- Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới - http://damau.org -

CTB nói chuyện với Đặng Thơ Thơ, kỳ 2

Đặng Thơ Thơ nói chuyện với Cung Tích Biền

Kỳ 2: Tân Truyện Xứ Động Vật

Đặng Thơ Thơ: Xin anh định nghĩa thế nào là “tân truyện”? Đây là một cách dùng chữ mới, một thể loại mới, một hình thức diễn đạt mới khả dĩ chuyển tải chủ đề tư tưởng của truyện?


Cung Tích Biền:
Cái từ “tân truyện” đã được dùng từ lâu trong sinh hoạt văn học miền Nam. Nếu tôi không lầm, nhà thơ Viên Linh đã in trên hình bìa truyện Mã Lộ là Tân truyện [1969].
Không rõ các nhà văn định nghĩa từ này như thế nào. Tôi dùng từ “ tân truyện” với một nghĩa tương đối khác. Có thể cho là gượng ép, thì tùy. Trong Xứ Động Vật, nội dung khá cay nghiệt, hình thức dựng truyện cũng có nhiều cái mới.
Trong Hán tự có nhiều chữ “tân”, viết khác nhau, mang mỗi nghĩa rất khác nhau. Trong đó có Tân = mới, và Tân = cay [đi với cay đắng, cay chua, cay nghiệt]. Tôi tạm mượn hai chữ “tân” [Hán] gộp một, để hàm nghĩa chỉ một tên gọi [đồng âm Việt]. Cay trong nội dung. Và mới trong bố cục, cấu trúc, dụng ngữ, diễn đạt, xử lý văn cảnh. Có thể gọi là bi ký, hài kịch, truyện kỳ, tôi nghĩ cũng có thể dùng “tân truyện” cho Xứ Động Vật.

Đặng Thơ Thơ: Những tân truyện trong tập Xứ Động Vật liên quan với nhau thế nào về nội dung và hình thức? Có thể coi Tân truyện Xứ Động Vật như một tập truyện cùng bối cảnh, hay một tiểu thuyết với một chủ đề xuyên suốt qua những nhân vật khác nhau? Hình thức và nội dung tân truyện có phải là một liên kết mang tính thịt-xương hay hình-bóng?


Cung Tích Biền:
Nhất quán trong nội dung. Đa hình thức trong bố cục, cấu trúc. Có thể xem Tân truyện Xứ Động Vật là một tiểu thuyết không chương hồi. Tiểu thuyết phi tiểu thuyết. Rất đảo lộn trình tự, mỗi nhân vật mang tính đa diện, đồng hiện, biệt hiện, dịch biến, rồi tái hiện dưới một nhân phận, một mệnh kiếp khác, trong một chuyển luân. Nhưng tất cả, dù trình tự nào, cũng dung rủi trong một chủ đề xuyên suốt: “Từ Thỉ đến Chung, được cảnh báo từ Bóng.”
Tất cả vật dụng, hình ảnh, cả phong cảnh, có mặt trong tân truyện, mang tính “biểu hiện”, hoặc tạo “ấn tượng” hoặc chỉ là “cái cớ” cho một ẩn dụ, ẩn ngữ. Lại là không gian phảng phất cho Bóng siêu hình.

Đặng Thơ Thơ: Mô típ chủ đạo trong các tân truyện để nối kết toàn tập là gì? Có phải các nhân vật tái hiện dưới nhiều dạng trong nhiều bối cảnh nhưng cùng chung một định mệnh hôn ám? Hay những ẩn dụ luân phiên đồng hiện và tái hiện mới là mô típ chính? Sự phát triển những tân truyện này xảy ra thế nào?


Cung Tích Biền:
Tôi xin được phân tích tương đối về mặt nội dung và cấu trúc tiêu biểu của từng truyện và toàn truyện.

1. Mỗi tân truyện trong Xứ Động Vật, được chia ra làm 4,5, hoặc 7 cái tựa đề riêng biệt. Nếu cắt ra, mỗi tiểu đề lại có thể là một truyện ngắn.
Mở đầu là Mùi của gió Mùa, viết ngắn, được xem như một Mở [tuyên ngôn]. Khơi hoạt mọi nguồn cơn là: “Một Cục Gạch”. Biểu trưng cho Hệ thống – cái là nền tảng đang nát vỡ, thấm máu, là Thần tượng thờ. Khởi đầu của Mùi lịch sử, của gió Máu, sẽ là sa mạc điêu linh dẫn tới trung tâm Hệ thống Động vật..
Xét về mặt “bệnh sử” Cục Gạch Vỡ Máu này đã có thể được đặt định từ đâu đó, hơn bảy thập kỷ trước, sâu trong dĩ vãng giống nòi. Và còn được thờ trong lăng tẩm [lẫn lăng mạ] trong dài dặt về sau. Cũng là cái dấu ấn định mệnh chung. Khơi nguồn cơn cho biết bao rầu rĩ trong máu cổ lai, trong cái thế sự gọi rằng Sử lịch Việt nam. Là thế này:
Quá khứ luôn là cái đáng phỉ nhổ, nguyền rủa, rất đỗi thù hận của Hôm-nay. Và, Tương lai luôn muốn triệt phá, phủ nhận, đánh xóa, và kết tội, để treo cổ Cái được gọi rằng Hôm-nay.
Mới nghe ra, chừng như đây là một dấu hiệu tiến bộ, một tiến trình luôn đổi mới. Một nhịp bước lịch sử mà những thế hệ sau luôn luôn chuyển động, xét lại, để tìm Con-Lộ-Mới cho sinh mệnh riêng, mỗi nhu cầu thế hệ.
Không phải, và không hề xã hội luôn được đơm hoa như thế. Đây không hề là tin mừng cho môt dân tộc. Một dân tộc mất tính thừa kế là một dân tộc suy đồi mười phương dân tộc. Một dân tộc mà mỗi thế hệ có riêng một mối thù tử sinh với tiền nhân là một dân tộc sa đà hố thẳm. Đây là thảm trạng vì mỗi đổi đời, mỗi đổi cờ, là phải xử dụng Máu để khử Mùi.

2.
Xứ Động Vật mở thêm ra Một Phần Khí Hậu, Xứ Động Vật Vào Ngôi…là trình tự biến thể, diễn dịch dòng chảy, vào giờ phán quyết. Dòng chảy này không hề để Rửa-Sạch, mà Hủy-hoại-lan-dần. Hủy hoại không gian nhân văn, và làm mất ý nghĩa thời gian của lịch sử.
Truyện Xứ Động Vật Mưa Hồng, nói về cuộc phân ly của hai anh em song sinh chiều 30-4-75. Về sau, một là Việt [Tảo] và một trở thành công dân Mỹ [Jim]. Hai cái bọc gấm, thêu hình hai con rồng y chang nhau [biểu hiện cho bào thai] đã cùng nhau đắp mặt cho nhau, lúc Tảo bị đập dập óc chết tốt giữa đường phố Sàigòn.
Từ lúc tám tuổi, trong một đêm trăng về sáng, Tảo đã từng chứng kiến một đại úy Việt nam Cộng hòa bị bà con trong xóm làng C xét xử, bằng cách hạ nhục, xỉ vả: “mày là thú, con thú”. Và “nhân danh thú” này đã gây cực hình, đánh một “con người” nát tan trên nền đất trăng về sáng. Tảo bị ám ảnh, đi giữa đất trời Việt nam, cậu bé luôn nghĩ rằng ai cũng là “Con thú trong bầy thú.”
Rõ ràng là Tảo không mắng ai là thú cả. Đây chỉ là tiếng hô hoán đi ra từ ác mộng. Cậu là một nạn nhân, mơ hoang trong ám ảnh thú, đã bị triệt tiêu tuổi thơ, dưới cái nền trăng quê nhà đẫm máu người.
A lô nơi đây có bầy thú” là lời mơ hoặc trong thinh không, là thức giấc từ một Cõi vô thức. Mà có thể hằng bao tuổi trẻ Việt nam đã cưu mang, ám ảnh như Tảo. Dù màu sắc vô thức [lẫn tiềm thức], có bề khác nhau nhưng cùng trong Một Cõi Người bao la hình chất thú.
Truyện Thừa Dư [đi cùng bộ với XĐV/ Mưa Hồng] lại nói về cuộc phân ly giữa hai anh em sinh đôi trước nội chiến [1960-1975]. Hai con người thuộc hai bên tả hữu, hai “tặng phẩm từ lý tưởng tàn tật ” này đã quay về cùng trùng tu nhà thờ. Và, mỗi người một cẳng chân, ráp lại thành một con người đủ hai chân, trên cái sân khấu liên hoan hôm khánh thành nhà thờ.
Đây là tất yếu lương tri cùng ý thức: “Tật nguyền lịch sử phải được tự nguyện mỗi bên ráp lại”. Và chỉ ráp lại, tái định trên cái sân khấu nghệ thuật đêm liên hoan – nghĩa là còn đong đưa trên cái hy vọng Chờ – trong một cái nhà thờ truyền thống nhàu nát vỡ tan, vừa mới được sơn phết lại chiều qua.

3.
Truyện cuối là Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ, một “Đóng” cho Tân truyện Xứ Động Vật.

Cụ Gàn già minh triết
ở đầu sách bị bọn trẻ [Tương lai Động vật] kéo màn. Lão Kiên già đi làm lịch sử ở cuối sách quay lại liếm xương tàn trên đồi quê hương, nơi lão tự nguyện lìa đứt [Ra đi chỗ Ngã Ba Đường] từ bốn mươi năm trước. Lão Kiên giàbao năm dật dờ cơn lý tưởng, mà chính người con gái không biết mặt cha, gọi lão là Bác – ngồi trong lòng huyệt mộ [Dĩ vãng] mới được đào bới ra, vẫn trên đồi quê hương, lão soi gương qua chiếc xương tàn [Hiện tình].
Kết truyện, là giải mây đen hình đàn bà đầu núi Tây [Trường sơn] đã giải kiếp. Đã thành hoa chuyển luân trong trời đất nhiệm màu ngũ sắc.
Nhưng hài cốt mang đi. Mà cái Xương cụt để lại Nơi Này.
Lịch sử Việt nam là cái xương tàn, đến không toàn vẹn, trong lồng kính.

4.
Những lời trên đây là diễn giải trình tự câu chuyện, thể theo đòi hỏi từ câu phỏng vấn đặt ra. Không hề là giải mã những ẩn dụ. Cũng mong được hiểu, ngoài ẩn dụ “Ý”, rất nhiều từ mà tôi dùng trong Tân truyện, cùng như trong các sáng tác khác của tôi, là cách chơi chữ. Nhan nhản từ ngữ, rất đa phương và trùng đáp như thế.
Tỉ như trong Dị Mộng có nhân vật mang tên Cụ Lội [cái ông mà con cháu đã lập sinh phần cho ông thuở bảy mươi tuổi, nhưng ông sống mãi, để nhìn sự suy tàn của cháu con]. Lội đây có thể là Nội, ông nội [cách phát âm “N” thành “L” của một phần bà con vùng Bắc bộ]. Và một cách khác, bởi nếu ai là con cháu tộc Trần ở miền Trung, thì hầu như trong đa phần gia phả, đều có các Ông Tổ bôn ba chịu nạn, mang tên là Trần Lặn và Trần Lội [có thề, bị bọn nhà Hồ chơi khăm nên con cháu vua Trần, hoặc ai mang họ này, phải lặn lội vào Quảng namtìm đất hứa chăng].

5.
Còn Mô típ ư? Là cái nguyên do, là hà cớ? Là mẫu đồ hình định? Hay nguồn cơn khởi dựng? Là những chuyển luân nối kết sự vụ?
Cái dây xích tóm bọn chi tiết lại trong một rọ bố cục? Hay cái khóa hoằng vi mở đóng những mật ngôn, dụ ngữ? Hay chỉ là trơn lu mặt bằng trang trải nội dung biểu hiện qua Chữ?
Thế này, Lịch sử là suối nguồn. Con người, xã hội con người [đương nhiên chỉ là quan điểm chủ quan trong sáng tác của tôi] là diễn dịch dòng chảy. Cuộc diễn dịch này thường trực mở ra định mệnh. Hay ít ra cái tạm, [được] gọi là định mệnh.
Như trên tôi đã nói, Dòng-Chảy này không để Rửa-Sạch mà đen màu cho một Hủy hoại-lan-dần. Đây chính là sợi dây chủ đạo xuyên nối. Mô-típ hình tượng. Đẩy ra cõi vô bờ những thân phận lêu lổng xác phàm, xiêu ngã tâm linh.

Luôn nghe một thứ âm vang mà không thể định hướng nó từ đâu tới. Nó rợn người, đau nhứt, nó như từ cái giá treo cổ vọng lại. Như tổ tiên từng treo cổ.

Đặng Thơ Thơ: Thưa anh, có thể “Mùi” và “Huyết”, xác và “Xương Tàn” là những thứ bao trùm và tạo nên không khí truyện, cũng là những nhân vật chính trừu tượng của truyện?


Cung Tích Biền:
“Nhân vật” trừu tượng, mang tính siêu hình là Bóng. Mùi, Huyết, Xác, Xương, là xác và nền” [xem phần trả lời thêm ở một câu hỏi sau] cho những ẩn dụ luân phiên đồng và tái hiện. Xương Xác Huyết Mùi, là những quần thể hò reo làm huyền ảo Bóng.
Bóng có trong mỗi bước đi, mỗi bờ cây dừng lại, có trong hân hoan, trong mỗi thở dài.
Tôi nhắc lại một phần trong câu hỏi số 6 “Sự phát triển của những Tân truyện này xảy ra như thế nào?” -Thì đấy: Mãi theo Bóng. Lơ lửng, chảy trôi, cùng Bóng. Nhờ Bóng mà rõ soi được hiện thực. Nhờ Bóng tôi lênh đênh cảm xúc và hóa mộng trong trang Viết. Viết là một cách cứu rỗi cũng là cách tôi an tử dần dà. Đó là Mệnh.

Đặng Thơ Thơ: Trong Xứ Động Vật Vào Ngôi, anh đã dựng lên một thế giới hiện thực huyền ảo đầy kinh dị khởi đi từ hiện thực xã hội chủ nghĩa, một hiện thực phi nhân dẫn đến sự mất trí, mà hành động giết người thân yêu lại là cách đề kháng cuối cùng để bảo vệ nhân tính cho nhau. Trong cương vị một nhà văn, anh chọn cách đề kháng nào?


Cung Tích Biền

Trả lời ngắn:
Đề kháng với hệ chính trị đang khống chế? Với cái xã hội sa sầm, đâm mình xuống vực?
Tôi cũng mệt mỏi một đời. Đã từng cùng bè bạn sinh viên xuống đường chống độc tài 45 năm trước, thưở sinh viên tranh đấu [1963]. Đã chưa trưởng thành, nên buồn bã lặng ngắm cái bắt tay để chia ly giữa những ruột thịt anh em, kẻ ở Nam người ra Bắc [1954]. Hoặc người lên đường vào Võ bị, người nán lại rồi Ra khu [1964]. Hay, một sớm mai uống cà phê cùng bạn, hai hôm sau từ chiến trường bạn không trở về; chỉ cái nón sắt cùng tấm thẻ bài ghi tên tuổi số quân bạn trở về.
Bây giờ đồng-hồ-đời, của riêng tôi đã điểm tiếng thứ 72- trong một ngày bình-minh-hoàng-hôn có 100 giờ. Hai mươi tám giờ chiều còn lại, thấy là nhiều, nhưng gom hết bóng vàng sắp vào đêm, lại không bằng một giờ rực rỡ thuở thanh xuân Dẫu: “nắng được thì cứ nắng” tôi không thể, không còn lửa thiêng tham dự bằng hành động tích cực, để cùng cả dân tộc này, giải quyết một cuộc đổi cờ.
Vả, tôi là gì đây. Chỉ là một đứa con nhỏ bé, là một thường dân vô danh. Sự đề kháng của tôi, cũng chỉ là, một phản ứng nhỏ nhoi trong nghìn triệu phản ứng. Thời thế, xã hội có gạt tôi ra, bỏ qua tôi bên lề đường, mọi nẻo đường vẫn là như thế.
Vậy đề kháng với cái sinh mệnh phải đương nhiên chịu lấy? Tôi cũng như nhân vật không có tên, đã ban phép an tử cho vợ, trong Xứ Động Vật Vào Ngôi. Nhưng khác hơn một chút là tôi “an tử” chính mình. Một cách tiêu trầm dần dà, như cái cây vừa tạo cái lõi rắn chắc để đời bên trong, vừa hao gầy dần thân lá bên ngoài.

Trả lời dài:

1. Người-giết-một-con-Người trong trường hợp này, không hề là một kẻ mất trí.
Chỉ có tôi, người cầm bút viết về cái thảm đát cắt đứt gân máu, phân mảnh hạnh phúc, phân bố nỗi đau ra từng bao tải cảnh báo cho khắp thế gian… Tôi, tôi mới là người Mất Trí.
Về mặt đạo đức, xã hội có thể lên án Người đàn ông này là kẻ sát nhân. Đưa Ông ta ra tòa lãnh án tử, là hợp pháp. Không một ai cãi cọ phản đối. Tác giả cũng đã đưa Ông ta “ra tòa”, dù trong tiểu thuyết.
Nhưng xét về tâm lý ông ta rất minh mẫn trong hành sự, sau cái ngày 30 tháng 4 ấy. Không thể gọi rằng mất trí. Ông ta chỉ có một cái lỗi lớn [ta có thể tha thứ] là khánh kiệt niềm tin trong bước đường cùng. Ông không nghe âm vang của Bóng: “Chính chúng ta phải tha thứ những sai lầm của Lịch sử.”

2.
Xứ Động Vật Vào Ngôi, một thế giới hiện thực huyền ảo đầy kinh dị? Ừ nhỉ, nhưng Cái Chết của Nàng là rất thân ái. Một cái Chết đẹp, vì Nàng cao cả, một cách Tự-sát-thay-cho-người-thân- yêu.
Nhưng Nàng là Ai? Trong truyện Nàng không có tên gọi. Cũng như chồng của mình, nhân vật Ông, kẻ giết Nàng, cũng không có tên. Có ai trong chúng ta mang hộ tên Ông ? và ai trong chúng ta cũng có thể là Ông- giết- Nàng?
Nàng, những Kẻ không có tên kia mà. Những biểu tượng bát ngát, những nỗi chết mênh mông. Những đau thương bầm Mùi và Máu đã không biên cương. Những xác xương oan đau, được gầy ra không thể nào nhặt hết, không thể nào thu gom cho đủ, chẳng thể tìm ra mả mồ. Chỉ đứng ngắm cái mênh mông núi rừng, hay những bến bờ trăng khuya, mà tưởng nghĩ “Anh tôi ngã xuống chỗ này”, có lẽ, hay “cha tôi hồi trước được vùi nơi kia”, có thể. Cho nên Nàng hãy còn gieo neo bàng bạc đó đây. Cũng có thể, Nàng là Mẹ đang đặt cho thằng con nhà văn những câu hỏi xót đau này đây?
Tuy nhiên Nàng vẫn còn một hạnh phúc, là biết mình-được-an-tử. Bao nhiêu kẻ- bị-giết khác, đã bị mờ trá bởi những danh xưng hào nhoáng, chung quy cũng chỉ là vật hy sinh, rỏ máu tế thần.

3.
Cuộc“giết-người-thân-yêu-thay-mình-tự-sát,” của nhân vật Ông, đau đớn hơn chính mình tự sát. Mẹ cứ nhìn đi. Nhìn đứa con máu me bị tai nạn tan nát trên mặt đường, Mẹ sẽ đau hơn nghìn lần chính mình thọ nạn. Đứa con đau bệnh nan y, Mẹ nghĩ coi, Mẹ đau lòng xiết bao khi phải chích cái ống thuốc an tử cho đứa con thân yêu.
Một người biết an tử cho một người để giải thoát trong một hoàn cảnh bị tiêu triệt cái ý niệm giải phóng giải thoát, con người này chính là một dấu ấn đau thương nhất trong những Đau thương.
Ở đây, bi kịch diễn ra một cách lạnh lùng, tự nhiên; cầm bằng mọi cảm giác khổ đau hạnh ngộ rơi đều như mọi vật rơi trong một khoảng chân không. Tuyệt không lời tình tự. Không giã từ. Tỉnh queo như thép nung thì nóng. Tuyệt không tiếng khóc, chẳng hứa hẹn, không than van rên rỉ của người bị giết. Mà mỉm cười. Không hề có gì rùng rợn. Chỉ có một tương giao cao khiết chỗ tâm linh. Vì sao? Sao vậy? Hà cớ nguồn cơn? Vì ngọn lửa thiêng từ đỉnh hận thù lẫn yêu thương đã trở thành cái lưỡi kim cương. Mỗi lưỡi nhọn là một lời kinh nguyện giải thoát.

4. Trở lại cuộc trùng đáp hai chữ đề kháng? Tự an tử là giải quyết dần dà sự vụ để tìm về bản lai diện mục.
Là bằng cách tự cô lập. Là bằng cách giết dần đi những niềm thân ái. Cắt lìa dĩ vãng. Quên đi, cả đẹp lẫn không, cả vui cùng đau. Lắng nghe từ đáy linh hồn câu hỏi: “ Sống với Chết đã một chưa?”
Tôi mong cuộc phỏng vấn này là cuộc cuối cùng trong bể dâu lận đận. Nói mãi cũng như chưa, như không nói. Nói nghìn năm cũng thà “đừng nói.” Hỏi và Đáp đều đi ra từ mọi Ngã Tối.

5. Những “dần dà” trên đây là dọn mình cho một thoát vượt rộng lớn, một tiếp cận ngoài cái hạn hẹp Tử-Sinh.
Như một đoạn được ghi lại trong Sử Thiền:

“Nhi tổ Pháp Loa bệnh nặng. Tam tổ Huyền Quang, một đêm khuya tới thăm. Pháp Loa nằm rên hừ hừ, lại nói mê. Huyền Quang ngạc nhiên, sao tự tại đến như thầy mà lấn cấn, bị hành hạ trong giấc ngủ. Huyền Quang hỏi:“Thức với ngủ đã là một chưa?” Pháp Loa đáp:“Thức với ngủ đã là một.” Huyền Quang lại hỏi:“Bệnh với không bệnh đã là một chưa?” Lại đáp:“Bệnh cũng chẳng liên can đến kẻ ấy. Không bệnh cũng chẳng liên can đến kẻ ấy.”

An tử dần dà
,
rất ư minh triết, là bằng cách hiểu câu chuyện trên [Kẻ ấy, hẳn là bản lai diện mục, cái chân tâm tuyệt đối] qua một thể điệu khác. Là thế này, là lôi sự vụ ra ngoài bãi trống lịch sử, để chúng ta tịnh yên trong cốt lõi đề kháng. Ta sẽ nhận ra yếu tính máu me bàng hoàng thể thái như sau:

Cái đêm Huyền Quang đến thăm Nhị tổ Pháp Loa của Thiền Trúc Lâm Yên Tử, Nhà Trần [1226-1400], là vào đêm 11 tháng Giêng năm Canh Ngọ [1330], đúng sáu trăm trước của năm 1930. Năm Canh Ngọ [1930] cũng có một đệ tử đến thăm Thầy, lập ra một cái Trận-đồ-triền-miên-máu-lửa. Tập-Đại-Thành của nó là đốt rụi những trang sử cũ, và xóa tiêu cái bản lai diện mục của cả một Dân tộc.
“Từ Ấy” mỗi nhân phận, mỗi nhân danh, trên con đường dần xa nhau. Hoặc bị đứt lìa Tổ quốc. Như cái phần đuôi con thằn lằn lúc bị đứt lìa khỏi thân mình. Cái đuôi vùng vẫy, cả run rẩy, thể hiện nó đang hoạt động. Thật ra nó đang trên đường chết của một con thằn lằn định mệnh tàn tật đang bò khuất đâu đó.

Đặng Thơ Thơ:Truyện Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ có phải là một cách diễn dịch lại lịch sử, trong đó nhân vật người đàn ông đi tìm khúc xương cụt của người đàn bà chết oan là hình ảnh của Hồ Chí Minh và đất nước Việt Nam?


Cung Tích Biền:
Xứ Động Vật Màu Huyết Dụ, đúng là một diễn dịch lại lịch sử, một lịch sử nước non Đỏ màu, nhiều nghĩa máu:

“Máu khe núi,
Suối ngàn kinh nguyệt”
Đã là ẩn dụ thì người đọc có quyền, bởi tùy vào khả năng mặc thị, tùy cái lung linh di dời điểm nấp trong ẩn dụ, sẽ nghĩ, sẽ tưởng, và sẽ hiểu khác đi.
Có thể hiểu đây là Kẻ Về tìm Bóng. Bóng nạn nhân rộng lòng tha thứ cho kẻ gây tội. Như truyền thống thứ tha rộng lớn hằng có trong tích Việt. Nên lấy ân báo oán. Lấy oán trả oán thì oán oán chập chùng.
Hay trong ẩn dụ, lộ tỏ cái bã mía được thải ra từ cái lò nấu đường. Lý tưởng chắc là ngọt ngào. Nên người mới mê mà xay xác.
Cũng có thể hiểu một cách khác, rộng thoáng hơn. Rằng:

Kẻ Đốt Đền cũng chỉ là một nạn nhân của tham vọng. Một cá nhân nhỏ bé. Hạt cát sông Hằng. Chỉ là mồi lửa un khói ban đầu.
Cái đau lớn, cái nghiệt ngã truyền kiếp là cả ngôi đền bốc cháy, tự thiêu rụi mình. Tựa như cả một dân tộc nghìn năm văn hiến bỗng bất ngờ sơ khai, một dân tộc anh hùng bỗng dai dẳng lên cơn, triền miên mãi cháy, hủy thiêu nhau. Kịch liệt ráp đuôi thú vào lưng người.

(còn tiếp)

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ