Trang chính » Sáng Tác, Truyện vừa Email bài này

Những bài tập viết của tôi – phần I

 

 

 

Sinh thời cha mẹ tôi rất mê tuồng. Đêm xuống là ông mắc võng ở hiên hè, bà nhắc chõng ra sân, cứ nằm mà hát. Ngoài tuồng ra, mẹ tôi còn thuộc nhiều truyện thơ nôm thế kỷ 19. Trước khi cắp sách đến trường, tôi được mẹ dạy xong phần đánh vần và chính tả. Đánh vần bằng thơ Lục Vân Tiên, thơ Kiển Tiên Chàng Nhái. Còn chuyện chính tả là đầu dây mối nhợ của truyện nhỏ này .

Cách đây không lâu, khi sắp xếp lại tủ sách cũ, tôi vô tình tìm thấy những bài tập chính tả của mình ngày ấy được cuốn chung trong số vở tuồng do cha tôi chép. Đọc lại những bài tập viết ấy mới hay đây là câu chuyện tình khá lý thú, có liên quan đến đất đai sông núi quê tôi. Mẹ tôi đã ngắt truyện ra từng đoạn để đọc cho tôi chép. Nhiều đoạn có cả lời răn bảo tôi, hoặc lời bình truyện của mẹ tôi, mà hồi ấy tôi cứ chép hết vào, vì đâu biết đâu là chính truyện, đâu là lời của mẹ. Cốt yếu, mẹ tôi đọc cho tôi tập chép, nên chẳng có việc xem xét lại. Lúc bấy giờ tôi chép sai sót quá nhiều. Vừa qua phải tốn nhiều thời gian suy đoán để bổ sung vào những chỗ thiếu ấy. Chuyện không có đầu đề. Xin tạm đặt là “ NHỮNG BÀI TẬP VIẾT CỦA TÔI “. Và lời mẹ tôi thì đưa vào ngoặc, để chuyện đọc được liên tục.

 

 

PHẦN I

 

1.

Phía tây núi Nung là phía mặt trời lặn. Là rừng Mua Thượng. Đất đen lại cằn. Vợ chồng ông Rua phải dùng cây chọc lỗ để trỉa lúa .

Cơm ăn không đủ, con Ngần khóc suốt .Thằng Nĩnh anh nó dỗ không nín. Dì Xìng, dì nó, dỗ không nín. Bà Rua dỗ cũng không nín.

Lũ chim Via, chim Liu trên núi Nung nghe tiếng khóc, bay xuống thử. Mới hay đất rừng Mua Thượng không cho con người đủ cơm ăn. Liền bay đến suối Thậm Thờ hút nước về nhả ướt rẫy ông Rua. Rồi đi nhặt thóc đổ ở những đồng khác đem về trỉa ở đất Rừng Mua thượng. Lúa Rừng Mua Thượng là lúa đen. Cả vỏ lẫn hạt đều đen.

Đủ cơm ăn, lại được lũ chim ru hát, con Ngần lớn như thổi.

Thằng Nĩnh cứ khen nó có đôi mắt sáng như chim Via, với giọng nói hay như chim Liu. Còn dì Xìng thì bảo lớn lên nó có chồng sang. Con Ngần chẳng hiểu chồng sang là sao, đi hỏi cha .

Ông Rua rất vui , vì đã đủ cơm ăn lại có lũ con xinh đẹp .

Thấy làm lúa đen được, dân quanh vùng lần lượt kéo tới Rừng Mua Thượng. Rồi tôn ông Rua làm chủ làng Dầm .

( Con đừng hỏi . Vì mẹ chỉ nghe bà ngoại con kể phía Tây núi Nung ngày xưa có làng Dầm ) .

Tới mùa gặt, dân làng Dầm lại trích nửa lúa để đãi chim.

Nhưng chim đâu ăn thóc.

Lúa đãi chim cứ để trên đồng, lớp này chồng lên lớp kia.

Cám động lòng người, lũ chim kéo hết xuống đồng, hái lúa giúp .

Từ đó dân làng Dầm không còn lo việc trồng trỉa với thu gặt. Một năm làm mười năm ăn không hết.

 

2.

Ông Rua nói :

Đất ở phải có thần. Làm người phải có đạo.

Lập tức, dân làng Dầm kéo hết lên núi Nung, chặt cây về cất đình .

Ông Rua bảo phải chọn cây lớn nhất mà chặt. Cây lớn nhất trên núi Nung là cây Bưa, có ngàn năm tuổi. Tàng lá Bưa rợp hết núi Nung. Thân của Bưa trăm người ôm không xuể. Còn rễ Bưa ăn sâu tới hơn ngàn trượng. Phải mất mười tám năm mới chặt xong cây Bưa.

Ông Rua nói

– Làng Dầm ta thờ thần Núi Đen. Từ đây đến đó xa mấy đời người. Nhưng ai không tội lỗi sẽ được về nơi đó .

Lập tức, dân làng Dầm xây đình Dầm theo đúng ý của ông .

Có cả thảy một trăm cây cột. Một trăm cửa ra vào.

Ông Rua hỏi :

– Có phải cột là chân tay của thần ? Cửa ra vào là mắt thần ?

Cả làng đáp :

– Phải .

Có cả thảy một ngàn chiếc trống. Mươi ngàn cái chày. Trống là gốc Bưa đẽo ra. Chày là cành Bưa cắt ra.

Ông Rua hỏi :

– Có phải tiếng trống là tiếng của thần ? Mười ngàn chày là để mười ngàn

dân làng Dầm kêu cứu thần ?

Cả làng đều đáp :

– Phải .

Mười ngàn dân là tính lúc kéo đi chặt Bưa. Còn lúc đó thì nhiều nhà đã thêm con đỏ.

 

3.

Phía đông núi Nung là phía mặt trời mọc. Là Rừng Mua Hạ. Đất trắng, lại cằn. Chỉ trồng  được sắn.

Nghe tiếng kêu vang núi vang  rừng, ông Hốt dừng cày, hỏi :

– Nó là con gì ?

Bà Hốt ngơ ngác. Đuồng cũng ngơ ngác. Chỉ có Noan là hơi hiểu. Anh cất sáo lá, đi mất nửa ngày, về, nói :

– Trống đình Dầm . Với lại làm bằng gỗ Bưa .

Ông Hốt đâu biết gỗ Bưa. Cũng chẳng để tâm chi tiếng trống. Cả ba lại tiếp tục cày .

Chỉ có Noan là hơi khác. Anh thơ thẩn trong Rừng Mua Hạ suốt mấy ngày.

Ông Hốt hỏi :

– Sao con không thổi sáo ?

Bà Hốt cũng hỏi :

– Không còn là Noan của mẹ sao ?

Noan không đáp. Bỡi trong đầu anh cứ thấy mắt chim Via với tiếng hót chim Liu .

 

4.

Ông Hốt không còn kéo cày nổi. Bà Hốt cũng không còn kéo nổi. Cả Đuồng cũng kéo không nổi. Đuồng không đau trong lòng như ông bà Hốt. Nhưng hai người ấy đã cưu mang Đuồng. Đã cho Đuồng ăn cơm mặc áo để sống được ở Rừng Mua Hạ. Giờ ông bà Hốt buồn đau, không kéo cày nổi, tất, Đuồng cũng buồn đau không thể kéo cày .

– Nó đi đâu ?

Ông Hốt quát hỏi, nước mắt mờ hai con mắt.

Bà Hốt cũng khóc.

Noan đi làng Dầm gặp ai, chỉ mỗi anh biết. Trở về mặt mày không còn ủ rũ như trước .

– Cứ tưởng ta đã chết mất .

Ông Hốt mừng, nói.

– Mẹ vẫn còn nghe tiếng sáo của con sao ?

Bà Hốt cũng mừng nói .

Tức thời, Noan ngậm sáo lá. Thổi suốt ba ngày đêm. Không ăn cơm, uống nước. Noan cứ thấy sợ. Bỡi lúc thổi sáo, tai chẳng nghe tiếng sáo, mà chỉ nghe tiếng hót của chim Via chim Liu .

Ông Hốt bỏ trốn. Bà Hốt cũng bỏ trốn. Cả Đuồng cũng trốn. Nhưng đâu phải. Lũ gấu trắng trên núi Nung kéo xuống là để nghe tiếng sáo .

Noan thổi.

Lũ gấu vây kín chung quanh .

 

5.

Đất Rừng Mua Hạ là đất cằn. Con người kéo cày suốt ngày đêm vẫn chẳng đủ miếng ăn.

Ông Hốt bảo :

– Giờ ta với Đuồng lên núi.

Đi năm mươi ngày đêm, hai người đẽo được năm mươi chiếc cày .

Bà Hốt bảo lũ gấu :

– Năm mươi con kéo năm mươi chiếc cày. Năm mươi con còn lại lo trồng sắn, đào sắn .

Chẳng bao lâu lũ gấu cày hết đất Rừng Mua Hạ. Sắn lớp lên xanh, lớp có củ.

Ông Hốt bảo :

– Chín phần rưỡi cho gấu. Chỉ để nửa phần cho ta .

Lũ gấu chạy trắng núi trắng rừng vì vui sướng.

Nghe lũ gấu đến kéo cày cho người, dân tứ phía đổ về Rừng Mua Hạ. Nhà ở mỗi ngày một thêm. Người đẻ mỗi ngày mỗi đông.

Noan vẫn ngậm sáo lá .

Lũ gấu vẫn tiếp tục cày đất sắn cho người.

Một ngày kia ông Hốt nói :

– Đây là làng Dúc, các người nghe chưa ?

Mọi người đều lập lại.

– Đây là làng Dúc .

Rồi tôn ông lên làm chủ.

( Con đừng hỏi. Vì mẹ chỉ nghe bà ngoại con kể, phía đông núi Nung ngày xưa có làng Dúc )

 

6.

Bà Hốt là người to khoẻ, rất thoả lòng với vẻ đẹp khác thường của chồng.

Đầu ông Hốt là đầu dẹp. Mắt ông Hốt là mắt dọc. Đầu dẹp thì đốt đuốc tìm khắp làng chẳng thấy. Nói chi mắt dọc .

Ông Hốt ngó tới không qúa mươi thước. Ngó ngang không được. Chỉ cúi xuống để thấy đất. Và ngước lên để trông trời. Về chuyện này bà Hốt đã nói với chồng :

– Phía Tây là núi che khuất. Ba bề còn lại là đất nước của người khác. Mắt có nhìn xa được cũng chẳng ích chi .

Nhưng ông Hốt chẳng yên lòng về làng Dúc của mình. Đất Rừng Mua Hạ là đất sắn. Nhà nào cũng ao ước có chén cơm.

– Không được .

Đang trò chuyện với vợ, ông Hốt quát. Bà Hốt rất lo.

Ông Hốt nói :

– Sẽ chạy qua bên làng Dầm hết.

Bà Hốt hỏi :

– Ai qua làng Dầm ?

– Ăn sắn miết cũng thèm cơm, chứ ai .

– Biết rồi. Để nghĩ thử. Bà Hốt ngó thẳng vô mắt chồng rồi tiếp :

– Chỉ còn chui xuống đất. Với bay lên trời .

– Phải. Ta cũng đã nghĩ được.

Nghe tiếng cười của ông Hốt, lũ gấu tháo cày chạy hoảng loạn.

 

7.

Ông Hốt nói :

– Rào phải cao ngàn trượng. Hào phải sâu trăm trượng .

Cả làng lẳng lặng kéo lên núi Nung. Cả gỗ lim gỗ trắc. Cả cây lớn cây bé. Phải chặt hết cây của núi Nung mới đủ rào làng Dúc.

Lũ gấu lại phải kéo sang nửa núi bên kia.

Chẳng còn nghe tiếng sáo lá của Noan. Cả làng lại đi kéo cày, trồng sắn. Noan cũng đi kéo cày.

– Nó lớn rồi. Không thể ăn chơi mãi.

Ông Hốt nói .

– Phải. Không thể ngồi không, để kẻ khác làm cho ăn .

Bà Hốt cũng nói .

Ngày đi kéo cày. Đêm đi đào đất. Phải mất mười năm mới đào xong hào làng Dúc .

Ông Hốt nói :

– Nước phải đầy hào.

Bà Hốt nói thêm :

– Với ngàn con rắn thả vào nước nữa .

Cả làng lại lẳng lặng kéo đi tìm trái Sua để làm gáo múc .

Nhưng nước đâu để đổ cho đầy hào ?

Lại phải đào nữa. Cho tới lúc thấy được mạch nước, thì dân làng Dúc chỉ

còn phân nửa .

Đem được ngàn con rắn trên núi Nung về, lại mất thêm nửa số còn lại .

Có rào cao rồi. Có hào sâu rồi. Hào sâu lại có nước, có rắn .

Ông Hốt nói :

– Ai ra khỏi làng, Đuồng phải biết .

Đuồng là người giữ cửa .

Làng Dúc chỉ có mỗi cửa ra vào. Chỉ có Noan ra vào Đuồng mới không dám ngăn .

 

8.

Núi Đen.

Núi Đen.

Xa hơn mấy đời người .

Đây là câu đầu tiên .

Ông Rua đọc đầu tiên. Kế đến là bà Rua . Tiếp theo là em vợ ông Rua, tức Xìng.

Ba người đứng trên ba cái ghế cao. Nĩnh và Ngần cùng quì dưới đất với dân làng.

Không lấy cắp của người.

Không gian dối với ngưòi.

Không độc ác cùng người .

Ông Rua cũng đọc trước. Kế đến là bà Rua với Xìng. Tiếp theo là dân làng .

Hết một đoạn lại dộng trống. Nghe ngàn tiếng trống như nghe đất đổ, núi đổ.

Ông Rua dạy phải nhắm mắt lúc cầu kinh . Nên mọi người đều phải vừa đọc vừa nhắm mắt .

Có một lần đương cầu kinh, Ngần khóc. Chỉ mỗi Nĩnh thấy nên rất lo. Anh đâu biết nó đang nghĩ đến chuyện làm sao cùng người ấy về được núi Đen.

 

9.

Có một lần đương cầu kinh, Ngần bỏ chạy khỏi đình Dầm. Chỉ mỗi Nĩnh trông thấy. Vì mọi người đang nhắm mắt cầu kinh .

Nĩnh cũng bỏ chạy khỏi đình Dầm. Có tiếng sáo trên núi Nung. Ngần đang chạy về phía có tiếng sáo .

Nĩnh cũng chạy về phía  có tiếng sáo. Cứ thấy cây cối ngã rạp ở hai bên . Lòng Nĩnh như lửa đốt. Con Ngần nó điên rồi sao ? Nĩnh nghĩ. Nhưng nào phải .

Có hai con chim Liu đang dứng âu yếm với nhau ở giữa núi. Con mái là em gái Nĩnh. Còn con cồ là ai, anh chưa biết . Nĩnh thấy giận. Rồi lại thưong em gái. Nó lớn rồi, làm thế cũng được.

Từ bữa ấy, Nĩnh cứ nghe xốn xang trong lòng. Cũng chẳng phải xốn xang. Mà giống như lúc anh nghe lũ chim Via chim Liu hót. Tự dưng anh cứ thấy muốn hát. Có điều giọng anh không hay như giọng của Ngần .

Cuối cùng Nĩnh đi nói với Ngần:

– Nghĩ được bài hát rồi. Hay lắm .

Nghe Ngần hát, dân làng Dầm hỏi nhau:

– Có phải thằng Nĩnh làm ra đấy không ?

Cuối cùng họ hiểu hết .

Còn ông Rua thì bảo bà Rua :

– Lũ con ta sẽ về núi Đen thôi

10.

Đất Rừng Mua Hạ là đất cằn. Con người kéo cày suốt vẫn chẳng đủ miếng ăn .

Ông Hốt bảo con trai :

– Đừng thổi sáo nữa. Phải lo đi kéo cày thôi .

Noan nghe phải. Nhưng cứ thấy nhớ núi Nung.

Bà Hốt nói :

– Mày thương lũ gấu hơn cha mẹ sao ?

Noan biết mẹ nói không đúng. Nhưng không thể không đi núi Nung.

Một ngày Noan đi núi Nung một lần .

Nghe tiếng sáo của Noan, lũ gấu khóc. Anh biết lũ nó còn nhớ làng Dúc, nhưng biết làm sao. Ngày nào Noan cũng gặp lũ gấu. Nhưng không phải ngày nào  cũng gặp được người anh muốn gặp .

Có một hôm Noan chờ đến tối mới gặp được người anh muốn gặp. Khi quay về làng Dúc đã quá nửa đêm .

Ông Hốt quát :

– Trống làng Dầm làm thủng ruột gan mày phải không ?

Noan im, không đáp . Cha anh nói đúng, mà không đúng.

– Để tôi đi thử .

Bà Hốt nói .

Đi suốt mấy ngày, về, bỏ ăn bỏ ngủ.

 

11.

Ông Hốt hỏi :

– Nó có thần Núi Đen, còn ta có thần gì ?

Bà Hốt đáp :

-Thần Núi Trắng.

Nghe tiếng cười của ông Hốt, lũ rắn dưới hào đều ngơ ngác.

Đuồng thôi giữ cửa, cùng dân làng lên núi Nung đào đá để xây đình Dúc.

Noan cũng đi đào đá .

Thấy người già với trẻ nhỏ khiêng đá chết, lũ sói với lũ gấu trên núi Nung khóc.

Đào hết phía núi bên này vẫn chưa đủ xây đình Dúc. Lại phải sang phía núi bên kia. Tức sang bên đất của làng Dầm.

Noan rất lo.

Nhưng ông Hốt bảo :

– Làng Dúc ta đông. Có đánh nhau cũng được.

Lũ gấu lũ sói trên núi Nung lại phải kéo đi nơi khác .

Xây xong đình Dúc thì người già với trẻ nhỏ trong làng chẳng còn ai.

– Ta là con thần Núi Trắng. Ta phải ở nơi này.

Sau khi nói với dân làng, ông Hốt dẫn vợ con vào ở trong đình Dúc.

 

12.

Có người đang đêm trốn khỏi làng. Đuống bắt ném xuống hào cho rắn nuốt .

Ông Hốt bảo Noan :

– Thôi đi cày. Ở nhà lo cầu thần Núi Trắng .

Bà Hốt cũng bảo :

– Đình Dúc là của thần. Giữ đình là việc của nhà ta .

Noan nghe phải. Nhưng cứ thấy nhớ dân làng.

Đình Dúc cao mươi ngàn trượng. Ngửa mặt lên khối đá vuông trắng ngần ấy, Noan lại muốn ra đất sắn.

Đang đêm lại có người trốn khỏi làng.

Ông Hốt quát :

– Như thế là sao ?

Bà Hốt nói :

– Chắc thèm chén cơm lúa đen.

Ông Hốt cãi :

– Không phải.Trống đình Dầm đâm thủng ruột gan chúng.

Lập tức ông lệnh cho dân làng lên núi :

– Cả trống cả chày đều phải làm bằng đá trắng .

Lũ sói lũ gấu gặp Noan, khóc. Anh cũng khóc. Vì lên núi Nung đào đá,

Noan chẳng còn gặp người anh muốn gặp.

– Trống làng ta phải kêu xa trăm núi ngàn sông. Phải đặt trên nóc đình Dúc.

Ông Hốt lại lệnh cho dân làng .

Nhưng chày đá dộng trống đá chỉ kêu chình chịch như tiếng chày giã sắn.

Đang đêm lại có người trốn khỏi làng. Đuồng lại bắt ném cho rắn .

 

13.

– Nó phá núi của ta, tất, sẽ giết con ta .

Ông Rua bảo bà Rua.

Rồi giữ riết Nĩnh với Ngần ở trong nhà .

Xìng đi mất nửa ngày, về, nói:

– Tưởng đào núi để chi. Đâu ngờ để làm nhà đá với cối đá, chày đá .

Ông Rua không còn sợ. Bà Rua cũng hết sợ.

Chỉ Nĩnh là rất lo. Anh nói với cha :

-Liệu thần núi Đen làng Dầm ta có hơn nổi thần Núi Trắng bên làng Dúc?

Ông Rua nhổ nước miếng :

– Đồ bắt chước, chớ để tâm .

Rồi đi nói với Xìng :

– Ta muốn có con với em .

Xìng ăn nằm miết với ông Rua vẫn không đẻ. Bèn đi hỏi người già nhất làng , thì người ấy đáp :

– Không chồng, không đẻ con là phải .

Xìng giận dữ bảo :

– Ai nói ta không chồng, sẽ chết. Nói ta có chồng, cũng chết .

Bà Rua không nói với ông Rua, mà đi nói với người đàn ông khoẻ nhất trong làng :

– Em muốn có con với anh .

Người dàn ông sợ ông Rua bắt tội, xin tha việc ăn ngủ cùng bà Rua.

Nhưng bà Rua bảo :

– Ai cãi lại ta thì phải chết .

Rồi cùng ăn nằm với người ấy suốt bảy ngày đêm .

 

14.

Ba người đứng trên ba cái ghế cao.

Nĩnh với Ngần cùng quỳ dưới đất với dân làng .

Chớ tham muốn .

Chớ dâm ô .

Ai không tội lỗi sẽ được về Núi Đen.

Ông Rua đọc trước. Kế đến là bà Rua với Xìng. Tiếp theo là dân làng.

Mọi người đều nhắm mắt để cầu kinh.

Chỉ Nĩnh với Ngần là không nhắm mắt. Vì muốn ngó thử có gì xảy ra không .

 

15.

Bà Rua ăn nằm với hết thảy đám đàn ông con trai trong làng, nhưng vẫn không có con. Bèn đi hỏi bà đỡ :

– Sao ta không đẻ được nữa ?

Bà đỡ xem thân thể bà Rua xong, đáp :

– Nũng hết dạ con. Nặng lắm .

Bà Rua giận. Nhưng liền đổi giận làm vui. Không đẻ con càng khoẻ chớ sao .

Xìng vẫn tiếp tục ăn nằm với ông Rua. Nhưng vẫn không có con. Lại đi hỏi người già nhất của làng :

– Sao ta vẫn không đẻ được ?

Nhìn từ tóc đến chân Xìng, người già nhất làng im, không dám nói .

– Ai giấu ta điều chi, sẽ chết .

Nghe Xìng bảo, người già sợ chết, phải nói ra :

– Bụng chứa đầy mưu mô, còn đâu chỗ để chứa con .

Xìng muốn đem người ấy giết đi. Nhưng nghĩ kỹ lại thôi. Tưởng chi, chứ nhiều mưu mô là người tài giỏi .

Nghe Ngần hát bài hát của anh trai, dân làng Dầm lo sợ hỏi nhau :

– Thằng Nĩnh làm bài hát đó sao ?

Còn lũ chim Via chim Liu chẳng hay biết gì, vẫn tiếp tục đi trỉa lúa, hái lúa .

 

16.

Dân làng Dầm vừa đãi lúa cho chim vừa hát :

Ông mưa phải lòng bà sấm

Ngủ với nhau trong mây

Không nước uống

Trái sua khô rụng

Người lấy chi làm gáo

Người lấy chi múc nước

Oán hận thấu tai thần Núi Đen

Lũ chim nghe xong, ngơ ngác bay đi hết.

Bài hát đến tai Xìng. Lập tức Xìng đi tra hỏi đám dân làng :

– Ai bày cho hát ?

Mọi người đều đáp :

– Bắt chước lũ chim Via chim Liu.

Xìng nuốt giận, quay về, chợt nghĩ được :

– Chỉ thằng Nĩnh mới làm nên câu hát đó.

Từ bữa ấy, Xìng quyết làm cho cả làng Dầm biết mình là người tài giỏi .

( Con cọp cái còn biết nuôi con. Còn nó thì chỉ biết có thịt người ).

 

17.

Trên núi Nung có giống rít trắng, sống nhờ dây Phau. Dây Phau chỉ mọc chỗ Suối Sâu. Bò từ bờ này sang bờ kia, làm thành cầu. Rít trắng ở cầu Phau, ăn hoa Phau lá Phau mà sống .

Ông hốt nằm mơ thấy gặp  thần Núi Trắng. Bảo phải đội mũ trắng, mang giày trắng với ăn vật trắng mới giữ được ngôi đạo trưởng của làng .

Bà Hốt mừng .

Còn Noan thì lo. Anh sợ dân làng Dúc lại khổ .

Bà Hốt nhớ trên núi Nung có giống dây rừng trắng phau. Nhưng chẳng biết tên chi. Bèn lệnh cho khắp làng hay :

– Ai tìm được giống dây trắng trên rừng để kết mũ làm giày cho con thần Núi Trắng, sẽ được về Núi Trắng . Ai tìm không được, sẽ làm mồi cho rắn.

Trăm người lên núi chặt dây Phau, trăm người không về, vì nọc độc của rít .

Nhưng chẳng có ai dám cãi lời bà Hốt .

Noan trốn cha mẹ ra đi .

Bà Hốt lo.

Nhưng ông Hốt bảo :

– Con người là giống ưa làm phản. Nó muốn phản ta, để cho nó chết .

Nhưng Noan đâu chết. Anh đã đến Suối Sâu, ngậm sáo lá, thổi suốt ba ngày đêm. Con chim Liu ở làng Dầm liền bay tới gặp :

– Không phải sao Hôm sao Mai. Sao đôi ta cứ giống như sao Hôm với sao Mai ?

Noan đáp :

– Chỉ vì Suối Sâu thiếu cầu Phau cho chim Via sang chỗ chim Liu.

Nghe Noan nói, lũ rít trắng liền bỏ cầu Phau, kéo hết xuống suối .

Ông Hốt đi giầy trắng, bện bằng dây Phau. Đội mũ trắng, kết bằng hoa Phau .

Bà Hốt rất vui :

– Chủ làng Dúc quả là con thần Núi Trắng .

Noan cũng rất vui. Anh vui vì cha anh giống thần Núi Trắng. Vì dân làng Dúc đã hết khổ .

 

18.

Trước mặt là Núi Nung. Bốn bên là rào cao, hào sâu. Dân làng Dầm có muốn bỏ đến đất nước người cũng chẳng được .

Noan đi đào sắn với dân làng. Đất cằn, sắn chẳng bao nhiêu củ .

Thấy ai cũng buồn, Noan nói :

– Rán chịu khổ. Vì trước sau bọn ta cũng sẽ được về Núi Trắng .

Dân làng Dầm chỉ im. Còn anh lại nghĩ đến Ngần .

Con chim Liu phải về với làng Dúc. Phải bỏ thần Núi Đen, để về với thần Núi Trắng thôi .

Noan ngậm sáo lá. Thổi suốt một đêm. Định sáng ra sẽ thưa với cha mẹ, là anh phải cưới Ngần.

Nhưng sáng ra, Noan chẳng dám nói .

 

 

 

.

bài đã đăng của Nguyễn Thanh Hiện


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch