Trang chính » Lưu Hiểu Ba, Thư Tòa Soạn, Tòa Soạn Email bài này

Thư tòa soạn tuần lễ 13 – 19.12.2010

 

LiuXiaoboinabsentia

Cái ghế trống dành cho Lưu Hiểu Ba trong buổi lễ phát giải Nobel Hòa Bình biểu tượng cho nhiều sự vắng mặt: sự vắng mặt của tự do và nhân quyền, sự vắng mặt của cá nhân, sự vắng mặt của những nét đặc thù tạo nên người được giải thưởng. Đến giờ phút này, thế giới tự do vẫn chưa biết rõ Lưu Hiểu Ba là ai, ngoài những thông tin chính trị về ông.

Vào ngày 16 tháng 4 năm 2009, Hội Văn Bút Hoa Kỳ (PEN American Center) đã trao giải thưởng 2009 PEN/Barbara Goldsmith cho Lưu Hiểu Ba. Giải thưởng này tôn vinh những nhà văn quốc tế đã bị xét xử hoặc giam giữ vì đã thực hành hoặc tranh đấu cho quyền tự do phát biểu của họ. Lưu Hà, vợ ông, vì bị cấm du hành ra khỏi Trung Hoa, gửi bức thư đến PEN cám ơn Hội Văn Bút đã trao giải thưởng cho chồng bà, và bày tỏ sự ân hận rằng bà và chồng đã không thể tham dự lễ nhận giải thưởng. Xin được trích lại một vài đoạn trong thư của Lưu Hà (đã được đọc trong buổi lễ trao giải thưởng ở Nữu Ước ngày 28 tháng 4 năm 2009):

Thật đáng tiếc chúng tôi đã không thể đến [Nữu Ước] tối nay để nhận giải thưởng …

Tôi không phải là chư hầu hay tì thiếp của Lưu Hiểu Ba. Tôi rất thích hội họa và thi ca, nhưng đồng thời tôi chưa bao giờ coi anh như một nhà chính trị. Dưới mắt tôi, anh ấy đã và cũng sẽ luôn luôn là một nhà thơ lúng túng, nhưng có điều chăm chỉ. Ngay khi ở trong tù, anh ấy vẫn làm thơ. Khi bọn cai tù tước mất bút và giấy của anh ấy, anh ấy tạo ra thơ từ khoảng không ….

Dù sao đi nữa, tôi hiểu rằng giải thưởng này không hẳn khuyến khích con đường thi ca của Lưu Hiểu Ba, mà chính ra là để ủng hộ Lưu Hiểu Ba nhà bình luận chính trị và người tác động Hiến Chương 08. Tôi muốn nhắc nhở mọi người sự tương quan mật thiết giữa khía cạnh văn chương và chính trị [của chồng tôi]. Tôi nhận thấy rằng Hiểu Ba đã dùng sự mãnh liệt và niềm say mê của một nhà thơ để tiến hành phong trào dân chủ ở Trung Quốc. Với nhiệt tâm của một nhà thơ, anh hét vang vào mặt bọn bạo quyền, “Không, không, không.”

Trong thư gửi Hội Văn Bút Hoa Kỳ, Lưu Hà đã rất thẳng thắn trong cách bày tỏ quan điểm của bà về giá trị thi ca của Lưu Hiểu Ba, cùng cái nhìn từ thế giới tự do hướng về chồng bà. Lưu Hà cảm phục Lưu Hiểu Ba vì ông là một nhà thơ đầy nhiệt tâm và can đảm, tuy chưa chắc đã là một nhà thơ hay. Thế giới tự do thì chỉ nhìn thấy Lưu Hiểu Ba như một biểu tượng chính trị bị đàn áp. Trong thơ, Lưu Hà cũng nhắc đến lời phủ nhận nổi tiếng của Theodor Adorno, Nach Auschwitz ein Gedicht zu schreiben, ist barbarisch (Làm thơ sau Auschwitz là một điều man rợ), và nhận xét rằng lời phủ nhận của Adorno cũng có thể áp dụng vào hoàn cảnh Trung Quốc sau biến cố Thiên An Môn. Lưu Hà, như nhiều cá nhân phải sống dưới ách bạo quyền, đề cao lời tâm huyết của nhân chứng vì nó biểu hiện cho sự thật vượt ra ngoài giá trị của nghệ thuật và văn chương.

Nhưng có phải vì lịch sử hay chính trị mà nghệ thuật và văn chương trở thành vô luân, hoặc vô dụng? Giao khúc Chết (Todesfuge) của Paul Célan không bôi xóa thảm họa Holocaust cho dù nhà thơ dùng nghệ thuật thi ca để “cướp giọng” Đức của bọn bạo hành. Gần gũi hơn với độc giả Việt Nam là trường hợp Cao Bá Quát. Câu đối xuất khẩu của ông trước khi bị quân nhà Nguyễn đưa lên pháp đài cũng có thể coi là một tuyệt tác, vì ẩn chứa trong vỏn vẹn hai câu thơ là bao nhiêu hình ảnh và chí khí:

Một chiếc cùm lim, chân có đế
Hai vòng xích sắt bước còn vương

Chúng tôi muốn được tìm hiểu thêm về chân dung Lưu Hiểu Ba, mà qua lời vợ ông, là một “nhà thơ lúng túng” (“an awkward poet”). Nhưng ngay chuyện dùng mạng internet để tra cứu những bài thơ của ông cũng không dễ dàng. Một số những bài thơ của ông đã được Jeffrey Yang, nhà thơ Mỹ gốc Trung Hoa dịch sang tiếng Anh, nhưng nguyên bản tiếng Trung Hoa của những bài thơ này không được phổ biến rộng rãi, có lẽ do vấn đề tác quyền (tuyển tập thi ca song ngữ của Lưu Hiểu Ba, với dịch giả Jeffrey Yang, sẽ được nhà xuất bản Mỹ Gray Wolf Press cho ra mắt vào năm 2012). Vì lý do này, độc giả chỉ có thể đọc và dịch một số thơ của Lưu Hiểu Ba từ bản tiếng Anh. Ngược lại, những mạng tiếng Việt trong nước, vì có lẽ sợ kiểm duyệt, đã không đề cập đến những bài thơ hay tác phẩm văn xuôi của ông. Một người viết với bút hiệu “An Chi” cho báo Công An trong nước,  đã viết một bài chống đối việc Lưu Hiểu Ba được giải Nobel Hòa Bình với nội dung xuyên tạc và dè bỉu, qua “cách nhìn bình tâm và khách quan của người dân lương thiện” (!)

Bài thơ “Words that a Cell Can’t Hold” (Ngục Tù Không Thể Giam Chữ Nghĩa) của Lưu Hiểu Ba, đăng trên tờ New York Times ngày 8 tháng 12 cũng bày tỏ nội dung chính trị thay vì con người cá nhân của nhà thơ. Đoạn thơ sau đây tạo ra nhiều câu hỏi về con người của tác giả mà hiện nay chưa có thể kiểm chứng qua mạng:

Cho dù khối xương trắng vô danh của người chết
vẫn đứng sờ sờ trong quên lãng,
tôi giương cao sự dối trá tự tạo
khoe mọi người chuyện tôi trải qua cái chết
do đó “hắc thủ” trở nên một mề đai danh dự.

(though those nameless white bones of the dead
still stand in the forgetting
I lift up high up the self-invented lie
tell everyone how I’ve experienced death
so that “black hand” becomes a hero’s medal of honor)

Trong thời đại internet, sự phong phú vô biên của thông tin mạng cũng có thể trở nên một chiến trận “hỏa mù,” vì sinh hoạt ảo đã đánh mất tính chất địa phương. Tuy Julian Assange, người thành lập WikiLeaks đã đề xướng khía cạnh khoa học [trực diện] của báo chí (scientific journalism), những thông tin, nếu không được kiểm chứng hay thanh lọc kỹ, sẽ gây ra những ảnh hưởng tai hại. Ở trường hợp này, yếu tố nhân chứng cũng sẽ bị chất vấn. Không kể đến vấn đề kiểm duyệt hay tường lửa, hiện vẫn còn rất nhiều biên giới để một độc giả mạng phải trải qua: ngôn ngữ, chính trị, văn hóa, thẩm mỹ.

Da Màu tin tưởng rằng, văn chương, ngay lúc này, chính là khung thanh lọc và diễn dịch những thiếu thốn và vắng mặt trong đời sống cũng như ở khía cạnh lịch sử. Trong tuần, Da Màu sẽ giới thiệu ba bài thơ tình của Lưu Hiểu Ba (với sự chuyển ngữ của Đinh Từ Bích Thúy) trong nỗ lực phác họa cá nhân ông. Đồng thời, sáng tác “Chúng Ta là Đồ Cũ” của Trần Nguyên Đán khai phá những mảnh đời bị bỏ quên; Tâm Tình của Hai Trầu với nhà văn Vũ Thất gợi lại một thời văn học phong phú và sôi nổi của miền Nam trước 75; cùng bài nhận định của Nguyễn thị Hải Hà về tuyển tập truyện ngắn “Bốn Ngàn Năm Chen Lấn” của nhà văn Hoài Ziang Duy, diễn tả “những mẫu người có thật trong những hoàn cảnh xã hội có thật, trong nước cũng như ngoài nước.” Ngoài ra cũng sẽ có những sáng tác thơ và văn xuôi từ các cộng tác viên và thân hữu của Da Màu.

2 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)