, và cuối cùng Trung Quốc sẽ trở thành một quốc gia cai trị theo luật pháp, ở đấy nhân quyền ngự trị tối cao. Tôi cũng hy vọng rằng loại tiến bộ này có thể phản ảnh tại phiên tòa này khi tôi đang đợi chờ một phán quyết vô tư từ thành phần xét xử—một phán quyết sẽ đứng vững trước thử thách của lịch sử.

Tôi xin được phép nói rằng, kinh nghiệm may mắn nhất trong hai mươi năm qua là tình yêu vị tha tôi đã nhận được từ vợ tôi, Lưu Hà. Nàng không thể có mặt để theo dõi phiên tòa hôm nay, nhưng tôi vẫn muốn nói với em yêu dấu, rằng anh tin chắc tình yêu của em dành cho anh sẽ mãi mãi như bao giờ. Trải qua những năm tháng anh sống không tự do, tình yêu của chúng ta đầy những cay đắng đặt để bởi những hoàn cảnh bên ngoài, nhưng khi anh nếm dư vị của nó, nó vẫn vô biên. Anh đang thi hành bản án trong một nhà tù hữu hình, trong khi em đợi chờ trong nhà tù vô hình của trái tim. Tình yêu của em là ánh mặt trời nhảy qua tường cao, xuyên qua song sắt cửa sổ phòng giam anh, vuốt ve mọi nơi trên da anh, hâm nóng mọi tế bào cơ thể anh, cho anh luôn giữ được ôn hòa, rộng rãi, và trong sáng trong tim anh, và làm đầy mọi giây phút của anh trong tù với ý nghĩa. Ngược lại, tình yêu của anh dành cho em, đầy những ân hận và tiếc nuối, đôi khi làm anh lảo đảo dưới sức nặng của chúng. Anh là hòn đá vô tri trong hoang dã, vùi dập bởi gió chướng mưa nguồn, lạnh lẽo tới mức không ai dám đụng tới. Nhưng tình anh vững chắc và sắc bén, đủ khả năng xuyên qua mọi chướng ngại. Ngay cả nếu anh bị nghiền thành bột, anh vẫn dùng tro anh ôm ấp em.

Em yêu, với tình yêu của em anh có thể bình thản đối diện phiên tòa trước mặt, không hề ân hận về những điều anh đã lựa chọn và lạc quan đợi ngày mai. Anh chờ đợi cái ngày khi đất nước của anh là nơi với tự do bầy tỏ, nơi tiếng nói của mọi người dân được đón nhận như nhau; nơi những giá trị khác nhau, tư tưởng, niềm tin và quan điểm chính trị . . . vừa được tranh đua với nhau và vừa được chung sống trong hòa bình; nơi cả quan điểm của đa số và quan điểm của thiểu số đều được bảo đảm ngang nhau, và cách riêng, nơi quan điểm chính trị khác biệt với quan điểm của những người đang cầm quyền sẽ được hoàn toàn tôn trọng và bảo vệ; nơi tất cả quan điểm chính trị sẽ được trải rộng dưới ánh mặt trời để cho người dân được lựa chọn, nơi mọi công dân có thể đưa ra quan điểm chính trị mà không sợ hãi, và nơi không một ai dưới mọi trường hợp có thể bị đau khổ vì bách hại chính trị do nói ra quan điểm chính trị khác biệt. Anh hy vọng rằng anh sẽ là nạn nhân cuối cùng của những tòa án dị văn chương khôn cùng của Trung Quốc, và rằng từ nay về sau sẽ không còn ai bị buộc tội vì lời phát biểu.

Tự do phát biểu là căn bản của nhân quyền, là nguồn của nhân loại, là mẹ của sự thật. Bóp nghẹt tự do ngôn luận là bóp nghẹt nhân quyền, ngạt thở nhân loại và cấm đoán sự thật.

Để thực thi quyền tự do phát biểu đã được công nhận trong Hiến pháp, người ta cần phải làm tròn nhiệm vụ của một công dân Trung Quốc. Tất cả những việc tôi đã làm đều không có điều gì phạm pháp. [Nhưng] nếu buộc tội tôi về những điều này, tôi chẳng hề kêu ca.

Xin cám ơn quý vị.

Nguồn: I Have No Enemies: My Final Statement

.

bài đã đăng của Lưu Hiểu Ba


8 bình luận »

  • Lương Thùy Châu viết:

    Ông Đinh Từ Thức dịch câu đầu tiên: “In the course of my life, for more than half a century, June 1989 was the major turning point” thành ra:

    “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.”

    Dịch như vậy là không đúng. Đề nghị sửa lại thành:

    “Trong cuộc đời tôi, hơn nửa thế kỷ qua, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.”

    Vì nếu dịch “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi…” thì không chỉ là sai ý, mà còn nghe như là ông Liu Xiaobo chỉ sống được hơn nửa thế kỷ thôi, tức là ông sắp chết rồi, và đây là lời trăn trối của ông!

  • black raccoon viết:

    sóng tự do

    lưu hiểu ba
    con sóng buổi sớm
    hay sẽ là
    trận cuồng phong
    tự do dân chủ
    nhân quyền !

    lưu hiểu ba
    con sóng rạng đông
    hay sẽ là
    cơn bảo nổi
    tự do bình đẳng
    con người !

    người tù lặng lẽ
    nhưng âm ba
    vang dội thế giới
    một ngàn năm sau
    cũng thế mà thôi !

    tự do cho dân tôi
    bình đẳng cho người
    dân chủ đó đây
    lưu hiểu ba
    ta chấp nhận
    thử thách
    cho tới tận cùng !

    劉 曉 波 = Lưu Hiểu Ba-Liu Xiao Bo
    曉 = buổi sáng sớm
    波 = sóng nước .
    曉 波 hiểu ba = con sóng buổi sáng sớm

    xiaobo means
    the morning wave
    or will be
    the storm of
    freedom, democracy
    and human rights !

    xiaobo means
    the morning wave
    or will be
    the typhoon of
    freedom, equal
    for human being !

    a silent prisoner
    but his sound wave
    is spreading all
    around the world
    for thousands
    of years long
    still the same !

    freedom for my country
    equal for my people
    democracy everywhere
    liu xiaobo it’s me
    i accept the challenge
    in difficulties, to the end !

    http://raccoon3805.blogspot.com/2010/12/liu-xiaobo-luu-hieu-ba.html

  • Bùi Vĩnh Phúc viết:

    Tôi xin có chút ý kiến về câu dịch của nhà báo Đinh Từ Thức. Dù sao, trước khi có ý kiến, xin được cám ơn dịch giả đã bỏ công phu dịch và cho phổ biến bản Việt dịch của mình một bài phát biểu rất đẹp của Lưu Hiểu Ba.

    Theo ý tôi, cách dịch một câu như câu của ông Đinh Từ Thức mà độc giả Lương Thùy Châu chỉ ra, nói chung, có thể dẫn đến sự không sáng rõ/mập mờ về ý nghĩa. Bởi lẽ dịch giả đã không bám sát vào cấu trúc cú pháp của câu văn gốc, trong đó có hai cụm từ (hoặc theo Nguyễn Tài Cẩn là “đoản ngữ”, và theo quan niệm của Cao Xuân Hạo là “ngữ đoạn”) là hai giới ngữ (prepositional phrase) đứng ở đầu câu, trước mệnh đề chính. Sự kết hợp hai đoản ngữ của dịch giả, dù sao, trong cảm nhận của riêng tôi, cũng làm câu văn gọn và gần gũi với “phong khí” Việt hơn. (Tôi xin phép không bàn kỹ về khái niệm “phong khí” này ở đây, vì điều đó hẳn sẽ đòi hỏi một sự nghiên cứu sâu, rộng và tỉ mỉ hơn nữa. Có lẽ, ta nên thay cụm “phong khí Việt” bằng một đoản ngữ như “lối viết gọn ghẽ, bình thường của đa số người Việt” chăng?)

    Tuy nhiên, trong trường hợp đặc biệt của câu dịch vừa nói, nếu nhìn theo góc cạnh mà tôi thử trình bày sau đây, tôi nghĩ câu dịch không sai:

    Nếu dịch giả bám sát vào văn bản và giữ nguyên cấu trúc câu văn gốc, câu dịch đề nghị của độc giả Lương Thùy Châu, theo tôi, rất sáng và rõ. Nhưng nếu dịch giả không chỉ bám vào những yếu tố trên bình diện nội văn bản (intra-textual level), mà còn mở rộng ra để tham chiếu những yếu tố ngoại văn bản, như con người, tiểu sử (trong đó có những thông tin liên hệ đến tuổi tác, quê quán của nhà văn), hoàn cảnh sáng tác, v.v…, thì, tôi nghĩ, dịch giả, trong trường hợp này, không sai. Dịch giả biết được rằng Lưu Hiểu Ba khoảng 54 tuổi khi viết bài phát biểu đó. Và, lúc ấy, ông chỉ đang sắp bị tuyên án tù chứ không phải sắp chết. Và bài phát biểu của ông được viết ra trong những hoàn cảnh và điều kiện đó. Bởi thế, câu dịch của nhà báo Đinh Từ Thức có lẽ nên được hiểu là: “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi (tính đến nay), tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.”

    Làm như thế, dịch giả, ở một mức độ nào đó, kết hợp được những hiểu biết và kiến thức của mình với những yếu tố nội văn bản trong khi dịch; đồng thời, một cách vô tình hay cố ý, mong và muốn những người đọc mình cũng có những “hiểu biết nền” về họ Lưu trước khi bước vào bản dịch.

    Dù sao, phải nhận là độc giả Lương Thùy Châu rất nhậy trong sự đọc văn và trong việc so sánh văn bản (ở đây là văn bản gốc và văn bản dịch.) Vấn đề, trong trường hợp của câu văn dịch này (hoặc đối với những câu mà ở một số góc cạnh nào đó có những khía cạnh, những khúc mắc tương tự), là người đọc, nói chung, sẽ đánh giá thế nào về một phong cách dịch mà ta đang quan tâm. Đánh giá TÍCH CỰC, vì người dịch đã kết hợp được cả việc bám sát vào các yếu tố nội văn bản với những hiểu biết ngoại văn bản của mình để thực hiện câu dịch. Đồng thời, dịch giả cũng có thể đã ngầm đánh giá cao người đọc của mình khi mong muốn hoặc mặc định rằng họ có một “hiểu biết nền” về tác giả khi tiếp cận với dịch bản. Hay đánh giá TIÊU CỰC, vì dịch giả, ở một mức độ nào đó, đã đi vượt ra khỏi văn bản gốc, xáo trộn cấu trúc, và đưa cả những hiểu biết ngoại văn bản của mình vào bản dịch nữa.

    Đây có lẽ là một trong một số vấn đề đã được giới dịch thuật nói chung, dịch văn học nói riêng, thảo luận nhiều. Và có lẽ sẽ còn tiếp tục thảo luận thêm nữa trong tương lai. Trong trường hợp này, ở đây, một lần nữa, tôi chỉ muốn cám ơn dịch giả Đinh Từ Thức đã cho độc giả một bản dịch sáng và đẹp, nói chung, của một văn bản cũng thật đẹp và sáng. Ngoài ra, cũng xin cám ơn độc giả Lương Thùy Châu đã “raise awareness” (nâng cao ý thức) của người đọc về một vấn đề tế nhị của sự dịch văn và thưởng văn.

    bvp

  • black raccoon viết:

    tam quốc

    khổng minh
    gia cát lượng
    chàng mặt ngọc
    thư sinh ngủ nướng
    chiếc lều tranh
    hớp nước lạnh
    thì cũng đủ cho hắn
    hít thở đạo kiền khôn

    vân trường
    hớn thọ đình hầu
    yểm nguyệt
    thanh long đao
    loé sao trời
    tay sách xuân thu
    và con ngựa xích thố

    người ngưỡng mộ
    hào kiệt với anh hùng
    còn ta rất cám ơn em
    điêu thuyền bế nguyệt
    nàng con gái
    đẹp não lòng tam quốc

    black raccoon
    _____________________

    Kính chào hai vị Đinh Từ Thức và Bùi Vĩnh Phúc. Xin tự giới thiệu, tui là một đọc giả từng đọc và hâm mộ hai vị. Tui có xem qua quyển sách phê bình văn học của BVP . Bài viết về thơ Tô Thuỳ Yên của ông thật hay. Còn ông Đinh Từ Thức, có phải là Sức Mấy không ? Cái thời ông viết phiếm luận trên báo chí miền Nam trước 75, tui còn mài đũng quần ngồi ghế nhà trường . Sau đó, đi lính thì có đọc ông vài lần . Dường như, lúc ấy có người bảo : ” Sức Mấy với VIP KK là hai cây luận phiếm văn hay nhứt thời đó .”
    A, nếu là SM với BVP mà tui biết, xin gửi tặng bài thơ trên . Coi như là món quà mọn văn nghệ cuối năm. Năm mới, chúc quí vị vui nhiều. Kính.

    Ps.
    Nghe ông BVP bàn sơ về “phong khí Việt”. Lạ thật đó ông Phúc. Có thể nào, nhà văn cho một bài ngăn ngắn về pkV hay không ? Thì cứ gọi bằng 3 chữ phong khí Việt, có làm sao?

    Kính chào.

  • Đặng Trần Minh viết:

    Tôi thấy thiện ý của nhà văn Bùi Vĩnh Phúc khi ông bàn về câu dịch của nhà báo Đinh Từ Thức, nhưng sự phân tích của nhà văn BVP có vẻ mang tính “advocatory” và chưa đủ thuyết phục.

    1) Xin nhà văn giải thích rõ hơn: Tại sao câu “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng” (dịch kiểu Đinh Từ Thức, sót/lệch ý so với bản gốc) lại mang “phong khí Việt Nam” nhiều hơn câu “Trong cuộc đời tôi, hơn nửa thế kỷ qua, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng” (dịch kiểu Lương Thùy Châu, chính xác theo ý bản gốc)? Phải chăng người Việt Nam không thể có lối nghĩ, lối viết chính xác như thế?

    2) Việc sử dụng những “hiểu biết ngoại văn bản” để làm phong phú ý nghĩa bản dịch là điều rất hay, nhưng sự kiện “ông Lưu Hiểu Ba khoảng 54 tuổi khi viết bài phát biểu đó” là một sự kiện hầu như ai cũng biết từ khi danh tiếng ông ta trở nên lừng lẫy trên thế giới sau phiên tòa cuối năm 2009. Do đó sự kiện này không còn là một “hiểu biết ngoại văn bản” mà dịch giả ngầm đem vào câu dịch vì muốn “đánh giá cao người đọc của mình”.

    Điều quan trọng là chính ông Lưu Hiểu Ba cũng không tự phát biểu “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng”, mà ông ta đã phát biểu rõ ràng “Trong cuộc đời tôi, hơn nửa thế kỷ qua, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng”, vì câu này mới diễn tả chính xác điều ông muốn nói.

    3) Khi phân tích câu dịch của nhà báo ĐTT, chính nhà văn BVP đã phải bổ sung thêm cụm từ “tính đến nay” để làm ý nghĩa câu dịch được đầy đủ, chính xác: “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi (tính đến nay), tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.” Ý nghĩa của cụm từ “tính đến nay” không hề thừa chút nào, nên không thể bỏ đi được, không thể “hiểu ngầm” được. Thử so sánh sự khác biệt quan trọng giữa hai câu:

    “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.”
    “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi (tính đến nay), tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng.”

    4) Nếu dịch ra tiếng Việt là “Trong cuộc đời hơn nửa thế kỷ của tôi, tháng Sáu năm 1989 là khúc quanh quan trọng”, thì khi dịch ngược lại tiếng Anh, nó sẽ thành:

    “In the more than half-a-century life of mine, June 1989 was the major turning point”
    (tức là cuộc đời của ông Lưu Hiểu Ba chỉ dài hơn nửa thế kỷ, trong đó biến cố June 1989 là khúc quanh quan trọng)

    Câu này hoàn toàn khác ý nghĩa với câu của ông Lưu Hiểu Ba:

    “In the course of my life, for more than half a century, June 1989 was the major turning point”
    (tức là ông Lưu Hiểu Ba vẫn đang sống, và nhìn lại hơn nửa thế kỷ qua, ông ta thấy biến cố June 1989 là khúc quanh quan trọng)

    Vì ông Lưu Hiểu Ba vẫn còn sống dài dài (và chắc chắn là không có ý định tự tử ngay lập tức) nên ông ta đã không nói: “In the more than half-a-century life of mine, June 1989 was the major turning point”!

    5) Giả sử ông Lưu Hiểu Ba đã nói “In the more than half-a-century life of mine, June 1989 was the major turning point”, thì câu dịch của nhà báo ĐTT hoàn toàn chính xác, không có gì đáng phàn nàn. Và có lẽ giờ đây thế giới đã để tang cho ông Lưu Hiểu Ba rồi.

    6) Nói tóm lại, tôi cho là nhà báo ĐTT vì dịch nhanh nên hơi sơ suất khi dịch câu đầu tiên của bài phát biểu của ông Lưu Hiểu Ba, chứ không phải vì muốn làm tăng “phong khí Việt Nam” trong câu dịch hay muốn “ngầm đánh giá cao người đọc” mà cố tình dịch sót/lệch ý của ông Lưu Hiểu Ba như thế.

  • Nguyễn Anh Thăng viết:

    Ông BVP viết: “Có lẽ, ta nên thay cụm “phong khí Việt” bằng một đoản ngữ như “lối viết gọn ghẽ, bình thường của đa số người Việt” chăng?” Đã có phong khí Việt thì ắt phải có phong khí Mỹ, phong khí Pháp, phong khí Đức, phong khí Lào,..? Nếu được xin ông cho biết rõ những đặc tính cũa một vài phong khí kể trên. Ông nêu ra “lối viết gọn ghẽ” là một đặc tính cũa phong khí Việt, xin ông cho biết rõ tiêu chí va` những thí dụ về cách thẩm định tiêu chuẩn “lối viết gọn ghẽ” trong các ngôn ngữ khác nhau trên thế giới Có phải những tử ngữ là những ngôn ngữ thiếu tính “lối viết gọn ghẽ” còn sinh ngữ thì ngược lại?

  • Bùi Vĩnh Phúc viết:

    * Mến gửi anh Lý Ốc (“Black Raccoon”),

    Được người đọc theo dõi đã là một hạnh phúc. Được theo dõi và quý mến, như tình cảm mà anh đã trao tặng, thì lại hạnh phúc gấp đôi. Xin thành thật cám ơn lòng quý mến của anh.

    Về chuyện “phong khí”, dĩ nhiên là tôi không bàn chuyện dưỡng sinh hay Đông y chữa bệnh, cũng không bàn về máy điều hòa nhiệt độ mà người Nhật gọi là “lãnh phong khí” (reifuki), mà có lẽ cũng không hoàn toàn nói chuyện theo tinh thần luận bàn của Lê Quý Đôn khi ông nói về vấn đề “phong khí” trong sách “Vân Đài Loại Ngữ”. Tôi chỉ muốn giản dị dùng nó theo nghĩa là “tinh thần”, hay rộng hơn một chút: “phong độ”, “phong cách”. Theo đề nghị của anh, và cũng để chia sẻ một số ý kiến với độc giả Đặng Trần Minh, tôi có thử bàn về “phong khí Việt” (trong vấn đề viết lách) và về một số khía cạnh ngôn ngữ nói chung trong bài viết mới nhất của tôi: “Dịch và …dịch: một thoáng nhìn”. Mong anh đọc và cho ý kiến.

    Một lần nữa, xin cám ơn những tình cảm tốt đẹp mà anh đã dành cho tôi.

    * Độc giả Đặng Trần Minh:

    Xin cám ơn những góp ý quý báu của ông. Tôi đã chia sẻ một số ý kiến của tôi về những góp ý của ông trong một bài mới viết: “Dịch và …dịch: một thoáng nhìn”. Tôi đã gửi bài cho BBT Da Màu. Hy vọng bài sẽ được đưa lên sớm.

    * Độc giả Nguyễn Anh Thăng:

    Ông có thể xem bài viết nêu trên.

    bvp

  • Đinh Từ Thức viết:

    Bản dịch Tuyên bố của ông Lưu Hiểu Ba đã được DM cho đăng vào dịp nghỉ Lễ Giáng Sinh. Như nhiều người khác, tôi cũng đã may mắn có được những ngày nghỉ tuyệt vời, nhìn con cháu bơi lội trong khi bão tuyết làm tê liệt miền Đông Bắc Hoa Kỳ.

    Thời gian nghỉ lễ đã không thuận tiện cho tôi sớm hồi đáp những phản hồi quý báu của nhiều bạn đọc. Xin chân thành cảm ơn tất cả quý vị: Lương Thùy Châu, black raccoon, Đặng Trần Minh, “ẩn sĩ Boston,” Nguyễn Anh Thăng, và nhất là ông Bùi Vĩnh Phúc; tất cả quý vị đã cho những ý kiến bổ ích, giúp tôi học hỏi được nhiều.

    Vì những điều muốn thưa cùng quý vị quá dài cho khuôn khổ một phản hồi, tôi đã viết thành bài “Về bản dịch Tuyên bố của Lưu Hiểu Ba”, xin BBT cho đăng ở trang 1. Mời quý vị đón đọc bài này, đã đăng trên Da Màu hôm nay, ở http://damau.org/archives/17735

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch