Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Không Ai Yêu Thương Tôi

 

 

 

“Không ai yêu thương tôi
ngoại trừ mẹ tôi
nhưng có thể bà cũng chỉ bỡn đùa thôi . . .”
(dịch từ bài hát Nobody Loves Me – B.B. King)
 

Ngày mẹ gã từ Việt Nam qua, gã dặn tên gã là Daniel. Gã tập cho mẹ gã phát âm cái tên Daniel. Gã bảo: Nói cho đúng, kẻo Tây người ta cười. Tây nào cười? Mẹ gã hỏi. Gã đáp: Thằng Henry chẳng hạn. Thằng Henry sống chung trong nhà với gã từ lâu, trước khi mẹ gã qua. Thế mà mẹ gã cứ quên, cứ gọi gã là Phúc. Gã khó chịu. Gã đã xóa sổ nó từ lâu. Bằng lái xe, bảo hiểm y tế, tài khoản ngân hàng của gã, chẳng chỗ nào còn cái tên Phúc. Cái tên mà người bên này nhìn vào hay đọc ra thành Phắc, lại còn giấu theo nụ cười tủm tỉm. Thoạt đầu gã không phản ứng. Bấy giờ gã mới tám tuổi, đến Canada như bước vào một hành tinh lạ, tiếng Anh lõm bõm nhờ mấy tháng sống trong trại tị nạn. Thế nên gọi Phúc hay Phắc, với gã chẳng nghĩa lý gì. Sau gã để ý mấy lần lũ trẻ trong trường tiến đến chỗ gã, một đứa hô “Phắc”, cả bọn té ra cười. Gã đứng thộn. Về nhà, Lucy đứa con gái của bố mẹ nuôi gã giải thích, gã té ngửa. Từ đó hễ nghe tên mình bị phát âm sai, gã trợn mắt chỉnh liền. Nhưng bọn trẻ trong trường không tha, thích lôi tên gã ra ghẹo. Gã căm cái tên Phúc. Phải chờ đến mười tám tuổi gã mới hóa vàng được cái tên cúng cơm oái oăm này. Đó là dịp gã thi nhập quốc tịch Canada, được phép đổi tên. Gã liền bỏ tên Phúc, dẹp luôn họ Trần, vứt cả chữ lót Văn. Đoạn tuyệt những thứ “trần văn”, “nguyễn thị” của đám di dân. Gã nắn nót xuống tờ đơn cái tên mới toanh gã ấp ủ suốt những năm trung học. Daniel Thompson! Thompson là lấy theo họ bố mẹ nuôi. Còn Daniel là lấy tên một đấng tiên tri trong thời Cựu Ước bị vua nghe kẻ xúc xiểm ném vào hang sư tử nhưng cuối cùng được cứu thoát bởi phép màu của Chúa.

Mẹ gã thì tiếc tên Phúc. “Phúc là bố mẹ đặt cho con lúc mới đẻ,” mẹ gã làu bàu. “Nhưng bây giờ con là Daniel, không Phúc nữa,” gã gắt lên. “Da-ni-el. Mẹ nghe chưa?” “Ừ thì Đa-nheo,” mẹ gã dằn dỗi. “Nhưng Đa-nheo thì hơn Phúc cái gì. Tên Phúc dễ đọc, lại có ý nghĩa.” Mẹ gã dông dài thêm về cái tên Phúc. Gã bỏ ngoài tai. Mẹ gã lái sang chuyện vợ con. Cái đề tài mẹ gã tra tấn gã gần như mỗi ngày từ hôm hai mẹ con đoàn tụ. “Qua năm là mày đã bốn mươi. Mẹ lo lắm. Nhà chỉ còn mình mày chưa đâu vào đâu. Mà sao thằng Henry cũng vậy, hai đứa mày cứ cà nhỏng chẳng thấy lo tính vợ con”. Mẹ gã thở dài. “Bằng tuổi mày tao đã chục đứa con, có cả cháu ngoại rồi… Phúc này… à… Đa-nheo…,” giọng mẹ gã chợt mềm lại. “Mẹ nghĩ đi nghĩ lại rồi. Mẹ thấy có con Đoan nhà ông Trùm Đương cùng giáo xứ mình bên đó là xứng với con. Công dung ngôn hạnh đủ hết. Con về cưới nó đi…” Trời. Gã cảm thấy nghẹt thở. Mẹ gã thao thao nói, nhiều từ nhiều câu gã không hiểu hết. Gã muốn hét lên, muốn tông cửa lao ra khỏi nhà. Mẹ gã lại động vào vết thương lòng sâu kín của gã. Ba tháng nay, từ lúc mẹ gã xuất hiện trong nhà, đầu óc gã mệt mỏi và căng thẳng. Gã muốn yên thân mà không được. Gã đã quyết định bỏ gia đình Thompson, trốn chạy khỏi cái nhà thờ Tin Lành nơi vùng quê ấy, dọn tới thành phố xa hơn cả ngàn cây số này những mong có một chốn nương náu bình yên. Rồi chuyện bảo lãnh mẹ gã, cũng do gã đổi tên Tây, giấy tờ bị trục trặc mất hơn năm năm mẹ gã mới qua được. Gã muốn nuôi mẹ, vì bố đã mất, các anh chị ai cũng yên bề gia thất. Nào ngờ sự có mặt của mẹ gã đã làm khổ gã thêm. Mẹ gã đấy ư! Sao không giống với sự trông đợi của gã. Gã đã không biết rằng mẹ gã có tính nói dai và hay xía vào đời tư của gã một cách sỗ sàng. Sự lắm điều của mẹ gã khiến gã phát điên. Gã quen kiểu đối xử tế nhị của ông bà Thompson. Gã muốn nạt cho mẹ gã im. Gã không chịu nổi. Đáng lẽ gã đừng đưa mẹ gã qua, đáng lẽ gã cứ tiếp tục cuộc hành trình cô lẻ trong đời như bấy lâu. Hơn ba chục năm qua, bắt đầu từ lúc gã là đứa bé thất lạc gia đình trong chuyến vượt đại dương sinh tử đến nay, gã tự mình bươn chải, tự mình chèo chống. Bao đêm nằm trong nhà Thompson, gã để mặc nước mắt chảy, gã nghĩ đến mái gia đình gã từng có ở một nơi gọi là Việt Nam. Gã từng có bố mẹ, ba anh trai sáu chị gái. Nhưng thật ra gã không nhớ ai chỉ nhớ mỗi mẹ gã. Gã mơ tưởng ngày sum họp.

Và bây giờ thì mẹ gã đang ngồi lù lù cả ngày trong nhà gã, sờ sờ trước mặt gã. Gã nuốt nước miếng, nghe thấm nhói trong ngực. Mẹ gã chẳng thể nào hiểu. Gã nhìn thấy giữa gã và người đàn bà đẻ ra gã là khoảng cách vời vợi.

Mày là ai? Gã tự hỏi. Gã khổ sở với câu hỏi thường xuyên leo nheo trong đầu gã. Nó lập đi lập lại từ hôm ấy. Bấy giờ gã đã rời gia đình Thompson và dọn lên thành phố Vancouver, nơi gã vừa mới kết thúc năm thứ ba đại học. Một buổi sáng mùa hè, gã đang đứng đón xe buýt đi làm, một người đàn ông da trắng từ đâu sấn tới: “Ê, thằng đầu đen. Cút mẹ về quê hương mày, cock-sucking homo!” Người đàn ông quát vào mặt gã, hơi rượu phà ra. Gã bất ngờ, nghẹn họng. Chung quanh im thít. Gã biết bao nhiêu ánh mắt đang nhìn vào gã. Thương hại. Soi mói. Căm ghét. Gã lủi lên xe buýt như con chim trúng đạn. Gã chết lặng suốt chặng đường đến chỗ làm. Mày là ai? Mày là ai? Điệp khúc vang trong đầu gã. Gã nghe như có tiếng cười khinh bỉ. Mày là thằng lại cái, thằng gay. Nhìn mày kìa. Ha ha! Mày tưởng mày giấu được. Nó rành rành ra đó. Đồ bệnh hoạn. Dơ dáy. Mày là ai? Mày là thằng đầu đen. Vừa đầu đen vừa gay. Thật tởm lợm. Mày tưởng mày giấu được. Tóc mày nhuộm màu hạt dẻ, nhưng nhìn mắt mày, mũi mày, miệng mày, da mày… Mày vẫn là một thằng châu Á mọi rợ. Nó rành rành ra đó. Mày nói mày tên Daniel Thompson? Luyên thuyên! Mày là Trần Văn Phúc. Đúng! Trần Văn Phúc. Đừng hòng chối. Gã lạnh nguời. Ông bà Thompson không muốn nhìn nhận mày. Người ta không muốn mày trong cộng đồng này. Người ta đang đuổi mày về quê hương. Nhưng quê hương mày đâu? Gã ê chề. Tự bao giờ trong tâm tưởng gã xứ Bắc Mỹ này là quê hương của gã. Gã lớn lên ở đây. Gã hít thở không khí ở đây. Gã nói tiếng Anh hoàn hảo. Gã ăn mặc như dân bản xứ. Tên gã không còn dấu vết những thứ “trần văn”, “nguyễn thị”. Ừ, thì gã được đẻ ra ở Việt Nam. Nhưng gã biết quái gì về Việt Nam. Gã còn chẳng nói được tiếng Việt nên hồn nữa là.

Ai không tin một đứa trẻ lúc rời quê hương đã tám tuổi, mà sau này lại có thể mất hoàn toàn tiếng mẹ đẻ của nó? Hỏi gã. Gã thề có Chúa, tiếng Việt gã mất hẳn từ ngày tháng năm nào gã không biết. Sau mười năm ra đi, gã trở về Việt Nam như kẻ vừa câm vừa điếc. Tại phi trường, gã hụ lên khóc. “Phúc. Trời ơi thằng Phúc đây!” Mẹ gã nhào tới. Gã không nói không nghe được. Mẹ gã anh chị gã ngơ ngác không chịu tin. Mười năm sống trong gia đình Thompson đã cướp sạch của gã tất cả vốn liếng tiếng Việt tám năm gã gầy dựng. Đám người hiếu kỳ vây quanh gã, khen gã đẹp trai như Tây, nói tiếng Anh cũng như Tây. Gã cao lều nghều không giống ai trong nhà, (mẹ gã nói tại ăn pho-mát uống sữa Tây), da trắng mịn như con gái, tóc hoe nâu, áo sơ mi xoàng xỉnh ngắn tay. Mọi người chết khiếp với chiếc quần jeans lửng lơ ngang đầu gối, gấu tua rua lởm chởm, lại có hai lỗ thủng to tướng đằng sau mông. Fashion! Gã nói, như đọc được ý mọi người. Trên đường về nhà, gã mắc tiểu, muốn xe dừng lại. Không ai hiểu gã nói gì, gã phải ôm bụng chịu trận. Chuyến đó gã về bốn tháng để học lại ngôn ngữ mà gã đã đánh mất. Ngày trở qua Canada, gã khôi phục được một mớ từ vựng, nói và nghe tạm tạm, nhưng cái giọng Việt Nam thì không còn lấy lại được. Mỗi lần gã mở miệng nói tiếng Việt, mấy chị của gã bụm miệng cười.

Ở vùng quê Westbridge gã là người Việt duy nhất, đến trường gã cũng là học sinh Á Châu duy nhất, gã đã lột xác để hoà nhập. Gã nhớ hôm tới phi trường thành phố Kelowna, ông bà Thompson cùng con gái Lucy ra đón. Một dàn phóng viên chờ sẵn, có cả người thông dịch. Gã nghệch ra vì sợ. Lần đầu gã nhìn thấy Tây. Cũng lần đầu gã hóa ra người quan trọng. Người ta giành nhau hỏi gã về cuộc hành trình bảy ngày đêm trên biển trước khi con thuyền nhỏ mang 128 con người đã kiệt sức vì đói khát dạt đến Ku-ku, một hòn đảo hẻo lánh ở Nam Dương. Người ta hỏi gã về bốn tháng ở trại tị nạn Ga-lăng, hỏi gã có nhớ bố mẹ anh chị còn bị kẹt lại ở Việt Nam, hỏi gã nghĩ gì về cuộc sống sắp tới trong một gia đình người Canada. Bà Thompson ôm hôn gã lúc người ta chớp máy ảnh lia lịa. Gã không nhớ người mẹ lam lũ của gã đã bao giờ ôm hôn gã như thế. Cũng lần đầu gã biết đến cái mùi thơm không tả nổi của người da trắng. Ông bà Thompson lái xe đưa gã về nhà. Gã ngơ ngác nhìn chốn ở mới của mình: một nông trại nuôi bò sữa rộng gần 200 héc-ta bên cạnh một con sông. Làng Westbridge vỏn vẹn ba chục gia đình. Mỗi nhà cách cả cây số. Hàng xóm tới coi mặt đứa bé tị nạn. Nhân viên y tế đến gặp gã. Chúa lòng lành! Bà y tá gần như rú lên. Đầu gã là một ổ chấy. Con nào con nấy úc núc đen trũi. Người ta cạo trọc gã, xịt thuốc lên đầu gã trước khi tẩy trùng khắp nhà. Con Lucy sợ không dám đến gần gã. Gã còn phải uống viên thuốc to như đồng xu để xổ cái bụng toàn giun sán của gã. Mấy tuần đầu, gã hay lánh trong phòng. Đến bữa gã ăn chiếu lệ. Gã không ăn nổi khoai tây hay phó-mát. Gã thèm mì gói, cơm chiên. Gã thèm mắm tép mẹ gã kho. Con Lucy mách mẹ nó mỗi lần nó rình thấy gã khóc. Bà Thompson nghi gã mắc chứng trầm cảm sau chuyến vượt biển thất lạc gia đình. Bà đưa gã đi nhà thương. Bác sĩ khuyến khích gã tham gia hoạt động ngoài trời. Đi học về, gã được ông Thompson cho tập cưỡi ngựa, phụ tưới rau, chẻ củi, vắt sữa bò. Cuối tuần thì đi nhà thờ học kinh thánh và tập cầu nguyện. Gã bớt ủ dột. Gã không còn khóc nhớ mẹ gã. Dần dần gã thấy ở đây vui hơn sướng hơn. Tuổi thơ ở Việt Nam lùi dần như những đám mây mù mờ trong ký ức. Gã chỉ nhớ láng máng căn nhà tranh bé xíu, chung quanh là mấy luống rau cải rau mùng tơi. Những chén cơm khi độn chuối khi độn ngô gã ăn mấy vẫn thấy mới lửng bụng. Tiếng chuông nhà thờ mỗi sớm mỗi chiều. Những trưa hè không có gì chơi gã bắt mấy con nhện trên trần nhà cho chúng đánh nhau. Gã nhớ gã thèm đi bắn bi hay bắt dế với thằng Công trong xóm, nhưng cứ ra khỏi nhà là về bị bố gã nện. Trong nhà, gã nhỏ nhất nên ăn đòn nhiều nhất. Có lần bố gã trói gã vào cột nhà rồi lấy dao cứa chân gã chảy máu cho chừa cái tội lẻn sang nhà ông Lãm coi phim Lý Tiểu Long chiếu trên truyền hình. Gã kinh hoàng, vừa đau vừa sợ chết. Về chuyện trường học thì gã chỉ nhớ bị mấy bà sơ véo sưng tai vì không thuộc kinh Lạy Cha và hay đọc trật bản cửu chương.

Quê nhà với gã là thế. Gã không thiết nhắc tới. Gã nhanh chóng quên dần những điều gã muốn quên và cần quên. Rồi bỗng chốc gã trở thành niềm kiêu hãnh của gia đình bố mẹ nuôi. Bà Thompson thương quý gã đến mức con Lucy phải ganh tị. Gã học giỏi, được học bổng mỗi năm. Thể thao thì môn nào gã cũng nổi bật, đến lớp 12 gã được vào đội tuyển hockey quốc gia. Gã lại có năng khiếu nấu nướng, gã trình bày thức ăn lên đĩa trông như một tác phẩm nghệ thuật. Gã đẹp trai, ăn mặc hợp thời trang, phong thái lịch lãm. Mỗi mùa hè đi làm ở các tiệm ăn gã luôn được tiền típ cao hơn đồng nghiệp. Con gái nhiều đứa bộc lộ cảm tình với gã. Gã không thích. Và đây là điều khốn nạn đeo đẳng suốt cuộc đời gã.

Từ khi có thể nhớ được, lúc gã mới sang Canada được hai ba năm gì đó, gã bắt đầu phát hiện sự bất thường trong cảm giác của mình. Trong lớp khi thầy cô chia nhóm học, gã tìm cách chui vào nhóm con trai. Gã tránh bọn con gái. Gã không ghét con gái, nhưng không muốn gần. Lên đến trung học, gã nổi quạu mỗi khi bị cấp đôi với một đứa con gái. Rồi gã nhận thấy mình bị hấp dẫn bởi những đứa con trai khác. Đêm gã mơ luyến ái với người đồng giới. Gã đâm hoảng. Gã vừa muốn trốn chạy vừa trông chờ những giấc mơ ấy trở lại. Gã sợ. Gã không biết mình có thực sự là đàn ông không. Gã vào tiệm giả vờ mua tạp chí thể thao, nhưng thực ra là lén xem những hình ảnh trong mấy cuốn Playboy. Gã muốn thay đổi cảm xúc khác thường của mình. Trong một buổi tập dợt kịch tại nhà một đứa con gái cùng trường, bố mẹ nó đi vắng, nó kéo gã lên giường, gã đã tự chứng minh mình cũng giống những thằng đàn ông khác. Nhưng điều đó thực ra chỉ làm tăng thêm những khao khát thầm kín của gã với người cùng phái. Sự khát khao bùng cháy vào cuối năm lớp 12 khi gã bắt được tín hiệu từ John, một thầy giáo dạy tiểu học từ Toronto chuyển đến. John hơn gã năm tuổi, cũng sinh hoạt chung nhà thờ. Gặp John là gã thấy bị thu hút. Hai người có nhiều sở thích giống nhau. Chơi hockey, lái xe mô-tô, đi bộ việt dã, chụp ảnh phong cảnh. Gã và John gặp nhau hầu như mỗi ngày. Gã đưa John về nhà. Ông bà Thompson cũng quý John. Tội con Lucy khoái John ra mặt. Tất nhiên John chỉ coi nó như bạn. Với John, gã có thể trò chuyện về mọi lĩnh vực. John không những nhiều kiến thức mà còn lắm kinh nghiệm sống, không như lũ con gái đỏng đảnh, nông cạn, và phức tạp. Rồi một ngày gã và John lén lút ăn trái cấm với nhau. Trong một bụi cây bên con suối. Sau lần ấy, gã và John không dừng lại được nữa. Có hôm cả hai còn liều mạng tình tự ngay trong kho chứa đồ của nhà thờ. Suốt mùa hè năm ấy gã sống trong mặc cảm tội lỗi. Bao năm được giáo huấn trong nhà thờ, gã tin rằng đồng tính luyến ái là chuyện đồi bại, bẩn thỉu, trái với tự nhiên, một hành động gớm ghiếc xúc phạm đấng linh thiêng. Gã tìm cách tránh John với cớ chuẩn bị vào đại học. Gã âm thầm cầu nguyện cho mình được giải thoát. Gã nghĩ đến việc bỏ ngành kỹ sư gã đã đăng ký học, chuyển sang ngành ngôn ngữ học tiếng Trung Quốc và tiếng Tây Ban Nha để trở thành sứ đồ rao giảng Tin Lành trên khắp đất. Chỉ cách đó gã mới có sức mạnh tháo gỡ gông cùm của ma quỷ đang trói buộc gã. Nhưng lòng quyết tâm của gã chỉ kéo dài được dăm bữa. Gã lại điện gặp John. Tiếp tục lén lút. Gã chỉ còn hy vọng thứ cảm giác mọi người lên án đó chỉ là nhất thời, sau này gã sẽ tự nhiên thay đổi, vì gã không muốn nó, không chấp nhận nó.

Thế rồi giữa lúc gã không ngờ, tai họa ập xuống. Lúc ấy gã là sinh viện năm thứ hai, từ Vancouver trở về nhà dịp nghỉ đông. Gã và John đến nhà thờ chuẩn bị cho lễ Giáng Sinh. Bà vợ mục sư kiêm trợ tế bắt quả tang gã và John đang mút lưỡi nhau trong nhà bếp. Đồng tính luyến ái đã là tội tày đình. Hai kẻ tội phạm còn cả gan làm chuyện nhớp nhúa ngay trong nhà Chúa, lại giữa thanh thiên bạch nhật. Nỗi điếm nhục tăng lên, lớn nhất từ trước đến nay của nhà thờ Pentecostal trong vùng, khủng khiếp hơn tất cả các tội liệt kê trong mười điều răn của Chúa.

Gã không bao giờ quên bữa cơm tối ở nhà ông bà Thompson hôm ấy. Con Lucy nặng mặt suốt bữa ăn. Ông Thompson buồn bã không nói nửa lời. Còn bà Thompson, gương mặt chưa hết kinh sợ, đôi mắt đau đớn hổ thẹn. Bà nói, không nhìn mặt gã: “Mỗi người có quyền lựa chọn lối sống cho mình, nhưng phải biết kính sợ Thiên Chúa.” Gã cảm nhận việc làm của gã đã đâm thấu trái tim người đàn bà bấy lâu nuôi dưỡng gã còn hơn người đẻ ra gã. Gã muốn oà khóc vì giọng nói trơ lạnh của bà. Gã hiểu đó là dấu chấm hết trong tình cảm của gia đình ông bà Thompson với gã. Gã đã làm họ thất vọng tột cùng.

Tự trong thâm tâm gã bấy giờ, gã tấm tức muốn cãi lại rằng gã không hề lựa chọn lối sống đó. Gã không bao giờ muốn là gay. Gã đã tìm cách chối bỏ, nhưng không thể chế ngự được thiên hướng tình dục của mình. Vị mục sư cắt nghĩa với gã rằng trong chuyện này ma quỷ phải chịu trách nhiệm, và gã cần hợp tác đuổi trừ nó ra, không cho nó có chỗ trú ngụ trong đời sống của mình nữa. Gã buộc phải khai ra hết với Chúa về những ý nghĩ và hành động tình dục gã bưng bít từ trước đến nay.

Nghi lễ xua trừ ma quỷ tiến hành ngay tại phòng ngủ của gã. Nơi mà Xa-tăng và đồ đệ của nó thí dỗ gã, bắt đầu từ những cuộc thủ dâm và những giấc mơ luyến ái với người đồng giới. Gã nằm trên giường, tay ôm cây thánh giá trên ngực. Mục sư và các thành viên trong sạch được chọn lọc của nhà thờ đặt tay lên người gã. Họ cầu nguyện và đọc kinh. Mục sư gọi tên Chúa Giê-su, và tên các tổng lãnh thiên thần Micael, Gabriel and Raphael. Ai đó cất lên những tiếng nói lạ, lảnh lót như gọi hồn khiến gã hoảng hốt. Tâm thần gã bỗng trở nên bất an. Gã ngờ rằng có những con quỷ, không phải một con, mà cả một bầy đang vùng vẫy chống cự trong thân thể mình. “Chỉ có niềm tin mới giải thoát con khỏi tội lỗi gớm ghiếc này. Lạy Chúa nhân từ xin thương người tôi tớ Chúa…,” vị mục sư cất giọng trầm buồn trong lúc vẩy nước thánh lên khắp người gã. Tất cả trong đầu gã lúc ấy chỉ có hình ảnh John. Tựa như có tiếng rù rì bên tai gã: Đừng sợ. Hãy cứ vui thú tận hưởng với những gì mình đang có. Mày không thấy hài lòng sao? Mày không nhớ những phút giây hoan lạc sao… Hãy là chính mình. Đừng hoài công sửa cái điều không thể… Gã lảo đảo muốn chồm dậy. Tức thời những bàn tay bạo liệt đè gã xuống. Những lời kinh cất cao hơn. Bất chợt tiếng ai kêu: “Kìa, Xa-tăng và đồ đệ của nó!” Tiếp theo là những tiếng rú rít hoảng loạn. Gã chắc mọi người đã nhìn thấy lũ quỷ. Có phải chúng đương nhảy múa ngay chân giường gã. Gã thở dốc. Những con quỷ đen có ngà có đuôi, mang xiềng xích loảng xoảng đang loay hoay bắt gã. Gã như ngửi thấy mùi lưu huỳnh của chúng. Tiếng kêu, tiếng rú và những tiếng lạ như dàn hợp xướng bên tai gã. “Cút đi. Tất cả bọn bay!” Gã bỗng bật ra tiếng hét trong lúc giãy giụa tìm cách chồm dậy. Người ta lại đè gã xuống. “Xa-tăng và bọn ma quỷ các ngươi! Hãy cút ra khỏi linh hồn người tôi tớ Chúa đây là Daniel. Lạy Chúa Giê-su đầy quyền năng và nhân từ, ngày xưa Ngài đã cứu tiên tri Daniel khỏi nanh vuốt sư tử, nay xin thương đến tôi tớ Ngài đây cũng là Daniel được thoát khỏi hiệp ước đã ký kết với Xa-tăng…” Tiếng cầu của mục sư át đi những âm thanh hoảng loạn. Gã cong người. Ướt. Lạnh. Những giọt nước thánh không ngừng vẩy lên cơ thể gã. Bầy quỷ đang lao nhao điều đình với gã, chúng không muốn trở về địa ngục tối tăm với những vạc dầu sôi ngày đêm thiêu đốt các linh hồn tội lỗi. Chúng đang ráng sức thò chân leo trở lại vào người gã. Gã nghĩ và lịm đi.

John cũng phải trải qua nghi lễ ấy, sau gã hai ngày. Tưởng thế là xong. Không ngờ gã và John vẫn bị mọi người trong nhà thờ đối xử khác biệt. Người ta sợ sệt lẫn căm ghét khi thấy gã và John đến gần. Gã bị tước mất trách nhiệm đầu bếp cho bữa tiệc Giáng Sinh. Còn nhiệm vụ đánh đàn piano trong đêm lễ Vọng của John cũng được giao cho người khác. Gã và John đã làm ô uế hội thánh, không xứng đáng được hầu hạ công việc nhà Chúa nữa. Không một lời chia tay, gã và John tự động rút lui khỏi cuộc đời của nhau từ đó. Gã dọn đồ ra khỏi nhà ông bà Thompson, chuyển hẳn tới Vancouver. Học xong đại học, gã tìm được một việc làm ở Calgary, một thành phố nằm ở sườn đông dãi núi Rocky và sinh sống ở đó đến nay.

Ngót hai chục năm từ khi gã rời gia đình Thompson là ngót hai chục năm gã sống hai cuộc đời. Trước mắt công chúng, gã là một huấn luyện viên thành công và đầy uy tín cho đội hockey thanh niên thành phố. Nhiều cầu thủ trong đội huấn luyện của gã được tuyển lựa vào đội quốc gia. Học sinh của gã là những cậu trai tuổi mười sáu mười bảy. Chúng coi gã như thần tượng. Bố mẹ chúng nể trọng gã. Không một ai biết gã là gay. Gã không chỉ kềm cặp những chàng cầu thủ trẻ về chuyện thể thao, gã còn là tư vấn khi chúng gặp rắc rối chuyện đời tư. Rời chỗ làm, gã trở về với thế giới riêng tư và bí mật, một thế giới của những người đồng tính. Sau mối tình đầu với John, gã tắt lịm cảm xúc si mê say đắm ấy trong suốt thời gian dài. Biến cố xảy ra ở nhà thờ Tin Lành ấy như một cú đòn chí mạng đánh gã gục hoàn toàn. Gã mất phương hướng. Có lúc gã định tự vẫn. Gã dành thời gian tìm hiểu về thiên hướng tình dục của con người. Gã vẫn có ý muốn sửa đổi tính dục của mình. Gã nghiên cứu các học thuyết khác nhau. Càng đọc gã càng thấy mù mờ, càng thấy bị bế tắc. Gã vẫn không thể kết luận đâu là nguyên nhân gây nên sự đồng tính, cái điều khốn nạn đeo đẳng cuộc đời gã khiến gã không thể tự tin nhìn thẳng vào mặt mọi người. Với gã, điều ấy tự nhiên như thế. Gã chẳng đổ thừa ai. Nhưng nhất định không phải do gã, vì gã không bao giờ chọn lựa nó. Mẹ gã ư? Ma quỷ ư? Hay do yếu tố sinh học? Tâm lý học? Xã hội? Hay gì gì nữa? Gã phát chán những sự phân tích loanh quanh của người đời. Đâu đâu gã cũng thấy kêu gọi gay hãy bước ra khỏi “cái tủ”, hãy là chính mình. Gã làm thinh. Lâu lâu báo chí lại rùm beng đăng tin một ông huấn luyện viên thể thao nào đó bị bắt và kết án vì tội xâm phạm tình dục những cầu thủ trẻ. Tuy không có bằng chứng, ngưòi ta cứ gán những kẻ phạm tội ấy là gay. Nghĩ tới những định kiến, hằn thù đối với người đồng tính gã lại co người không dám lộ diện. Gã thà chịu đựng nỗi bực mình phải sống giả dối với người chung quanh, cả với mẹ gã. Gã không dám hình dung chuyện gì sẽ xảy ra cho tên tuổi và sự nghiệp của gã nếu gã vén ra bức màn bí mật của đời mình.

*******************

Sao lại đến nông nỗi này, Chúa ơi. Mẹ gã lạc giọng, mếu máo. Mẹ đẻ mười đứa con đủ hình đủ dạng. Con cũng đầy đủ các thứ của một đứa con trai. Không, không thể như thế được. Con bị bệnh này từ bao giờ hả Phúc? Ở nhà thờ người ta nói chuyện thằng Henry ở chung nhà với con. Mẹ không tin, cứ nghĩ người Việt hay ganh tị nói xấu bịa đặt cho người khác. Không, không thể là tự nhiên được… Bảo thằng Henry dọn ra. Chính nó đã cám dỗ con vào con đường tội lỗi này…

Mẹ gã sụt sịt, rên rỉ, kể lể như bà điên. Ma quỷ đã nhập vào con. Con phải đi với mẹ đến gặp Cha để xưng tội. Chỉ có Cha mới gỡ cho con được. Cha sẽ nhân danh Chúa đánh đuổi ma quỷ và tẩy rửa linh hồn con. Phúc ơi, nghe mẹ. Hồi mới đẻ con đã chịu phép rửa, tên thánh của con là Giu-se, sao con dám phản bội Thiên Chúa đi theo Tin Lành? Mẹ gã lê thê chuyện này sang chuyện khác.

Không, gã nhất định không đi gặp vị linh mục nào cả. Vẫn còn nguyên trong ký ức gã cuộc đuổi trừ ma quỷ nhà thờ Pentecostal dành cho gã hôm nào. Gã rùng mình. Trí óc gã lại chuyển sang hình ảnh người đàn ông da trắng say rượu từ đâu sấn tới. Ê, thằng đầu đen. Cút mẹ về quê hương của mày, cock-sucking homo!

Rồi con sẽ trở lại bình thường. Con sẽ có vợ có con như người ta. Con Đoan nhà ông Trùm Đương… Tết này con về Việt Nam cưới đi… Chỉ còn cách đó. Phúc ơi nghe mẹ đi. Người ngoài biết được chuyện này thì mẹ còn mặt mũi nào… Con ơi. Bỏ cái tên Đa-nheo đa nhiếc gì đi, nghe nó kỳ lắm…

Người đàn bà đẻ ra gã vẫn còn chưa dứt nói.

Nước mắt gã chảy ra. Gã bặm môi để khỏi khóc rống lên. Gã nghĩ đến bài ca gã lén nghe trong đêm cuối cùng ở gia đình Thompson. Thứ nhạc Blues nhà thờ Pentecostal cấm, coi như âm nhạc của quỷ Xa-tăng. Băng cát-xét đó là món quà cuối cùng của John, John giấu đưa cho gã ở nhà thờ đúng vào hôm định mệnh. Cho đến buổi tối trước khi rời khỏi vùng đất thân thương nhưng cay nghiệt ấy, gã mới mở ra nghe. Gã đã bật khóc giữa đêm khuya thanh vắng khi giọng người ca sĩ da đen gào lên tức tưởi… Không ai yêu thương tôi ngoại trừ mẹ tôi… nhưng có thể bà cũng chỉ bỡn đùa thôi… Không ai yêu thương tôi…

 

Calgary, 12.2010

 

 

 

.

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


2 bình luận »

  • Trần Doãn Nho viết:

    Tôi thích truyện này.
    Cách viết gây cho tôi nhiều ấn tượng mới.
    Và thấm thía!
    TDN

  • Hong Tam viết:

    Đọc truyện này, tôi bỗng nhớ đến mấy câu thơ của Vũ Hoàng Chương:
    “Lũ chúng ta lạc loài dăm bảy đứa
    Bị quê hương ruồng bỏ, giống nòi khinh”

    Trần Hồng Tâm

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)