Trang chính » Biên Khảo, Đọc và Đọc lại Email bài này

Những Bài Thơ Đến Trước Giấc Ngủ của vi lãng

 
Những Bài Thơ Đến Trước Giấc Ngủ là một bài thơ ám ảnh. Sự ám ảnh đến từ âm điệu, hình ảnh và ý tưởng; sự vây bủa từ chủ đề đến chỗ đi thoát khỏi chủ đề. Thoạt đầu tôi nghĩ mình sẽ mất khoảng 2 tiếng để viết trọn những cảm xúc mà nó mang đến. Nói như vậy không phải vì tôi tự tin vào khả năng viết của mình; mà tôi tin vào cảm xúc mãnh liệt mà bài thơ đã dồn thổi vào tôi và tin nó sẽ dẫn dắt tôi đi bằng tất cả cường độ rung cảm – tức là tôi để nó lôi kéo tôi đi và dùng tôi như một công cụ để nói điều nó muốn. Và với vô vàn cảm xúc tràn ngập mà tôi trải nghiệm khi đọc, tôi tin rằng mình sẽ viết ra dễ dàng, không tốn nhiều thời gian, vì mọi thứ đã sẵn đó, đã đầy ứ trong mình. Nhưng tôi lầm (tôi luôn luôn lầm như vậy khi muốn viết về một điều nào). Tôi đã sa lưới nó không hay. Khi muốn phân tích một bài thơ là phải chấp nhận bị nhấn chìm trong nó. Tôi chỉ có thể bước ra sau khi nó đã thỏa mãn công việc “hành hạ” tôi. Tất cả những gì nó đem đến cho tôi (sự ngây ngất, xúc động, thăng hoa…) nó đòi tôi phải trả lại ngang bằng, không hơn không kém. Và sự đòi hỏi quả là kiệt lực.

*

vi lãng đã sử dụng hình thức siêu-thơ, thơ viết về sự xảy ra của thơ và lý do của thơ. Đó là chủ đề chính và ẩn. Một chủ đề khác, rộng và nổi, là miêu tả những bài thơ. Những bài thơ đã xảy ra với anh như một điều tình cờ, ngoài ý muốn, trước giấc ngủ. Cũng có nghĩa là trước sự lãng quên.

Mệnh đề đã đặt ra từ đầu: “Những bài thơ đến trước giấc ngủ”. Rồi câu hỏi đến sau: “Chữ nghĩa tới từ đâu?” Người đọc sẽ tự hỏi, sẽ băn khoăn, đi tìm kiếm những ám hiệu trong suốt 9 đoạn thơ. Có vẻ như thơ là một hành trình đi ngược, gần như một phủ định điều đã khẳng định từ đầu. Hay ít ra thơ Vi Lãng là một hành trình đi ngược, khởi đi từ điều có sẵn và kết thúc trong trạng thái hoang mang. Bài thơ kết thúc bằng câu hỏi, về chữ nghĩa, về nguồn gốc và căn do của nó.
Chủ đề được xử lý bằng những hiệu ứng âm thanh và hình ảnh gây tác động mê dại lên não trạng người đọc. Tạo nên thế giới ngây ngây của một cõi không thể tỉnh táo và cực cảm.
Âm điệu của từng đoạn vang lên như các bè tẩu khúc đối đáp. Phần nhiều các câu ngưng ở thanh trắc, nhiều dấu sắc, nhiều dấu hỏi ở cuối đoạn / cuối câu khiến mọi ý nghĩ trở nên lơ lửng và nghi hoặc.
Những chữ in nghiêng là trích dẫn từ những bài thơ vi lãng đã đọc, bầy rải rác trong ký ức, và xuất hiện không theo một trình tự nào, hay là theo trình tự vô cùng ngẫu nhiên của ký ức không chọn lọc và của cơn buồn ngủ.
“Trong nỗi tuyệt vọng đầm đìa em hỏi chữ nghĩa từ đâu tới, tôi không biết, rớt rơi theo dăm ba chiếc lá. Mùa thu trở lại sớm hơn năm ngoái sau ba mùa tăm tối, con chim bay qua núi hờ hững đánh rớt tiếng kêu, như một bài ca không nghe thấy.”
Mở đầu bằng đối thoại với người yêu / nàng thơ / bản ngã thứ hai. Đối mặt với câu hỏi: chữ nghĩa từ đâu tới? Trả lời gián tiếp bằng cách miêu tả một mùa thu bất thường, những âm thanh cũng bất thường: một tiếng ca không ai nghe thấy dù vẫn biết có một bài ca đã cất lên. Bài thơ cứ tuột đi, tuột khỏi trí nhớ, tuột khỏi bàn tay. Những dấu chỉ về mất mát là những dấu chỉ mơ hồ nhưng thường trực, mọi thứ thất thoát, không ngờ, bất định (sớm hơn năm ngoái). Tất cả như một sự tồn tại ngoài ý thức.
“Những bài thơ đến trước giấc ngủ, tiếng sóng vọng lại tối âm u ngày leo qua mỏm đá, một tiếng khóc chiều qua phá, rào rào ngây chân tay trong hơi thở cuối cùng, trước khi tâm tưởng nhìn lại, thấy màu sắc đậm hơn lần gặp trên bờ sông.”
“Gió đưa đầu lúa non vừa trẩy, em bảo sau này có trôi nơi đâu nữa mình cũng nhớ màu lúa, tôi gã trung niên lắc đầu, đâu còn những chuồn chuồn châu chấu, trở lại chốn vân mồng nhìn ham muốn từ cõi trống không”
Những bài thơ được đọc lên bằng tiếng sóng và im lặng sau tiếng sóng. Bài thơ hiện lên như cái nhìn của tâm tưởng, không phải cái nhìn của hữu thể mắt, vì tất cả màu sắc đều đậm hơn lần gặp bên bờ sông (là lần gặp có thật). Cũng có thể vì bóng tối của hơi thở cuối cùng. Thơ đến trong tiếng khóc như Từ Huy viết trong tiểu luận thơ mới đây: "Thơ dùng hành động khóc như một tiếng gọi, mở ra tương liên bay giữa chân trời và con người."
Một sát-na giữa trước và sau một cái khép mắt là thơ. Đặt thơ đứng giữa sống và chết, giữa sinh sôi và hủy diệt (lúa non và châu chấu), giữa khao khát lưu giữ (nhớ màu lúa dù có trôi nơi đâu) và chấp nhận tính vô thường (nhìn ham muốn từ cõi trống không).

“Hình như mọi ý nghĩ toàn tụ lại thành một khối, không có tên gọi nhưng tôi tuần tự đặt tên, nhìn chằm chặp vào khoảng trống, nơi những kẻ sung sướng mãi làm thơ không mệt, quên hết tiếng buồn lịch sử. Bên góc trái khung cửa nhớ câu văn, ai qua đó rồi sẽ yêu thương, và yêu thương mãi mãi, nhưng bỗng chợt tôi nghi ngại chữ nghĩa bỏ về, mùa xuân run trên vai, như những lần đi
qua một câu hỏi, đưa đẩy nhiều lần đã quá quen thuộc. Mưa tháng sáu nơi phố không gì lạ, màu xám mặt dưới chiếc lá lật ngửa lên, hướng về nắng mặt trời và da người trở nên trong suốt như thể mảnh giẻ mòn của những gì còn lại, Pleiku nhìn thông già suy nghĩ về câu hỏi chữ nghĩa tới từ đâu.”
vi lãng gọi sự tuần tự đặt tên cho những thứ không có tên gọi là thơ. Thơ là quá trình đi từ “khoảng trống” đến sự “tuần tụ thành một khối”. Thơ ở đoạn trên còn là ánh sáng, trần trụi hóa và trong suốt hóa mọi vật thể mà nó đi qua. Gương mặt thủy tinh tạo hiệu ứng ánh sáng cho bài thơ, một ánh sáng tinh túy như pha lê không màu, mà cũng lung linh vi diệu nhiều màu khuếch tán. Da người, nơi ngăn cách giữa chúng ta và thế giới, cũng trở nên trong suốt như mảnh giẻ mòn của những gì còn lại.
Một hình ảnh đẹp nhất và rùng mình nhất. Đây là một ám chỉ về tính bất tử của thơ. Như Szymborska đã nói về khả năng lưu trữ của thơ, một trong những trách nhiệm và quyền năng của thi ca là gìn giữ ký ức. Với Szymborska, niềm vui của hành động viết được ví như hành động báo thù của một bàn tay sẽ bị hoại diệt, nhưng những gì bàn tay ấy viết ra sẽ là bất diệt.
vi lãng xác định lại điều ấy bằng cách nói của riêng mình: con người cuối cùng trở thành thơ, khi nó hóa thân thành mảnh giẻ mòn của những gì còn lại, là một lưu chứng, một tàn tích chống lại sự tàn hủy của thời gian và của lãng quên.

“Cột đèn đường đã đổ xuống
, những câu thơ trở lại trong giấc ngủ, một bàn tay chen qua cánh cửa như giải lụa trườn làn da vòng eo, từ cái đầu óc rỗng tuếch quay ngược nơi ý nghĩa lên. Từ trái tim, nỗi vu vơ ôm đầy mình một đứa bé
hay đôi mắt người nằm xuống co rút bàn tay, chờ đợi nhìn lần cuối gương mặt tuổi mười ba, tóc ngắn mùa thu mát màu áo lụa. Đưa bàn tay lên nhìn qua kẽ hở giữa năm ngón, người con gái bảo tình này chảy luồn nhanh quá, lòng bàn tay gập lại ôm chữ nghĩa trở về, hay là mình xoa dịu gương mặt thủy tinh?

Những giờ cùng tận đi về gặp người vắng mặt.
Có thể như gió chiều về vội, hay tiếng còi dỗ giấc ngủ sớm tinh mơ, trước đêm cuối năm không còn lịch sử, tôi cũng không biết từ đâu chữ nghĩa tới.”
Tại sao bàn tay xuất hiện nhiều như thế, nó đóng vai trò gì giữa bài thơ và giấc ngủ? Vì bàn tay là điểm cuối có thể chạm vào chữ nghĩa, có thể chuyển tải ý nghĩa thành ký hiệu? Tại sao bàn tay lại xoa dịu gương mặt thủy tinh? Hình ảnh mang tính biểu tượng này giữ vai trò gì trong chuyện làm thơ? Có phải bàn tay là cái để viết, chạm vào khuôn mặt thủy tinh là cái được viết ra? Và thơ là điều xảy ra giữa những đụng chạm ấy, không thuộc hẳn về một nơi nào?
Ám ảnh mất mát và trơ trọi dồn dập trong ba đoạn thơ cuối: khung cửa, cánh cửa xuất hiện rải rác trong bài, như dấu hiệu của đóng và mở ký ức/ nhận thức. Từ khái niệm đóng mở dẫn đến những khoảng trống; những kẽ hở ngón tay, khoảng rỗng giữa lòng tay gập lại, cái đầu rỗng tuếch dẫn ý nghĩ đi ngược… Tác giả chứng kiến rất nhiều lần “cuối”, hơi thở cuối, đêm cuối năm, chờ đợi nhìn lần cuối, những giờ cùng tận đi về.
Có một ám hiệu và một khúc ngoặt đã xảy ra. Những câu thơ đã chui vào trong giấc ngủ, đã hóa ra những giấc mơ, hay phá hủy giấc mơ. Bàn tay bây giờ đã chen qua được cánh cửa. Bàn tay đã vượt qua một biên giới. Bàn tay là dấu chỉ về khả năng nhà thơ vượt lên trên "lịch sử" của mình.

*

Có thể đọc bài thơ này như sự tạo hiện và quá trình hình thành/tan biến của thơ vào giấc ngủ (hay cái chết, hay sự quên lãng?) vi lãng viết một bài thơ như một giải trình về thơ. Một sự truy đuổi, mất mát và đi vắng, một thoắt ẩn thoắt hiện, như tương quan giữa thơ và đời sống thực. Toàn bài thơ là một tiếng than dài của kẻ nhìn ra mất mát, ngay cả chạm được và cầm nắm được mất mát. Rồi để mất mát “chảy luồn” qua những kẽ tay. Trong không gian này, vi lãng vừa là nhà thơ vừa là người quan sát nhà thơ, vừa là kẻ ngủ vừa là hồn vía thoát ra khỏi thân xác nhìn thấy mình đang ngủ, vừa là người biết hết vừa là người không nắm chắc điều gì. Còn cách nào miêu tả thơ đúng hơn nữa, khi đặt thơ đứng ở giữa mọi nẻo đường, cho thơ những giá trị biến thiên liên tục trên biểu đồ từ vô cực về lại số không.
Giữa vô số những khả thể về thơ như vậy, có ít nhất là hai khả năng sẽ xảy ra.
Một là nhà thơ không điều khiển được thơ của mình. Bài thơ đến trước giấc ngủ là bài thơ nằm bên ngoài số phận của thi ca, bài thơ tưởng là sẽ nhớ mãi, nhưng rồi sẽ quên ngay không còn dấu vết khi thức dậy. Hay chúng ta chỉ còn nhớ một điều: mình đã cố nhớ và mình đã quên.
Hai là nhà thơ không điều khiển được giấc ngủ của mình. Thơ len lỏi vào giấc ngủ. Bài thơ là khúc dạo đầu của giấc ngủ, và giấc ngủ là biến tấu của bài thơ. Cái này là tiếp nối và lối thoát của cái kia. Điều này là hủy diệt và manh mối của điều khác.
Với vi lãng, tôi nghĩ khả năng xảy ra luôn nhiều hơn một trường hợp thứ hai. Thơ của anh luôn luôn tồn tại đâu đó, dọc theo ký ức và những giấc mơ, dọc theo những lối thoát và những khám phá, dọc theo những khai quật và những chìm ẩn. Dọc theo lối đi của những kẻ mộng du thơ.
Và vi lãng biết – anh biết chữ nghĩa tới từ đâu.

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch