Trang chính » Biên Khảo, Phê Bình Email bài này

Đọc Tập Truyện Ngắn Bốn Ngàn Năm Chen Lấn của Hoài Ziang Duy

 

 

4nnclcover

 

Hoài Ziang Duy sinh năm 1948, bắt đầu viết từ năm 1965 trên các báo và tạp chí ở Sài Gòn. Tác phẩm ở hải ngoại gồm có: Trong Cơn Vật Vã, Ông Tướng Sang Sông, Tuyển tập truyện ngắn chung với nhiều tác giả, Lối Đi Dưới Lá Đời Thà Như Mưa, và tập truyện ngắn Bốn Ngàn Năm Chen Lấn.

Bốn Ngàn Năm Chen Lấn là một tập truyện bao gồm mười bốn truyện ngắn. Vài truyện ngắn trong tập truyện này đã xuất hiện trên một số trang mạng trong đó có trang Chim Việt Cành Nam. Quyển Bốn Ngàn Năm Chen Lấn gần đây đã được đưa lên mục Giới Thiệu Sách của trang mạng Da Màu. Truyện ngắn cùng tựa cũng vừa xuất hiện trên Da màu ngày 9 tháng 12 vừa qua.

Bài viết ngắn này, chỉ là nhận xét của một người đọc. Tôi mới tập tễnh vào trường văn trận bút, viết sau ông những mấy mươi năm; vì thế nhận xét này xin hãy xem là một sự cố gắng tự học và chia sẻ với độc giả.

Qua mười bốn truyện ngắn, tôi thấy nhà văn Hoài Ziang Duy rất quan tâm đến cộng đồng Việt Nam. Những điều ông viết là những suy tư trăn trở về cuộc sống của người Việt ở ngoài nước cũng như ở trong nước. Ông nói lên nỗi đau của những người sống chung quanh ông. Trong truyện ngắn “Một Đời Người Một Nỗi Lặng” ông nói về một người gánh nước thuê. Đáng lẽ phải gọi là người gánh nước ông đã dùng chữ “ông bán nước” để mỉa mai cái xã hội đã xem thường và gạt bỏ ra ngoài lề một người lương thiện. “Ông bán nước” tên là Tâm, một chữ tâm bằng ba chữ tài, thế mà ông bị bỏ rơi chết trong nghèo nàn cô độc. Trong truyện ngắn “Chết Thuở Quên Cười” ông nói về một linh hồn đã chiếm ngự một tượng đá tạc hình người lính Việt Nam Cộng Hòa. Tượng đá này sau năm 75 bị giật sập và bị đứt đầu. Qua lời kể của linh hồn này, tác giả cho thấy một xã hội nhiễu nhương, nhiều người dân bị tù vì những tội không đâu. Truyện ngắn Bốn Ngàn Năm Chen Lấn đã đăng trên Da Màu nói về một cô gái miền Nam, viết văn, yêu một người miền Bắc di cư vào Nam sau năm 1975. Anh hiền lành, nghệ sĩ tính nhưng mẹ cô không tán thành. Cô và mẹ cô được người bố bảo lãnh ra nước ngoài. Bà mẹ bị bệnh tiểu đường và người bố phải ly dị bà để bà có thể hưởng qui chế y tế dành cho người nghèo. Sự ly dị này làm bà vợ xấu hổ và đưa đến tình trạng tan vỡ gia đình. Cô con gái trước khi rời bỏ người cô yêu để đi nước ngoài đã được một người Việt kiều chú ý tán tỉnh nhưng khi cô sang nước ngoài có điều kiện thuận tiện để cô và anh Việt kiều gặp nhau thì anh ta lại không còn săn đón như xưa.

Tác giả dày kinh nghiệm sống, hiểu biết về cuộc đời, giàu suy nghĩ vì thế chủ đề trong truyện của ông rất phong phú. Ông nói về các cô gái Việt vì muốn thoát khỏi Việt Nam nên tìm cách lấy chồng ngoại quốc, và vận động để được đi lao động kiểu xuất khẩu. Ông nói về quan niệm viết văn, tình dục trong văn học, tâm trạng của Việt kiều về nước cưới vợ, về những điều đau buồn xảy ra trong chiến tranh khiến anh em họ hàng giết lẫn nhau. Ông viết về những vụ ngoại tình, những mối tình trắc trở khi người đàn ông yêu cô chị nhưng cưới cô em, chuyện người con trai đòi tham gia chiến trường Ả Rập trong khi người bố vẫn chưa quên cái chết của người đồng ngũ, về người đàn ông chợt nhận ra rằng mẹ của người yêu con ông đã là vợ của ông ngày xưa. Một truyện ngắn của ông thường nêu lên hai ba vấn đề của xã hội trong nước Việt Nam hay cộng đồng người Việt trong xã hội Mỹ cùng một lúc.

Văn của ông giàu nhạc điệu (vì ông cũng là người làm thơ) nhưng khó hiểu vì ông có cách viết rất ngẫu nhiên. Ông bắt đầu câu truyện từ một điểm xa xôi rồi như một người nhẩn nha tâm sự ông bước qua một câu chuyện khác rồi một câu chuyện khác. Khi ông kết thúc câu chuyện thì điểm cuối và điểm đầu như đầu sông và cuối sông, quang cảnh hai bên bờ đã khác hẳn. Lấy thí dụ, trong truyện ngắn “Nghe Những Tự Tình” ông bắt đầu bằng “Buổi chiều tôi đi vào nghĩa trang…” nhân vật trong truyện bàn về truyện dự thi viết văn, ông nói một chút về chọn đề tài và thể loại để viết như một nhà văn viết về nghệ thuật viết văn, rồi nhân vật nhắc đến một tình yêu đầu đời, rồi nói về một người tình lớn tuổi, và ông kết thúc với câu “Nói thật nghe. Tôi chỉ là người kéo màn nhắc tuồng ở mỗi lần diễn.”

Ông có thể nhảy từ không gian này qua không gian khác; trong truyện “Nhân Gian Một Chỗ” ông đưa độc giả từ một nghĩa trang ở nước ngoài về một làng quê xưa, nếu lơ đãng độc giả có thể bị lạc hướng không còn nắm được cốt truyện. Ông thường đổi giọng kể, từ giọng của nhân vật này qua giọng của nhân vật khác nên người đọc có thể lẫn lộn vì không biết nhân vật nào đang lên tiếng. Tôi đọc đi đọc lại truyện “Chết Thuở Quên Cười” vì lẫn lộn giữa nhân vật Nguyễn văn Nho với tượng đá của người quân nhân. Tôi mù mờ không biết nhân vật nào bị chuột khoét đôi mắt, hai người trốn tù trong đêm có người nào bị bắn chết không. Ông hay viết những câu nửa vời tối nghĩa, mặc cho ai muốn hiểu sao thì hiều. Ông cũng cấu tạo nhiều nhân vật rồi bỏ nửa chừng như trong truyện ngắn “Tay Thở Hơi Người.”
 
Tôi thích một số nhân sinh quan của ông và tôi nghĩ độc giả sẽ yêu thích tác phẩm của ông nhiều hơn nếu độc giả hiểu rõ ý ông hơn.

Hôm nay tôi xin giới thiệu với các bạn truyện ngắn thứ mười hai trong tập truyện Bốn Ngàn Năm Chen Lấn. “Tình Yêu Tay Dài,” là truyện tôi thích nhất. Truyện có không khí lãng mạn trữ tình. Cuộc tình chênh lệch tuổi May-November luôn là đề tài cho người ta dị nghị nhất là khi cuộc tình này là nguyên nhân đưa đến sự đổ vỡ cuộc hôn nhân đã có trước cuộc tình. Trong những cuộc tình như thế này, những đam mê luôn đi kèm với cái đau đớn. Cái vui của người này là nỗi đau của người khác. Tác giả Hoài Ziang Duy đã khai triển tâm lý nhân vật một cách rất điêu luyện. Ông đưa độc giả qua nhiều biến chuyển tâm trạng của nhân vật: sự chối bỏ của ông họa sĩ già (cô gái đáng tuổi con mình, chuyện tình này không thể nào xảy ra); tâm trạng của bà vợ (từ nghi hoặc đến giận dỗi); sự tự lừa dối, và sức thuyết phục của một người đàn bà trẻ, lãng mạn, rất đam mê, và nhất quyết đạt mục tiêu. Tác giả cho thấy cái phân vân của ông họa sĩ; ông biết hành động của ông không được xã hội chấp thuận nhưng ông không thể cưỡng lại niềm hãnh diện được một người đàn bà trẻ tuổi ngưỡng mộ tài ba của ông. Hai người trong cuộc cố gắng dối gạt người chung quanh cũng như tự dối gạt tâm hồn mình. Họ bảo đó là tình yêu trong sạch bắt nguồn từ đam mê nghệ thuật.

Truyện “Tình Yêu Tay Dài” nói về mối tình của một người họa sĩ với Thùy Dương, cô học trò của ông. Giữa hai người khoảng cách tuổi tác là hai mươi lăm năm. Thùy Dương là bạn gái của người con trai của ông họa sĩ. Cậu con trai yêu Thùy Dương nhưng ông bố không biết. Cậu đưa cô bạn gái đến nhà để học vẽ với bố cậu, không ngờ mình là người mai mối dẫn đến sự tan rã hôn nhân của bố mẹ cậu. Thật ra, ông họa sĩ rất yêu Tịnh An, người vợ của ông. Ông đã không ngờ là giữa ông và cô học trò sẽ xảy ra cái gọi là tình yêu. Thùy Dương gọi ông bằng bác. Vợ ông giận bỏ đi càng làm hai người có cơ hội phát triển tình yêu dễ dàng hơn. 

“Hai mươi năm về trước, cái khoảng cách tuổi tác, năm mươi và hai mươi lăm, không là sự cách biệt khó coi ở một hình thể bên ngoài. Nhưng hai mươi năm sau, ở tuổi đời bảy mươi và em bốn mươi lăm, tôi già hơn em nhiều quá, về thể xác. Ngay từ lúc đầu, tôi biết, tình chúng ta không thể là tình yêu được. Em nhỏ bé, nghịch ngợm phá phách, ngưỡng mộ tài năng tôi, kèm theo là sự bỡn cợt. Nhiều khi tôi phát bực với tính khí này. Phút đầu tiên hay cho đến bây giờ tôi vẫn coi đó không thể là tình yêu. Tôi muốn giữ lấy cái khoảng cách từ sự xưng hô em gọi tôi. Danh từ bác cháu, cái tiếng bác mà em gọi tôi, có thể là tiếng xưng hô khéo lựa, gần gũi ngang hàng, lập lờ ở những người bạn trẻ gọi nhau.”

Cô gái trẻ đã khéo léo chinh phục ông họa sĩ già. Cô làm ông có cảm tưởng ông khôn ngoan hơn, thông thái hơn, tài ba hơn từ chính cái mặc cảm nghèo nàn kém cỏi của ông. “Nhưng cô nàng nói. Hồi trước nếu bác xuất thân từ một gia đình phong lưu, đứng giữa rốn cuộc đời, thì có lẽ ngày nay bác không có gì để thành danh. Thành người ai lại không trải qua những đau khổ thua thiệt. Chính nó là vốn liếng để cái đầu biết suy nghĩ khác người bình thường.” Những điều cô gái nói làm vui lòng ông họa sĩ già. “Em nói cứ coi em như cái phông nền vẽ trước lúc màu sắc đầu tiên vấy lên. Hãy để em lãng mạn, em im lặng với nghệ thuật, và em bình tâm nhìn nó.” Tật xấu của nàng cũng làm ông thấy nàng đáng yêu. Ông cố gắng cưỡng lại sự trẻ trung quyến rũ của người tình trẻ. Có khi còn nghĩ xấu về nàng.
“Đôi khi tôi không muốn Thùy Dương đến với tôi nữa. Chính cô bé này là cái cớ xảy ra mọi sự. Nhưng thật khó mở miệng. Cái tình thầy trò không thể lý giải, cho lòng ghen tuông đố kỵ, ở người đàn bà lâu năm chung sống. Tiếng cười giọng nói của Thùy Dương có lúc mỉa mai, so bì thực tế đang sống, cái hạnh phúc lờ lững ở tôi. Làm sao Thùy Dương hiểu được, cái thời của chúng tôi ngày cũ. Làm sao có nỗi cảm thông, khi tuổi đời, tuổi tác nhận nghĩ, cách xa một thời quá khứ đổi dời của đất nước. Nhiều hôm tôi sợ gặp Thùy Dương, cái cảm giác không thoải mái, ám ảnh mỗi ngày. Đôi mắt Thùy Dương soi mói từ chút một trên thân thể quần áo, tóc tai hình hài. Thùy Dương nói năng bất chấp thẳng thừng, khác với người đàn bà năm cũ. Khuôn mặt nhỏ, nước da ngâm, lanh lẹ liến thoắng hay bông đùa. Thùy Dương chen lách ý kiến vào đời sống riêng tư tôi nhiều quá.”

Nhân vật Thùy Dương được tác giả cấu tạo với một hoàn cảnh tâm lý rất hợp lý. Cuộc hôn nhân của cha mẹ của cô tan vỡ. Cô sống với mẹ nên luôn luôn khao khát tình thân với cha. Có lẽ sự khao khát này trở nên một ám ảnh, một thứ đảo ngược của hiện tượng Oedipus, vì thế cô dễ dàng nhận lời làm vợ của một người lớn tuổi để được ra nước ngoài rồi ba năm sau chờ ly dị. Tác giả đã cho Thùy Dương một lần nữa tìm kiếm bóng dáng của tình thân với người cha, vẫn cố biện bạch là giữa hai “bác cháu” chẳng có gì, qua đoạn văn như sau:

“Cô nàng nói, phút đầu đi học nghề gặp bác. Thấy bắt nhớ hình ảnh người cha bên quê nhà. Có chút nghiêm trang, chút bụi đời mệt mỏi. Không hiểu sao lại là nét cuốn hút để có lý do gần lại. Hơn thế, bác thoải mái trẻ trung, tạo cho mình một tình thân gắn bó tựa mái ấm gia đình. Có người nói là Thùy Dương yêu bác. Yêu làm sao được khi mà tuổi đời cách biệt thế này. Cuộc sống cô độc ở xứ người, Thùy Dương chỉ muốn gần bên bác, gần bên một tình thân, chứ không là một tình nhân. Nàng trăn trở tự hỏi. “Sự thật mình có yêu bác ấy không? Hay có lần bác hỏi. Có bậy không khi Thùy Dương còn trẻ quá đáng tuổi con mình. Bạn của con rồi thành tri kỷ của cha…” Rồi thuyết phục ông: “Cứ thử, cứ yêu nhau như một bức tranh toàn cảnh cuộc đời này. Tình yêu nào là khám phá mới. Cứ thử, cứ để Thùy Dương đi qua tình yêu trong nghệ thuật trừu tượng ở bác.”

Nàng bảo rằng nàng đã lập gia đình một lần rồi, trong tình trường nàng đã già dặn hơn người bạn trai cùng lứa tuổi với nàng. Nàng thấy tội nghiệp khi chàng trai ấy vẫn còn hướng tâm hồn về nàng. Trước mặt chàng trai ấy nàng cố giữ một khoảng cách giữa nàng và ông để chàng trai cũng như mọi người đều nghĩ giữa nàng và ông vẫn là tình thầy trò, vẫn là bác cháu. Nàng nói thêm là họ sẽ không bao giờ thấy được nàng và ông đã hôn nhau, đã chăn gối, đã yêu nhau như vợ chồng. “Chỉ chúng ta mới thấy được cái vụng trộm chính là cái náo nức, khám phá một đường nét, hạnh phúc mới không thể nói, không thể giải thích thế nào là tình yêu. Nhìn xa là nét trừu tượng ẩn ức, nhưng nhìn gần nghiêng xuống, là thầm kín tục tử phàm trần.”

Ông họa sĩ gặp bệnh nan y. Ông hối hận với cái tình yêu này. Ông muốn vợ ông tha thứ và trở về với ông, nhưng bà không trở về, thậm chí từ chối dự đám tang của ông. Đôi tình nhân đã xem tình yêu như một bức tranh, một tình yêu nghệ thuật và họ phải trả giá bằng sự mất mát trong đời. Khi ông chết hai người đang vẽ chung một bức tranh về một người ăn xin mù. Ông mù không xin tiền mà xin tình yêu, tình người. Tình yêu như một cánh tay dài, được diễn tả trong bức tranh, khẳng khiu như ngọn cây khô, nhưng ôm đầy tình yêu, yêu người, yêu mình. Ông mất đi rồi nhưng còn để lại cho người chung quanh ông một nỗi buồn. 

Người con trai tuy vẫn buồn vì bị mất người mình yêu vào tay ông bố nhưng mừng là lúc cuối đời ông bố của mình được người tình trẻ săn sóc chăm nom. Tác giả đã ngầm ý chê bai người vợ qua ý nghĩ của người con trai; anh thầm trách mẹ mình đã không chịu tha thứ. Tôi nghĩ tác giả đã hành động đúng khi để cho người vợ có thể trả thù bằng cách này. Nó làm cho nhân vật của ông có tính chất của người bình thường. Một người vợ bị phản bội không thể biến thành một vị Bồ tát một cách dễ dàng.
 
Hoài Ziang Duy  viết cứ như là chuyện thật trong đời ông, người đọc thấy được những xung đột trong nội tâm của nhân vật. Khi đã quen với cách viết của tác giả, độc giả dễ quí mến những ưu tư trăn trở của các nhân vật trong truyện của ông, vì họ là những mẫu người có thật trong những hoàn cảnh xã hội có thật, trong nước cũng như ngoài nước.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)