Trang chính » Biên Khảo, Phỏng vấn Email bài này

CTB nói chuyện với Đặng Thơ Thơ, kỳ 3

Đặng Thơ Thơ nói chuyện với Cung Tích Biền

Kỳ 3: Nhà Văn là Bóng, 
         hay Kẻ Treo Thòng-Lọng  Lửng Lơ?

Đặng Thơ Thơ: Qua hành trình viết, anh thường dùng văn chương để giải phẫu lịch sử, hay dùng văn chương như cán cân đối trọng với lịch sử. Khi người đàn bà trong Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ nói: “Ông ấy cần chiếc xương tàn để làm gương soi” có phải chiếc xương tàn đây là nơi văn chương và lịch sử va chạm và tìm cách viết lên nhau? Tương quan giữa lịch sử và văn chương trong truyện của anh ra sao? Nếu trên căn bản cả hai chỉ là những văn bản được tường thuật lại, giữa văn chương và lịch sử hiện đại “chính thống” Việt Nam, cái nào nhiều chất tưởng tượng và hư cấu hơn?

Cung Tích Biền:


Trả lời ngắn:
Có thể tôi không hiểu cụm từ “viết lên nhau” mà câu hỏi đặt ra. Nhưng rõ ràng chiếc xương tàn ở đây có ẩn hiện cái dấu vết lịch sử. Không là cái xương vô danh vô định. Nó định đặt cho lịch sử một câu hỏi trầm thống. Đây là một chạm âm chạm bóng, mà Lịch sử không thể không cẩn trọng khi giải thích thử thách này.
Nếu xem cả hai chỉ là những văn bản được tường thuật lại, thì giữa văn chương và lịch sử hiện đại “chính thống” Việt Nam, khi cần so sánh về mức độ tưởng tượng và hư cấu, thì rằng là thế này:
Thay vì văn chương tưởng tượng và hư cấu thì văn chương không làm đầy đủ chức năng này. Vì hiện thực này quá vượt, phong phú hơn khả năng văn chương có thể hư cấu, tưởng tượng.
Lại thay vì lịch sử phải trung thực, thì hôm nay đã bỗng dưng giàu tưởng tượng và tuyệt kỹ hư cấu. Vì sao? vì loại “chính thống” này đã khánh kiệt lương tri. Là con lừa kéo xe cho cái tham vọng Đốt đền.

Trả lời dài:


1. Giá trị và nhân cách của Sử gia chân chính là đã khẳng định, ở đây không bàn tới. Chỉ lai rai bàn qua “nếu cả hai, văn chương và lịch sử, trên căn bản là văn bản” thì tương quan giữa lịch sử và văn chương trong truyện của tôi là khá phân minh.
Văn chương là văn chương. Lịch sử là lịch sử. Chỉ vì cùng thời thế, cùng chịu đựng một thế sự mà thôi. Văn chương không có tham vọng viết thay lịch sử. Lịch sử không có khả năng chuyển tải “vạn sự diễn ra trong trời đất” như văn chương.
Sử gia “Dùng chữ”. Nhà văn “Làm Chữ”.
Lịch sử là bảo tồn, thẩm định. Văn chương cũng có một phần thẩm định, nhưng tinh lọc và mở rộng, để nhìn được “Bên kia lịch sử.”
Đôi khi thông qua văn chương, đời sau có thể hiểu được bộ mặt thật cùng nỗi đau của chính “Lịch sử”.
Văn chương có khi phá phách lịch sử, vạch mặt tấn tuồng, để bày ra trận đồ, ở đó phục hồi cái chân chính, lương tri, cái sự thật mà lịch sử, có khi vì nhiều lý do, đã ma mị bỏ qua.
Nếu có một yếu tố mang tính sử đồng hiện cùng lúc trên bàn viết nhà văn và nhà viết sử, thì cách xử lý vẫn hoàn toàn lạc phương nhau. Nhà văn trung thực trong khuynh hướng sáng tạo, có khi hư diễn, huyền định, nhìn sự vụ không là tuân thủ một phương pháp soi chiếu, hoặc quy chiếu nào, như sử gia.. Ở đây là “thủ pháp”, không là “phương pháp”. Thời gian và không gian của văn chương có thể là giả định, điều tối kỵ của văn bản lịch sử.
Chung cùng, nhà văn diễn dịch tiến trình với một tâm thức và mục đích hoàn toàn khác với nhà chép sử. Sử gia “Chép-lại”. Nhà văn là “Viết-Ra”.
Tôi nói Nhà Viết sử và Nhà văn, trong bình đồ này, là những người có hoàn cảnh tự do trong hành xử nghề nghiệp của mình.
Tôi có hoàn cảnh trớ trêu, khổ nạn hơn một chút. Nên cố gằng thu nhặt tự do, trong hoàn cảnh khốn cùng mà các bạn biết, để giữ cái “mức độ tương quan” này. Để thể hiện, thông qua văn chương, Tiếng Nói đang Dưới-Giá-Treo-cổ.
Những triêu đại hưng thịnh, tư tưởng khoáng đạt, lương thiện chỗ ngòi bút, một thái độ khiêm cung khi nhìn, như hai triều Lý Trần, thì Văn chương và Lịch sử có chỗ tương đồng, tôn trọng nhau. Nhiều trang sử là những áng văn chương, thi sử.

2. Trong tình trạng bức bách tật nguyền thời cuộc, trong vòng vây của mọi bề áp lực, trong cái ngáp thở thoi tháp của Tự do, việc cầm bút nơi đây thật không dễ dàng.
Cho nên tôi xin đưa ra một thí dụ về chỗ hư diễn. Để hiểu ngòi bút văn chương có cái quyền tháo túng sự kiện hơn ngòi bút sử. Tôi không nói chỗ can đảm hay không can đảm. Có văn bản sử nào ra công huyền hóa [mà rất đúng với sự thật sự thể], về một “cuộc Đổi bờ ” như thế này:

“…Con sông Thu chảy rất xiết, sóng to, lại tính khí cuồng bạo. Nước phá Nước. Nó tàn phá Lạc Long chỉ trong vòng ba mươi năm. Nó bưng bê nhà cửa vườn tược, từ đường, đình miếu, giếng nuớc, lư đồng, tiếng cười nỗi nhớ của Lạc long đi rồi. Nếu Lạc long còn hồn thiêng đâu đó hồn sẽ bay lánh nạn. Anh có thấy bãi xanh xa xa bên bờ Nam kia không. Đó, nó làm tiêu tan cái lịch sử phương này để là cát vụn bờ kia. Nó biến cái Sống cùng tổ tiên Lạc Long các anh thành những bãi lầy để mãi chờ tương lai cải tạo” [Làng và Sông]
Và sau khi quan lại triều đình phán xử rằng “đất thiêng Bờ Nam đã trở thành lãnh thổ Bờ Bắc”, thì văn bản sử nào có khả năng đẩy sự vụ đến nhiệm màu, để lột tả tận cùng cốt lõi bi tráng, tận cùng vẽ lại cuộc bại vong của xã hội Bờ Nam như văn chương thế này không:

“Thiên đạo năm ấy cực ác. Sau khi có lệnh quan rành rành, gió bất ngờ đổi hướng. Giống như Nguyễn Huệ vào Thăng long nhờ gió thổi khói ngược chiều, trả khí độc do Tôn sĩ Nghị đốt về lại cho Nghị. Nhưng đó là gió thuận lòng trời muốn cho muôn dân thoát ngục. Đằng này trời ác, muốn cho muôn dân lâm nạn.
Khi quan triều đình vừa rời khỏi bãi bồi, tức thì gió trời không thổi thuận chiều theo mùa, từ nam ra bắc, nghĩa là từ bờ nam ra sông nước giữa dòng như muôn năm thổi. Mà trời bắt gió trở ngược từ Bắc vô Nam. Nghĩa là đưa cái mùi thối tha từ sông nước bìa làng, chỗ tranh chấp máu me thây người, vào sâu làng xóm phương Nam. Làm cho thối đình làng, thối miếu thờ nhà cửa. Thối cả đường đi sỏi đá, khóm tre bụi trúc.
Tắm xong cho một em bé, ngửi nó lại, là nghe thấy mùi tử thi nơi đứa trẻ sơ sinh. Thắp nhang trầm cúng vái tổ tiên đã nghe ra ngay mùi tử khí trong hương trầm chỗ bàn hương án. Làm như thối từ tiên tổ thối ra. Gái trai xinh tươi thề non hẹn biển yêu thương nhau, là giữa hai làn môi chí tình đã có ngay mùi thối tha chết chóc oan khiên đâm chém.
Trên bãi chiến trường dành đất tanh hôi, càng lúc gió càng mạnh hơn. Reo rẻo. Từ bờ Bắc vào xóm làng phương Nam. Ra đầu ngõ thấy xác người. Đêm nằm đầy ác mộng. Tỉnh giấc là tứ phương thối hoắc. Dân bờ Nam hỏang loạn bỏ làng xóm miếu mộ già trẻ nhất tề bỏ xứ mà đi. Tre trúc có hồn mà không có đôi chân, đâu thể ra đi, đành đau đành úa. Những sinh linh, hồn phách và cội nguồn đã lỡ cắm rễ sâu trong Mẹ. Đành ở lại thì đành tan, chịu gục. [Làng Và Sông- XĐV/Màu Huyết Dụ].

Đặng Thơ Thơ: Anh vừa nói về thủ pháp hư diễn. Vâng, tính siêu thực lồng trong tinh thần đạo giáo tạo nên bầu khí quyển đặc thù trong các truyện của anh. Sự xuất hiện của “Bóng” là một yếu tố tiêu biểu. Bóng là linh hồn cô Xíu Mại trong Một Phần Khí Hậu (Hóa vàng cho Hồng Chuyên). Bóng là đối cực của người đàn bà dưới mộ trong Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ. Đây là lời của Bóng: Tôi là một nhân phận đặt biệt trên non nước này. Tôi tự hủy khi còn đang Sống. Lại huy động được máu xương của mình sau khi đã Chết. Tôi chống lại được cả thạch tín. Tôi là Xương Thạch Tín. Hủy diệt hay không là quyền ở Tôi.”

Bóng, hay ảo ảnh, đi từ vị trí nạn nhân đến kẻ giữ đặc quyền tha thứ. Bóng là một lực lượng siêu hình hay chỉ là oan kết chập chùng của dân tộc? Bóng ở đây tượng trưng cho những điều gì nữa? Nhà văn đứng ở đâu giữa Bóng và hiện thực đất nước hôm nay? Một nhà văn lớn có nhất thiết cần đảm trách vai trò chứng nhân lịch sử không? Nhà văn có đang tự hủy khi còn đang sống không, bằng hành động viết?

Cung Tích Biền: Viết, đối với tôi là vừa giải cứu vừa tự hủy. Phía nào cũng đẩy tới cái chỗ Tận-Hiến.

Trong trả lời những câu trên là đã phần nào lai rai giải trình về Bóng. Bây giờ phải trình bày thêm, chắc có chỗ trùng lập.

1. Tôi mượn cái Lý của Dịch, cùng phần nào tinh túy của triết học Phật giáo, trong diễn giải cái tinh thần Nhận-Trả, cái tương sinh tương khắc Ân–Oán, thủy-hỏa, trong tâm linh, lẫn sinh hoạt dân gian trong văn hóa Việt.
Vì chỗ giới hạn của văn chương [tác phẩm] nên đương nhiên, không cho phép triền miên luận giải theo cái cách nghị luận triết học. Ở đây chỉ biểu hiện qua lời thoại, hành xử của từng nhân vật, để nuôi dưỡng Cái Sống của nhân vật được tươi nhuận trong thế giới nghệ thuật.
Nhân vật Bóng [người đàn trên chuyến tàu, là hiện hình của giải mây đen đầu núi, có ngồi đối thoại với Kiên, như là vừa có thật, vừa như một chiếc bóng ẩn khuất; vừa là Cái-đang-Trước-Mặt, lại vừa là Nàng trong những giấc mơ xa của Kiên; Nàng là cái hoán đổi giữa quá khứ hiện tại vị lai …] chỉ là một trừu tượng, là Rỗng. Nó là nhân vật biểu trưng của “thuần lý”.
Nếu gọi Bóng là một lực lượng “siêu hình” thì cũng không xa mấy, về mặt “Lý”. Vì chính Nàng trừu tượng có lực thúc đẩy thực tế của Kiên. Chỉ có Nàng mới dẫn đường quay về, mới giải được nợ máu xương cho Kiên.

2.
Về nội dung, Bóng, vừa cắt đoạn vừa nối kết để tạo một chuyển luân giữa hóa sinh với tiêu trầm, và ngược lại. Là thái mâu thuẫn trong một viên mãn. Nó như thái dương đã ẩn trạng thiếu âm, và ngược lại.
Bóng, không mang màu sắc tôn giáo, không có nhu cầu niềm tin. Chỉ là nội dung mâu thuẫn của tiến trình mở ra Sinh-Diệt [Thái cực]. Toàn triệt, rồi nẩy mầm Thành, Trưởng; Thành lại đi thẳng tới Diệt, Hủy [nội dung âm dương của Lưỡng nghi]. Huyết-Mùi-Xương-Xác [Tứ quái] – một quần thể dần dà hóa trưởng [thập lục tứ quái] là [để] diễn dịch [lẫn diễn giải] cho hành trình Bóng.
Cứ theo Lý của Dịch mà luận giải Bóng. Thì Bóng chẳng là Thái cực. Tứ quái chẳng là Xác-xương-huyết–mùi. Nếu đọc kinh Dịch, mà nghĩ rằng “long” là con rồng thì chẳng nên đọc Dịch kinh.
Đọc lại những lời thoại giữa Bóng và Kiên sẽ rõ.
Trong triết học Đông Phương, luận giải này khá rõ. Trong kiến thức dân gian cũng bàng bạc những ca dao, thành ngữ nói về cái quy luật đáo hồi, thịnh suy, ân oán … Hai mặt trắng-đen, nhật nguyệt, đêm-ngày xoay vòng, quần bổ cho nhau để tương sinh tương khắc. Cái này biến đi, cái kia lại hiện. Trong Cái Này đã có Cái Kia phôi sinh.
Tôi luôn tin tưởng trong cùng đường sẽ nảy sinh Sinh lộ. Dân tộc ta luôn là chứng nhân của những mạc triều, và minh quân sẽ xuất hiện.

3.
Hầu hết nhân vật trong Tân truyện Xứ Đông Vật là những số phận lạnh lùng dung ruổi, mỗi nhân thân là mỗi vệt mờ giữa ảo ảnh hạnh phúc với cái gọi rằng quyền làm người. Tưởng như không ai cùng chia sẻ với ai một điều gì.
Nhưng giữa khoảng trống hờ hững kia, tưởng như nghìn thu đoạn đứt, lại có một sợi dây bí ẩn ràng buộc. Bóng vẫn theo mãi Kiên.

Tôi xin phép giải trình thêm một toàn cảnh của XĐV/ Màu Huyết Dụ, để sáng tỏ những điều nêu ra từ câu hỏi:
Người-đàn-bà-có-hài-cốt [hàm oan], đã đứng dậy từ mồ, mang bình đi tìm người hốt hài cốt chính mình [quy chiếu]. Bơ vơ như thế, nhưng Bóng lại là hiển linh chỉ dẫn cho Lão Kiên tìm về. Bóng tặng cho chiếc xương tàn để Kiên làm gương soi [lịch sử].

Người con gái Áo Hoa Cà trên đồi, một cô gái không có tên, dửng dưng, tượng trưng cho [tương lai] kẻ nối tiếp, không hề biết mặt Cha [dĩ vãng], lại chẳng biết Lời Mẹ trong màu xanh không gian bao la là Lời của Bóng [nguồn cội].


Tôi có một chủ đích nhân văn rõ ràng là không muốn nỗi Đọa Đày [đã nằm trong xương tàn] hiển thị lên niềm hy vọng của Tương lai.
Dưới chân đồi, lúc này, ai đốt rẫy khói mù bay [thế sự]
Áo Hoa Cà và Xương tàn ra đi [viễn trình]
Và, Áo Hoa Cà đi đâu? Đi về nơi Ẩn náu?
Xương tàn ở lại? Lại bắt đầu một cuộc dửng dưng quay về…

4.
Hầu hết nhân vật nữ trong tận truyện XĐV thường không có tên. Là bao la định mệnh. Là bàng bạc mây trời. Nơi nao trong Hệ thống chẳng có cái mẫu số chung của hàm oan, hoạn nạn.
(1)Cô gái trẻ nghe mùi đực đã rùng mình- chết non chết lạnh trong khách sạn vì hoang tưởng: “thiếu rơm cỏ ủ mình”,
(2) người nữ chủ khu vườn Hồng Chuyên điêu tàn,
(3) người Mẹ bỏ nhà ra đi [Một Phần Khí Hậu]
tất cả đều không tên.
(4)Người chị tuyệt vọng một sáng đến thăm em,
(5) người vợ bị phân mảnh thịt xương phân bố khắp phố phường,
(6) người tình của Mùi, bị Khúc biến thành khúc [XĐV/ Vào Ngôi]
tất cả đều là những kẻ mất danh xưng.
(7) Người Mẹ đánh rơi hai đứa con song sinh chiều hoạn nạn 30/4/1975,
(8) người mẹ mất bọc kim cương trên tàu để nhặt lầm một đứa trẻ mang sang Mỹ nuôi dưỡng,
(9) Người nội già đau khổ của Tảo Điên [XĐV/ Mưa Hồng]
tất cả đều là những nhân phận vô danh.

10) Người vợ dẫn đường cho chồng lên đồi soi xương tàn;
(11) người con Áo Hoa Cà từ Mỹ về hốt cốt Me[ XĐV/ Màu Huyết Dụ]
thảy đều không có tên.
Toàn truyện chỉ một đôi chỗ mã hóa là Xíu Mại, Bọ Ngựa.

5. Lập lại câu hỏi của Đặng Thơ Thơ: Nhà văn đứng ở đâu giữa Bóng và hiện thực đất nước hôm nay?
Tôi vừa thở đủ kiểu vừa rất phân vân chỗ này. Đất nước hôm nay là nơi tôi đang sống. Nhưng hiện thực này không thuộc về tôi. Nó đánh mất tôi, hoặc tôi lưu lạc trong nó. Cũng như những Người Nữ trong truyện. Cũng như đa phần những kẻ thất lạc, không tên, tôi không cầm chính vận mệnh mình, cuối mỗi đoạn đường lại mong gặp một ngã ba, để mong một lối rẽ; và mong tìm một người lạ để hỏi một hướng đường đang tìm đến.
Mệt mỏi, tôi dừng dưới bóng một cổ thụ, một cây đa chẳng hạn, ở đây có miếu thờ, đầy những khói hương, không hề thấy thần linh đâu cả. Đi lang bang chơi từ Bắc vô nam. Chỉ thấy những cảnh chết được dựng lại. Những cái chết thay vì tự trọng nên Vô danh. Lại lan dần chiếm đất đai của người sống bằng đền đài lăng mộ.
Tôi ngủ qua đêm trong đất nước tôi. Được đêm nào mừng đêm ấy. Tôi thức dậy trên đất nước tôi. Được ngày nắng mừng nắng, gặp mù mưa che mưa. Tôi không hề quyết định được nắng mưa. Tôi chẳng dự báo sẽ gặp ác mộng gì trong đêm. Một sớm mai tôi được gọi đi bầu phiếu. Người tôi không hề gặp mặt thắng cử chín chín phẩy chín phần trăm phiếu bầu…
Tôi bị treo thòng lọng lửng lơ.
Tổ quốc treo mong chờ.
Thế đấy, bầu trời nơi đây không cần sự có mặt của con người vẫn tự nhiên nắng mưa. Vẫn tự nhiên tối sáng. Và rất đương nhiên cai trị. Hình như xứ sở tôi không có bóng dáng con người. Chỉ là cái bãi đá trơn lu nhẵn mòn, con suối nước trong của thời gian lịch sử buồn nản len qua.
Có sao đâu. Với thực tế này rồi tối tôi vẫn ngủ, trong và, trên quê nhà. Được đêm nào hay đêm đó. Có sao đâu. Thời gian đâu có cho tôi lời hẹn ngày mai sẽ ra sao.
Nhưng mà Cái tiến trình của thực tế thực trạng, trên và, trong Hệ Thống này đã là hoàn chỉnh một hình ảnh của Mạc triều. Niềm hy vọng minh quân xuất hiện có ngày gần hơn. Cuộc hoàn minh sẽ chẳng xa.

6. Trong đời sống tinh thần của xã hội Phương Đồng đã từ lâu hình thành một Niềm tin qua những dự báo.
Dự báo đôi khi không nhìn rõ mặt nhưng hiện tượng chính nó đã trù trú đâu đó trong tâm thức, tâm linh. Nó hình thành một thái tư tưởng, một triết lý mà bằng vào đó con người có thể an nhiên, sống chờ và sống vui.
Sống kiếp này đã mặc nhiên thừa hưởng hay chịu lấy những hậu quả từ “ lần trước có may mắn làm người” của mình để lại. Sống kiếp này phải hiểu cho nỗi khổ đau hoặc hạnh phúc cho kẻ “thay mình ở một cuộc trùng khác với thế gian về sau” Cho nên cứ, dù là chỗ dân gian bình thường, cũng lan truyền mãi cái Hạnh làm người. Cho dù có oan khuất chập chùng vẫn cưu mang một tấm lòng tha thứ, với ngay kẻ đã có lỗi với mình. Cho dù trong cùng khốn cũng chợt nghĩ liều thuốc được ghi toa từ đạo lý “Ở hiền gặp lành”hoặc “Người trung mắc nạn có tiên xuống phò”.
Tiên ở đâu đây? Đây là cái xoay vòng của thời vận [trong cái vòng tròn mâu thuẫn của viên mãn]. Đây là cái Lý của Dịch biến. “Ai giàu ba họ ai khó ba đời”.
Niềm than thở mà cũng là niềm hy vọng âm thầm kia, một thời rải rác trong khắp cái nhân gian buổi khốn cùng, có thể tụ hội lại. Trở thành cái Tâm thức chung, lời thở than chung, niềm hy vọng chung của một tập thể, một cộng đồng, và của cả Dân tộc. Đó là cái lực tâm linh, sẽ thúc đẩy dần dà Thực tế, Thời cuộc chuyển động. Để thoát CÙNG. Là sẽ BIẾN. Để tắc THÔNG.
Người phỏng vấn, giờ đây, có thể nhận ra Cái Chỗ Đứng của tôi giữa Bóng và thực tế đất nước hôm nay. Nhưng tôi lại cắc cớ hỏi “ Nếu tôi đứng về phía Bóng thì Người phỏng vấn có cùng tôi trong chập chùng đèo mây bưng bình đi tìm hài cốt mình không?
(Để làm gì? Để nhận cho ra một ẩn trạng thiếu dương trong một xã hội Thái âm vừa mờ tối vừa mơ hoặc Hôm Nay.)

Đặng Thơ Thơ: “Người phỏng vấn” đang bị phỏng-vấn-ngược này rất sẵn sàng, sẽ đi cùng anh trong hành trình tìm kiếm những bộ xương tàn, sẽ cùng Bóng xây một nấm mộ chung cho những cái chết chưa được đặt tên, và sẽ cùng nhau chiêu niệm những linh hồn ấy.
Bây giờ vẫn còn một câu (đã hỏi) cần được anh trả lời: Một nhà văn lớn có nhất thiết phải đảm trách vai trò chứng nhân lịch sử không?

Cung Tích Biền: Không chủ tâm đảm trách cũng bất đắc dĩ là chứng nhân lịch sử. Cái kiểu mê say làm việc tận hai giờ chiều, vợ dọn sẵn cơm bảo “Ăn đi, Bồ Đề Đạt Ma diện bích cũng phải ăn kia mà. Sức đâu mà điên.” Vậy, Thì, Rằng là phải ăn.

Đặng Thơ Thơ: Cũng trong Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ, anh viết: “Có ngày cậu phải trả giá cho cái lý tưởng đội quần, cái khẳng định mơ hoặc, cái niềm tin mà chỉ khi đào mả quật mồ nghiệm thu mớ xương tàn, đã chưa chắc khẳng định được rằng đáng tin, hay chưa đáng.” Lời nhắn này dành cho đối tượng nào hiện nay?

Cung Tích Biền: Đối tượng đang tâm cầm nắm vận mệnh con người như một nắm lá tre. Xem dân tộc mình như là lũ Bốn-chân-chúng-mình.

Cũng có thể là nhắn gởi đến Tương-Lai. Chớ nên dùng xương máu tha nhân cho lý tưởng Đốt Đền. Không nên đem mình làm phương tiện, làm nhiên liệucho tham vọng một ai.
Nhưng là một nhà văn, “Lời” của tôi tuy tha thiết mà rất đỗi bình thường. Không hề là một Lệnh. Đây chỉ là lời nhắn trên điện thoại di động để nhờ thời-gian-cầm-tay mang đi.

Người Tương lai
nhận tin. Có thể trả lời OK. Hoặc delete tin nhắn. Cũng chẳng sao. Mỗi thế hệ có tự do trong chọn lựa, bằng vào mỗi vận hành lịch sử riêng thế hệ.
Cái tôi muốn nhấn mạnh [ẩn dụ qua nơi chốn] là “Lời” trao đổi này xảy ra giữa Ngã Ba đường. Cũng là Ngã Ba quê hương. Ngã ba sử lịch. Lúc một người đã nhất trí Lên đường.
Vì sao ngã ba có tên là Trạm. Sao là Trạm? Vì cả không gian lẫn thời gian của “trạm”, đều là “tạm thời”. Chỗ ghé qua, nơi trung chuyển. Nơi một sát na gặp gỡ rồi mỗi người mỗi hướng đời. Xưa kia “trạm” là nơi đêm đêm trên con đường mờ khuya, con ngựa phi nước đại, người đưa tin thơ cầm đuốc lập lòa mang tin. Trong đêm tàn, có thể tin vui, tin buồn cấp báo, con ngựa có thể đi ra từ kinh thành, hay từ biên ải quay về.
Trong truyện, tôi chủ đặt Bác Kiên vào tâm thức “nhớ lại lời nhắn nhủ”, khi trên tay Bác đã cầm chiếc xương tàn. Thế sự đã nằm yên trong mộ Sử lịch. Muộn quá rồi. Nghĩa là với lời khuyên xưa thì bây giờ là không còn gì cứu vãn. Chỉ còn là Cái Rỗng-Trống thời gian. Trống- Rỗng đất sâu.
Cho nên Lời Nhắn là cần thiết. Nhưng cái ý thức chấp nhận Lời nhắn là quan trọng hơn.

Đặng Thơ Thơ: Thế giới truyện của anh luôn mở ra một cõi vô minh, một khoảng trống cạm bẫy nơi mọi chân lý và sự thật đều có thể thương lượng và định giá lại. Có phải ở nơi trống không ấy là những giá trị mà anh tôn trọng? Và sự nghiệm thu nào là cần thiết cho những thế hệ sau?

Cung Tích Biền:

1. Tôi là một người luôn tìm nguyện vọng trong hoàn cảnh đã mép bờ tuyệt vọng. Là người luôn duy trì niềm tin khi hiện thực đầy đủ dấu hiệu cạn kiệt cái để tin. Tôi vẫn hy vọng gặp “đồng bào” trong Xứ Động Vật hôm nay. Vì tôi hiểu rằng tôi rất còn ấm áp khi hiểu ra mình có đồng bào.
Tôi từng trải qua thường trực trong suốt đời những bệnh nan y. Từ bé sốt phù thủng, củ trướng gan do sốt rét rừng thời tản cư. Lủng màng nhĩ do thối cả hai lỗ tai thành điếc nhiều năm trong vùng kháng chiến thiếu thuốc trụ sinh trị chữa. Bác sĩ Tùng ở Đà nẵng đốt thịt dư trong lỗ mũi tôi cả thảy ba lần [1957] – một thời gian dài sau đó tôi mất khứu giác, mùi thơm thúi như nhau, lại vỡ ruột thừa viêm phúc mạc toàn bộ thời ăn bo bo, vì BS Khang XHCN khám bụng tài tình, cho rằng tôi bị sạn thận, tôi chết xỉu quay lơ khi chuyển tới bệnh viện Phúc kiến rửa ruột [1978], rồi bị bứu cổ [2000], dãn tĩnh mạch mãn tính, lộ ra ngoài da xoắn tròn như ruột gà// bị tiểu đường đã hai mươi năm nay, từ 1988 bị cườm cả hai mắt, mổ từ hơn hai mươi năm trước. Hiện đeo kính 17 độ vừa viễn vừa loạn thị. Bị ung thư đại tràng đã giải phẫu cắt ruột [2006] tại BV Pháp Việt. Hiện đã di căn sang bướu tuyến tiền liệt…mà tôi vẫn sống, vẫn làm việc ngày đêm. Mà vẫn lai rai nhậu, các lưu linh cũng chào thua. Mà hồng hào nói cười… Vì tôi luôn an nhiên hy vọng, trong bất cứ hoàn cảnh nào, dù hy vọng có thể đang là …tro tàn.
Tôi vững tin rằng ngoài con người phàm trần này chúng ta còn một đấng thần linh trong chúng ta.
Thần linh, trong chừng mực, có thể thương lượng với tử thần. Cũng là chỗ đồng chí đồng thần với nhau.

2. Giữa Chân lý và Sự thật, tôi tôn trọng sự thương lượng [thương lượng không hề là một thỏa hiệp] miễn là khách quan trong việc kiểm kê những giá trị cần thiết để lịch sử Nhìn Lại.
Giữa cái biên giới khắc nghiệt kia hãy còn một cánh cửa của thương lượng. Đó là cái khoảng trống để cất đi cái mũ bảo hiểm riêng của mỗi bản ngã… Cái khoảng trống để giảm tốc đối nghịch, vì lương tâm con người. Vì quyền lợi chung. Vì cái trách nhiệm bảo tồn sự trong sạch, nghiêm chính.
Trên căn bản này văn chương tôi luôn Mở Ngỏ. Về mặt giải pháp nó bày ra cái khoảng trống hy vọng. Về mặt tư tưởng thì Khoảng Trống này có vẻ… không hiền từ chút nào. Nó là Cái, mà gọi là Cõi Vô minh cũng không sai, đòi hỏi một thách thức của chiêu niệm.
Cái nhân danh chân lý để đọa đày Sự thật hãy còn lồ lộ ra đó. Cái hố thẳm tuyệt vọng trong nấm mồ không thể vùi lấp trọn vẹn một phận người hãy còn là dấu hỏi chưa phúc đáp trọn vẹn. Nghĩa là hòa giải cái xác xương nằm dưới nọ với tang thương máu mủ còn vằng vặc trên này hãy còn là viễn trình đợi chờ. Tất cả còn trên khoảng trống thời gian chờ mai sau “định giá”. Có nên có một thương lượng giữa cái gọi rằng yên nằm trong Lăng với con đường trầm thống mà Dân tộc đã đi qua?
Đúng là chúng ta tôn trọng những giá trị giữa Trống Không ấy. Bây giờ nó là Chân Như. Chỉ một khái niệm.

3.
Để nghiệm thu ư? Tôi là một người cầm bút. Đầy đủ xúc cảm ủy mị. Đầy đủ hờn căm. Cũng rất giàu mơ tưởng. Và chìm ngập tuyệt vọng. Tôi không lẻ loi trong suy nghiệm. Có nhiều nhà văn cùng thế hệ với tôi, cũng từng háo hức lên đường, từng tuyệt vọng, cùng góp não vì chữ nghĩa, và máu cho chiến trường, cũng không khác gì tôi, sẽ hiểu ra cái giá của nghiệm thu là thế nào.
Có thể nào một thời giết nhau rồi một thời thương mình lỡ giết nhau. Có thể nào đào mồ chôn nhau rồi làm đám giỗ linh đình cho nhau. Tất cả đều sau cái ngày “Gặp nhau ở ngã ba Trạm”.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch