Trang chính » Học Thuật, Lịch Sử Email bài này

Sơ thảo: Bài Sử Khác cho Việt Nam – Chương XV

 

 

 

CHƯƠNG XV:

TỔ CHỨC XÂY DỰNG XỨ SỞ MỚI

 

Vấn đề tôn xưng quốc chủ và xác định danh vị cho đất nước thống nhất

Sử quan Nguyễn đã ghi một mạch các sự kiện từ khi chiếm lại Phú Xuân ngày 13-6-1801 đến ngày Nguyễn Ánh vào Đông Kinh 20-7-1802: “Giặc Tây Sơn dẹp yên, lấy hết đất An Nam, tất cả… trấn.., phủ…” Sự xuyên suốt của văn từ như thế đã che lấp cả một tình thế phức tạp, từ quá khứ níu kéo người trong cuộc, dù là có một viễn vọng rộng mở trước mắt. Tây Sơn vượt khỏi sự ràng buộc của quê ngoại cũng phải nhờ người bên ngoài lôi ra khỏi vùng đất quen thuộc. Và bây giờ, khi thu phục kinh thành cũ, giết kẻ chống đối, Nguyễn Ánh cũng coi là đã hoàn thành giai đoạn “phục quốc” khi loan báo cho dân Gia Định biết mà nhắn qua Xiêm La, rằng “quân vua kéo tới, đã thu hết bờ cõi Nam Hà”. Có điều khác với Tây Sơn, là bây giờ hang ổ kẻ thù diệt tộc của Nguyễn Ánh lại ở trên đất cũ của Lê, chủ “nước An Nam”. Sự kiện đó như một thôi thúc lấn chiếm dễ dàng trước mắt mà cũng là một cản trở nặng nề trong vấn đề chính danh. Người thời bây giờ, quen với cái từ “thống nhất” trong đầu, thấy việc tiến quân qua sông Gianh là chuyện đương nhiên của lí lẽ nhưng điều đó không phải là đã dễ dàng giải quyết với đương thời. Cho nên, không phải chỉ vì Trần Quang Diệu còn chiếm thành Bình Định mà Nguyễn Ánh ngần ngại không nghe lời thuộc hạ thúc đẩy, chịu để Quang Toản yên vị ở Đông Kinh, đủ thì giờ đổi niên hiệu, tập trung quân lấn chiếm trên vạch ranh giới Trong/Ngoài cũ.

Khi phải tổ chức hành quân Bắc phạt, Nguyễn Ánh còn ngần ngại ra mặt về ý nghĩa tiếp sau của việc trừ khử kẻ thù của dòng họ: “Bắc Hà là nước cũ của nhà Lê.., sau khi bắt được tội nhân thì đối với nhà Lê sẽ thế nào?” Những người ít vướng víu với quá khứ cũng như danh nghĩa xa vời mà lại thấy thành công trước mắt bằng sức mạnh của phe mình, thì thấy vấn đề thật là dễ dàng: “Lấy Bắc Hà là lấy của Tây Sơn chứ lấy gì của Lê?” Danh nghĩa là từ chính quyền lực tạo dựng ra cho nên, theo họ, muốn không vướng víu gì với quá khứ, muốn không dùng niên hiệu của Lê thì hãy tạo niên hiệu riêng mà dùng, nghĩa là hãy tự xưng đế, đăt dân chúng trước một quốc chủ mới, một thời đại mới, cắt đứt những vọng tưởng hoài niệm quá khứ của những lớp người cũ. Ấy thế mà vướng víu của thành kiến thật khó xoay đổi dù với một người lập nên sự nghiệp bằng chính bản thân mình. Nguyễn Ánh vẫn đòi “để suy nghĩ” vì theo ông, đó là “việc lớn” quá. Cho mãi đến khi kẻ thuộc hạ đùn đẩy, ông cũng chỉ làm việc nửa vời: đặt niên hiệu Gia Long mà không có đế vị. Điểm kết thúc này phải chờ một hành động quen thuộc trong khuôn khổ truyền thống văn hoá chính trị cũ: cầu phong.

Quốc hiệu mới từ tên muốn có: Nam Việt, qua tên thoả thuận cuối cùng: Việt Nam sau nhiều tranh cãi, cũng cho thấy một tương quan thiên triều – phiên thuộc mới có quá khứ lẫn lộn, phải dẫn đến sự điều chỉnh ngoại giao ranh ma. Sứ thần Lê Quang Định đi Thanh đòi đặt tên nước là Nam Việt, lấy cớ rằng đó là tên đã từng “được truyền nối 200 năm”, từ ông cha Gia Long trong công trình chinh phục hai vùng đất người Hán ghi trong sách sử: Việt Thường (Lâm Ấp / Chiêm Thành) và Chân Lạp. Nghĩa là một nước mới, không lệ thuộc gì vào các quá khứ phiên thuộc cũ. Tuy nhiên sao cái tên nước của Triệu Đà lại không chen vào trong ý nghĩ của Gia Long khi ông lần lữa với đế hiệu mà nhắc chuyện xưa như bước phải đi tới: “Nước ta từ thời Triệu Võ đến Đinh Lê Lí Trần đều xưng Đế”? Ý thức được sức mạnh của mình, Gia Long từng tuyên cáo chiến thắng Thi Nại, thu phục Phú Xuân cho các nước phía đông và nam biết. Nay với việc tiến chiếm Bắc Hà, ông còn nhận ra rằng nhà Thanh vốn sợ Tây Sơn từ trận Đống Đa, đã “lấy làm kinh dị” khi nghe quân Nguyễn thắng. Cho nên khi nghe triều đình Thanh không chịu tên nước mới vì trùng với vùng đất của Triệu Đà xưa thì ông lên giọng: “Không chịu thì không xin phong”. Sự thoả thuận đạt được không những chỉ nhờ một cách diễn giải khéo léo của Thanh mà còn bởi thực tế Gia Long phải chịu đựng trên phần đất mở rộng của mình.

Từ quá khứ của ông cha lúc muốn thành lập một nước mới vẫn phải nghĩ đến sự cầu phong (Chu Thuấn Thuỷ với chúa Hiền, Thạch Liêm Hoà thượng với Quốc chúa) Gia Long biết không thể đi ra ngoài khuôn khổ cũ, nhưng với thực lực mới, ông chỉ muốn chuyện thực hiện nghi lễ gói trọn nơi vùng biên giới thôi. Ấy thế mà truyền thống giao tiếp với phương Bắc lại nằm trong tay các nhân sĩ Bắc Hà, thuộc hạ mới của ông. Cần họ, ông đã lưu ý tha các sủng thần của Quang Trung: Phan Huy Ích, Nguyễn Gia Phan, Ngô Thì Nhậm dù có sự moi móc của Đặng Trần Thường, công thần mới. Tuy nhiên người cũ không thể nào đổi mới ngay, nên đám hàng thần không thể tán thành ý kiêu ngạo của Gia Long, mà cũng không dám phản đối chúa, chỉ nói lửng lơ: “Chuyện (chịu nhận sắc phong ở biên giới) ấy chưa từng có”. Sự nhu nhược vài trăm năm đã trở thành truyền thống khiến cho Gia Long phải suy nghĩ để dằn nén trong hành động của mình. Nhưng dù sao thì đây là lần đầu tiên vùng đất phương Nam này giành được một tên nước có phần theo yêu cầu của chính mình chứ không phải là An Nam của chủ nhân thuộc địa ban cấp, hay là Đại Việt vay mượn của nước Nam Hán buông bỏ mà không bao giờ có chính danh trên trường ngoại giao.

Thực ra hình như cái tên Việt Nam cũng lại là một dấu vết ẩn khuất hơn của quá khứ. Nếu cứ tin vào văn bản của Dư địa chí lưu lại thì cái tên Nam Việt vốn của Triệu Đà cũng theo đà bản xứ hoá lâu ngày mà thành tên nước trong khẩu ngữ của thần dân Lê. Thế rồi theo sự lẫn lộn văn pháp Hán/Việt, ngược/xuôi trong đời sống, Nam Việt cũng có thể gọi là Việt Nam như trong bản sách còn lại của ông công thần Nguyễn Trãi. Và tất nhiên cũng được ghi nhận một chừng mực nào đó ở Đàng Trong để Minh Mạng (4âl. 1836) gợi từ kí ức, và Gia Long có thể nói đến việc “khôi phục danh hiệu cũ” khi đã “vỗ yên toàn cõi Việt”. Sự dàn hoà là nằm trong tình thế: ai có cách hiểu của người nấy. “Việt Nam” của Thanh chỉ có nghĩa là “phía nam của vùng ‘Lưỡng Việt ở nội địa’”, không thể gây tranh cãi với lãnh địa của Triệu Đà nhưng với Gia Long thì do lẽ dẫn trên, tên Việt Nam cũng có thể chấp thuận được. Huống hồ Càn Long lại chêm thêm một chút phỉnh nịnh phiên thần mới: Việt Nam là tên gọi bao gồm Việt (Thường) và (An) Nam, không những đúng với quá khứ Gia Long trưng dẫn ông cha đã chiếm hữu mà còn đúng thêm với hiện tại bao gồm đất nhà Lê do chính ông thâu đoạt được. Thế là khi về lại Kinh sư, ngày 17-2âl. (1803) tuyên cáo cho dân nước, cho Xiêm La, Lữ Tống, cho thuộc quốc Chân Lạp, Vạn Tượng biết tên Việt Nam mới, đã có lệnh ngăn cấm “không được quen xưng hiệu cũ là An Nam nữa”.

Danh nghĩa được chuẩn nhận đúng theo truyền thống khu vực như thế mà mãi đến gần ba năm sau, Gia Long mới xưng đế hiệu. Tại sao? Chỉ vì Di chứng sông Gianh không phải dễ dàng xoá bỏ bởi một cuộc tiến quân.

 

Tổ chức quốc gia và phản ứng buổi đầu

Trong chiến tranh, Nguyễn Ánh là vị chỉ huy tối cao, đưa tính chất quân sự nổi bật xuyên suốt đến người thừa hành nên tướng lãnh khi ra quân đều phải vào lạy chào vua và hoàng hậu khiến cho ông nhà giàu đất Gia Định: Võ Văn Lượng, một thứ Triệu Cái nuôi Tống Giang Phò mã Võ Tánh, phải cằn nhằn: “Ai lại làm tướng mà đi lạy đàn bà!” Thế nhưng việc quản trị đất đai, dân chúng cho nhu cầu tranh chiến cũng phải cần một tổ chức càng lúc càng phức tạp hơn khi vùng lấn chiếm càng mở rộng, không những chỉ trên các khu vực của dòng họ từng ngự trị nhưng cũng đã đổi thay bao năm dưới quyền kẻ địch, mà thêm còn là của dòng họ khác, từng giữ vị trí trên-trước trong tiến trình tạo dựng theo một khuôn mẫu chuẩn cho cả vùng Á Đông từ thời rất xa.

Chiếm lại đất cũ, Nguyễn Ánh có thuận lợi là cứ theo nếp cũ của cha ông để mỗi đơn vị chiếm được thì cứ gọi là Dinh với các chức Lưu thủ, Cai bạ, Kí lục coi sóc. Nhưng thực tế quản trị đi theo với đà mở rộng đất đai, dù là còn trên đất Đàng Trong cũ, cũng làm phát xuất những vấn đề mới, huống hồ còn triển vọng nhắm vào đất Bắc chắc chắn không vuột khỏi tay. Với tình hình đang có chiến tranh thì tiếng nói đổi thay không phải của những ông quan từ hàn mà là võ tướng có văn học. Nguyễn Văn Thành nổi trội trong các tướng cầm quân của Nguyễn Ánh, không chỉ dừng lại ở chỗ đổi niên hiệu mà còn lo toan (cuối 1801) đến “việc chính trị kế tiếp lâu dài… xin sắc cho bầy tôi tìm tòi điển cũ, châm chước bàn bạc…” Và thực tế cấp thời là việc sắp xếp, dành một chừng mực quyền hạn cho người cầm đầu các Dinh trên đất Đàng Trong thuộc Tây Sơn cũ để kịp ứng phó với tình thế mới. Chức Lưu thủ (và các phụ tá hành chính) chỉ mang ý nghĩa là viên quan sai phái từ trung ương đến địa phương để quản trị dân như một phái viên hành chính – dấu vết quá khứ đó còn xuất hiện lại năm 1801 trên một số vùng được thu hồi. Tuy nhiên tiếng là “chiếm lại đất cũ” nhưng thật ra bây giờ cũng là đất địch: “Dân Nam Hà vốn thói tằn tiện, từ thời Nguỵ Tây quen chuộng xa xí, tiêu dùng không có tiết độ… lưu tệ từ đấy sinh ra”. Vì thế phải có một hình thức quân quản, bằng binh lực tại chỗ, như ý của Nguyễn Văn Thành đề nghị cho các vùng từ Bình Thuận đến Quảng Bình, đặt tinh binh dưới quyền võ tướng coi sóc để ứng biến kịp thời trong khi chờ lệnh từ trung ương xa. Tính chất quân quản, phân quyền một chừng mực cho địa phương đó sẽ trở thành thực tế cần thiết khi quân Nguyễn “lấy hết đất An Nam” của Lê, nơi dù với bao nhiêu chuẩn bị dư luận, phô trương danh nghĩa cũng vẫn là mang ý nghĩa bị chiếm đóng.

Mười bốn trấn, 47 phủ, 187 huyện, 40 châu là một thực thể mới còn nhiều khác biệt, thế là phải thành một đơn vị riêng, một Bắc Thành với một Tổng trấn, đầu tiên giao cho Nguyễn Văn Thành, như mọt trung ương thu nhỏ với ba cơ quan gọi là Tào: Hộ, Binh, Hình với một chừng mực quyền hạn làm trước tâu sau. Danh vị “trấn” của Tây Sơn lúc đầu vẫn giữ với những người quản trị mới là các tướng, quan văn Nguyễn trong đó không thiếu những người vốn là hàng thần Tây Sơn. Lại cũng Nguyễn Văn Thành, con người xuất sắc đủ mọi mặt, đã nghĩ ra việc “tái huấn luyện” những người đồng liêu võ biền lớn nhỏ để họ đủ sức ứng hợp với tình thế mới, không những là giải thoát bản thân để họ tiến bộ mà còn củng cố cho triều đại chiến thắng tiến bước trơn tru hơn. Chính ông đề nghị (đầu 1807): “Xin đặt kinh diên, mỗi tháng cứ các ngày 2, 12, 22 thì có quan đến giảng sách”. Gọi là “các quan văn võ từ hàng tam phẩm trở lên đều được nghe giảng” nhưng rõ ràng đó là một hình thức bắt buộc nhẹ nhàng. Vua học, quan học.

Thực tế quân quản ở địa phương trở thành chấp nhận được nên đầu năm 1808 các Dinh ở Gia Định được cho đổi thành Trấn, mở đường cho một tập họp “Thành” như phía Bắc, để nửa năm sau là có chức Tổng trấn trao cho Lưu thủ Nguyễn Văn Nhân vốn được trông coi gần như liên tục từ những ngày Nguyễn Ánh kéo quân Bắc phạt. Một số Dinh ở khoảng giữa nước cũng đổi thành Trấn để có một tổ chức diện địa toàn quốc với sự thống thuộc, lạ lùng thay lại gần giống như thực trạng Bắc, Trung, Nam Kì sau này: Bắc Thành 11 trấn nội, ngoại, Gia Định Thành 5 trấn, và ở giữa là các trấn Thanh Hoá (nội, ngoại), Nghệ An, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Bình (Khánh) Hoà, Bình Thuận, với 4 Dinh của Kinh Kì (Trực Lệ Quảng Đức, Quảng Trị, Quảng Bình, Quảng Nam).

Thế là cân xứng với một tổ chức quản lí tập trung ở trung ương với kinh thành Huế bắt đầu xây cất (mùa hạ 1804) cho hợp với đất nước mới. Đã có đủ Lục Bộ Thượng thư cuối 1809, nhưng không có chức Tể tướng / Thừa tướng nên vai trò Chỉ huy của Gia Long vẫn là tuyệt đối theo với quan niệm tập trung quân quyền không chia xẻ. Quy định quan chức cũng được ban hành với thứ bậc vượt cấp là hàng nhân vật của dòng họ vua, có khuynh hướng chung là văn được quý trọng hơn võ nhưng trong thực tế điều hành của buổi đầu ổn định thì rõ là việc tổ chức binh bị, chinh phạt, các võ tướng được nhắc nhở nhiều hơn hết. Hệ thống quan chức đó được nuôi dưỡng bằng cơ sở đất ruộng do nhà nước làm chủ nên có một hình thức quân điền bàn tính việc phân phối quyền lợi đến cả người dân thấp kém nhất, tuy lí tưởng ấy không dễ dàng thức hiện được. Từ tháng 10âl. 1810 bắt đầu làm địa bạ cho các tỉnh từ Quảng Bình trở ra Bắc, công việc rồi sẽ tiếp tục và phần lớn còn giữ được đến ngày nay như một bằng chứng hiểu biết chi li lãnh thổ chưa từng có. Cho nên trước khi nhắm mắt (1820), Gia Long còn thấy được bản trình tấu về tổng kết số đinh điền trong nước. Từ đà phát triển trong chiến tranh, tổ chức làm đường thiên lí, tổ chức vận chuyển đường thuỷ dần dà ứng hợp với vùng quản trị rộng lớn trong thời bình. Dòng lưu chuyển thương mại mở rộng đã khiến cho hệ thống tiền tệ tạo thành không chỉ là loại đồng, kẽm thấp giá trị được đúc dồi dào mà còn thấy các loại quý kim bạc, vàng dưới hình thức cân lạng có tiêu chuẩn ngang giá trong ngoài.

Rõ ràng tình hình đã không chừa cho sự ngưng nghỉ khiến cho Gia Long phải cảm thấy mệt mỏi trước nhiệm vụ mới nên có lời dò hỏi ước mơ mà viên quan khởi cư chú nào đó khi ghi lại, chắc đã không nhìn ra hết ý nghĩa của nó: “Nghiêu Thuấn vô vi nhi trị là nghĩa thế nào?”

Trong việc lo toan xây dựng đất nước mới, Gia Long chưa phải bận tâm về những phản ứng trên vùng căn bản của mình. Ông đã từng khen: “Gia Định đất màu mỡ… binh mạnh của giàu… dùng đấy đánh giăc Tây Sơn”, và lạc quan: “Sau vài trăm năm nữa ngày càng thêm giàu mạnh, không thể lường được”. Cũng thật là phải, sự bất mãn của từng người dân, người lính thì không thấu lên đến triều đình, đi vào sử sách, nhưng thực tế họ thấy còn không gian để trốn chạy, hay ít ra là còn chỗ để di động. Chứng nhân ngoại quốc đã thấy người “cochinchinois” trên đất Xiêm, hay chính ngôi đền Nguyễn Hữu Cảnh trên đất Cao Miên, chứng tỏ là họ từng có mặt đông đúc ở đấy mới xây đền nhờ ông quan Chưởng này bảo trợ họ từ trên cõi thiêng – và càng đông theo với chiến thắng Tây Sơn để Gia Long cũng phải bảo vua Miên đuổi về xứ! Chỉ sau này, khi tình thế khó khăn nổi bật hơn xua bớt sự lạc quan buổi đầu, người ta mới nói đến tình trạng đất Gia Định thừa chỗ trống cho giặc cướp ẩn nấp, gây loạn tương đối lớn với “Chánh trấn Hậu Giang Đại tướng quân” tên Sâm bị bắt, giết (tháng 10âl. 1809). Chiến lợi phẩm thu được đến hồi toàn cục, đủ cho Gia Long thấy rộng tay trả nợ cho các nhà giàu Gia Định trước kia cho vay mà không hi vọng được hoàn trả. Còn dân chúng chịu đựng cực nhọc đã quen thì lại là dịp cho người cầm quyền thực tế như Gia Long coi như dịp may không trở lại, bắt buộc chịu đựng tiếp trong việc xây dựng thành trì, công sự, không màng đến lời can gián của các quan và sự phê phán của người ngoại quốc (Jh. White 1819). Những rắc rối mới đối với dân chúng cũng chỉ là những vấn đề cũ trên mọi chính quyền khác thôi.

Chiến tranh cần đến nguồn lợi núi rừng thì Nguyễn Ánh đã găp phản ứng từ nhóm được sử quan gọi là Ba Phủ (Ch’ru?), từng có lúc cản bước Bắc tiến của quân Gia Định. Chiếm lại đất cũ xong là Gia Long gặp lại nhóm “Mọi Đá Vách” (“Mọi Ba Tơ,” “Mọi Trà Bồng” thuộc tộc Hrê, Sedang) sừng sỏ đến phải sử dụng danh tướng Lê Văn Duyệt mà nếu hơi lơ là thì vẫn có hao quân, tổn tướng. Thế còn nói gì đến cả một vùng đất “An Nam” cũ.

Vận dụng lí luận chính nghĩa từ trên lí thuyết bậc cao cọng với thực tế quân lực chưa là đủ, Gia Long còn sử dụng chiến thuật liên kết hôn nhân xưa cũ với hai dòng họ trước kia. Con gái út của Lê Hiển Tông (Lê Thị Ngọc Bình) chắc cũng không còn trẻ nữa nhưng cũng được gọi vào cung sinh ra Nguyễn Phúc Quân, Nguyễn Phúc Cự. Bà không hưởng chức lâu dài, chết đi (8âl. 1810) được phong là Đức phi, cũng đủ cho dân làng quê ngoại Ngọc Hân ngày nay níu lấy làm bà con, xây đền to lớn cho xứng với vùng đất đã sản sinh đến ba (?) bà Hoàng hậu! Dù sao cũng còn hơn một bà thứ khác, họ Trịnh, tuy cũng có con (Nguyễn Phúc Quang) nhưng chỉ mới ở bực Mĩ nhân! Địa vị chính thống đã khác thì họ Trịnh chỉ có thể lãnh đất thừa tự 500 mẫu, tuy vẫn không là nhỏ. Con cháu nhà Lê, Lê Duy Hoán, ngoài phần phong cấp rộng lớn (ruộng thờ cúng 10 000 mẫu, dân 1016 người) còn thêm một quan tước triều đình như một chứng tích thừa thải, không thể tránh khỏi hoạ diệt vong. Cả đến khi giết Duy Hoán (1816), Gia Long cũng chỉ thay người thừa kế mà không tước bỏ quyền lợi, danh hiệu tế tự.

Gia Long không thể cai trị đất Bắc như trên một xứ thân thuộc. Khác biệt đầu tiên ông thấy là thuộc dấu vết bên ngoài – “dân Bắc ăn mặc không đẹp” nhưng nhận xét đó lại cho thấy sự nghèo nàn của vùng ông vừa chiếm được so với đất cũ của ông, một bằng chứng mà chắc ông không biết rằng đó cũng là một nguyên nhân gây bất ổn thường trực. Căn bản khác biệt đó sẽ làm trầm trọng thêm một tình hình chiếm đóng không tránh khỏi. Các tướng, quan giữ những đơn vị trấn cũ của Tây Sơn có phần là người của Tây Sơn, kể cả những người đầu hàng rất muộn: Trương Phúc Phượng bỏ quân thượng đạo của Trần Quang Diệu, Đại đô đốc Lê Đình Chính hàng sau khi mất Phú Xuân, có thể cả Nguyễn Văn Kiên mà việc đầu hàng đã khiến Bùi Thị Xuân bỏ cuộc… Bởi vì càng về phần cuối chiến cuộc, các hàng tướng này càng là những người quen thuộc của đất Bắc, như Lê Đình Chính khi đầu hàng đã dâng bản đồ Bắc Hà nên khi xuất quân, Gia Long đã sai triệu hỏi về tình hình ở đấy. Ở Thăng Long, cựu Tư mã Nguyễn Văn Dụng trốn chạy với Quang Toản, bị bắt vẫn được gọi đến hỏi về tình hình việc hộ mà ông ta từng tham gia điều hành. Chắc vì vậy mà ta không thấy tên ông trong lần xử hình cuối cùng. Tướng lãnh Tây Sơn đầu hàng tuy bị nghi ngờ vì chạy qua chạy lại, bị tay chân Nguyễn mắng chửi nhưng nói chung không bị tận diệt như người ta có thể tưởng. Với thời gian, có người phục vụ lên đến tột đỉnh quyền hành mà nỗi truân chuyên của họ chỉ vướng luỵ chút danh hàng tướng khi thất thế, như Lê Chất, nhưng nói chung họ vẫn sống như những người khác cùng thời. May mắn nhẫn nhịn phục vụ như Nguyễn Văn Xuân, đến 80 tuổi được ông hoàng đế nổi tiếng khắc nghiệt như Minh Mạng coi là bậc huân thần đáng trọng nể! Hoạn nạn là do rủi ro trong nhiệm vụ, do kèn cựa lẫn nhau đưa nhau đến chỗ chết theo thực tế đương thời, không thể lấy công lao nào mà bù đắp được. Như Đặng Trần Thường, vạch tội nhóm sĩ phu Bắc Hà cũ khiến Gia Long đã tha tội họ mà trong tình thế cần mua chuộc công thần, cựu thần, dân chúng vùng mới chiếm đóng, đã phải đưa ra xử lại khiến Ngô Thì Nhậm bị đánh chết, nhưng cũng chính Đặng lại phải chết vì hàng thần Lê Chất, lúc lên làm Tổng trấn đủ sức nhớ thời bị mỉa mai: “Chất mà ‘bình Tây’ thì ai bình Chất?”

Với thời gian thì sự xung đột sẽ diễn ra theo với những kết hợp mới. Và kết quả thành bại, nặng nhẹ thì không phải chỉ tuỳ thuộc vào lẽ đúng sai. Ngô Nhân Tĩnh phải chịu lép với Lê Văn Duyệt. Kẻ nào dại dột tố cáo ông Tổng trấn Gia Định âm mưu bạo loạn thì chỉ có chết mà thôi, tuy rằng lời tố cáo liên hệ với cựu nguỵ Lê Chất sẽ được sử dụng sau này khi triều đình khép tội chết cho hai võ tướng ngày thường họ vẫn sợ hãi, nể phục. Khi Nguyễn Văn Thành rời trấn, quan dưới quyền đòi số công khố thâm lạm thì được Gia Long cho xoá nợ nhưng khi nêu ra vấn đề an nguy của quyền bính hoàng đế với bằng chứng, dù là mỏng manh nhưng với con người cụ thể (Lê Duy Hoán) thì vấn đề không thể nào dễ dàng bỏ qua được. Thế rồi dù người tố cáo chỉ là kẻ dưới quyền bất mãn rình rập, vạch được ra tội lớn, sự việc cũng có thể vẫn không nghiêm trọng nếu không có sức nặng của hai ông đồng liêu ngang chức Tổng trấn (Lê Văn Duyệt, Lê Chất), mang hiềm thù từ ngày còn xông pha tên đạn, hoặc với sự ganh ghét của ngày thường, khó thể hiểu lí do từ đâu! Các ông tướng đầy oai phong cũng không tránh khỏi sự gầm gừ của các văn quan nhỏ nhẹ bên cạnh vua như Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng, hay các ông quan như Nguyễn Duy Hoà nhân danh kỉ cương triều đình, núp bóng “liệt Thánh” của vua để to tiếng kết tội, để chứng tỏ không sợ quyền lực mà thật tình chỉ là ba hoa mồm mép, phô trương “lập trường”. Tình thế nhốn nháo như thế khiến triều sĩ Bắc Hà Nguyễn Viên dù được tưng trọng cũng cứ đưa đơn xin từ chức.

Cai trị đất Bắc, Gia Long cũng biết phải dùng người địa phương. Đầu tiên là những tay chân cũ. Đặng Trần Thường là Thượng thư ngay từ lúc lập ra các Bộ. Các chiếu cầu hiền mở cửa công khai cho những tay chân gốc địa phương tiến cử người, như cũng Đặng Trần Thường đã lôi kéo tác giả Truyện Kiều ra phục vụ triều mới mà thái độ ẩn nhẫn, bất đắc dĩ khiến ông vua nhìn ra, trách móc… Không phải chỉ là mặc cảm, mà thực tế là có quan trấn thủ mới mang tính cách võ biền, người chiến thắng đã nọc các ông quan huyện cựu quan chức, cống sĩ của Lê ra đánh đòn khiến Gia Long phải lên tiếng trách mắng.

Rõ ràng trên đất nước mới, phần đất cũ của Lê đã nổi bật những vấn đề rắc rối thấy ngay ở những trang sách Thực lục mà có khi người chủ mới phải nhẫn nhịn. Chiếm đất thì phải biết số lượng người, số tài nguyên để có thể cai trị theo thực tế, thế mà phép Bình lệ của Phạm Công Trứ còn dai dẳng đến nỗi Tổng trấn đề nghị làm sổ mới thì Gia Long ngần ngại, và đến khi phải thực thi, thấy ra sổ bộ 1808 có số đinh đương thời sụt giảm so với sổ bộ xưa của Lê (193.389 / 268.990), ông vua cũng nín lặng, cho qua. Lần đầu tiên Gia Long phải quản lí một đồng bằng nhỏ hơn vùng ông đã biết ở phía Nam nhưng lại có các con sông dữ hơn, hung hăng hơn. Một Nha Đê chính của Bắc thành được lập ra mà người trưởng trông coi cũng lại là Đặng Trần Thường. Vấn đề đê đập nơi này phải giải quyết thường xuyên, mà ý nghĩa cấp thiết của nó đã gây lúng túng không ít cho triều mới, cũng giống như trong quá khứ. Vỡ đê gây đói khổ, gây loạn lạc không phải chỉ vì tính cách khiếm khuyết toàn bộ mà có khi vì tranh chấp địa phương: nơi này úng thuỷ, nơi kia cần nước, lần đầu tiên các nhà chức trách gốc Nam biết người ta đánh nhau vì “giành nước!”

Tính chất cai trị khó sâu sát ngay từ buổi đầu trên một tập họp dân chúng được buông thả dài lâu qua những chính quyền lỏng lẻo vì đổi thay, làm tăng thêm những vấn nạn tiếp nối khiến đất Bắc đầy loạn lạc từ những đám giặc cỏ sót lại thời trước, mới nổi hồi sau, một khi phối hợp được nhiều yếu tố thuận lợi thì thành những quấy động lớn, kéo dài không chỉ trong thời Gia Long, khiến Minh Mạng phải hỏi quan triều: “Sao (giỏi như) Lê Chất (mà) không bình được Bắc Thành?” Các sử gia địa phương mang lập trường giai cấp tân thời ngày nay thì lại coi đó là những “cuộc khởi nghĩa nông dân”, là hậu quả phải có của một “chế độ phong kiến thời suy vong” của những tên vua phản động, sẽ dẫn đến tình trạng bán nước tất nhiên về sau.

Dù sao thì Gia Long cũng đã xứng đáng là người, không những mở đầu triều đại cho dòng họ mình mà còn là người đặt căn bản cho một đất nước rộng lớn sau khi tóm thâu bằng cả sức lực, tâm trí của mình. Khi ông chết đi, một Kinh thành đã được xây dựng bề thế đến mức làm một người ngoại quốc kinh ngạc (1819), cho rằng từ Madras đến Manille ông ta chưa từng thấy thành luỹ nào bề thế như thành Huế. Sự kiến hiệu của thành trì kiểu Vauban chứng tỏ thực tế từ lúc xây thành Diên Khánh (1793) đã làm đà cho những xây dựng liên tiếp về sau, nhất là trên đất Bắc đầy dao động. Vài tháng trước khi xây thành Huế đã có việc xây thành Thăng Long, như một tiền đồn mới, lại làm đề tài cho người cũ nhớ tiếc: “Thiên niên cự thất thành quan đạo, Nhất phiến tân thành một cố cung”. Ảnh hưởng của quá khứ chiến tranh cũng khiến Gia Long lưu tâm đến việc kiến tạo thuyền chiến, và đúc súng đồng từ các vũ khí, quân dụng tịch thu của Tây Sơn.

Ảnh hưởng Tây Phương còn lại mang tính cách biểu tượng nơi các ông quan Nhị phẩm Nguyễn Văn Thắng / Chaigneau, Nguyễn Văn Chấn / Vannier… lấy vợ, xây nhà trên đất kinh đô mong cắm rễ trên đất mới, không màng đến quê cũ nữa. Có vẻ họ cố sức trì níu cuộc đời được ưu đãi – vào chầu khỏi lạy, nhàn rỗi, khá dư thừa trong lúc các đồng liêu của họ lận đận với những cuộc đánh dẹp mới, dấn thân trong cuộc đời bấp bênh đầy nguy nan của thời hậu chiến như đã phân tích. Chaigneau từng dâng sách (1804) có tên Thái Tây toán pháp, Thiên chỉ minh yếu luận, rõ ràng chỉ là những sách toán, thiên văn căn bản mà lại đã được chuyển qua chữ Hán, nghĩa là phần kiến thức cũng đã lược giản đi nhiều. Cho nên lạc loài trong năm 1813, khi có quan chức đi Quảng Đông mua sách Macao và “lịch Tây” về thì cũng phải cần Chaigneau dịch ra (chữ Hán? Nôm?), lại thêm một hai tầng trung gian mù mờ nữa! Dấu vết Tây Phương lúc này chỉ như một quá khứ níu kéo – tuy khá mạnh trong lĩnh vực vũ khí, nhưng vẫn không đủ sức mạnh xoay đổi một đất nước ngập chìm trong những vấn đề cũ càng lúc càng cắm sâu vào văn hoá chủ thể trong vùng.

Bộ Hoàng triều luật lệ làm xong (1812), ba năm sau ban hành, vào mùa thu, đúng với thời gian truyền thống xét duyệt hình án, là điểm kết thúc một thời tạm bợ lâu dài, mở ra một khuôn khổ kỉ luật mới đem lại đỉnh cao tập trung quyền bính cho triều đại theo với cương vực rộng mở mà cũng là nhân tố của sự chao đảo tiếp nối. Người đời nay, hoặc với ảnh hưởng của loại luật pháp dân chủ phương Tây, hoặc đi theo với sự luyến tiếc “thời hoàng kim Hồng Đức” trong hồi tưởng về một Thăng Long huy hoàng nay tàn tạ, đã chê bộ “Luật Gia Long” này bắt chước sít sao luật nhà Thanh nên có nhiều điều khoản quá khắt khe, đại khái là thiếu “tính dân tộc”, hợp với tính chất một ông vua cõng rắn cắn gà nhà khởi đầu và những ông vua bán nước nối tiếp. Thật ra người ta đã làm rất kĩ như trong trong lời Tựa 1812 có chỉ rõ: Vua “thân tự sửa chữa”, trong tờ chiếu ban bố, có nhấn mạnh là đã “tham khảo điển cũ của bản triều, luật lệ đời Hồng Đức [‘đầy đủ nhất’ từ Lí Trần Lê], điều luật nước Đại Thanh, cùng những điều mới định gần đây, châm chước…” Chính vì sự “châm chước” đã kể mà sau này, khi muốn buộc tội chết cho Nguyễn Văn Thành, người ta đã lôi ra những điều khoản cho là ông đã bỏ vì tư ý, có thể là lấn át ý của vua! Từ đầu 1805, Nguyễn Tử Châu đã “dâng Hình luật” để vua và triều đình đọc, xem kĩ, rất kĩ như ý sử quan ghi lại. Thời thế đã khác, Trung Quốc không phải ở thời Đường mà luật Hồng Đức bắt chước, chính Trung Quốc cũng đã qua thời Tống, Mông Cổ để nhà Minh thừa hưởng uy thế quyền lực đàn áp người. Thế rồi khi dân Mãn Châu cai trị Trung Nguyên, chỉ chịu hoà hợp với người Hán trong chừng mực còn giữ vị thế trên trước thì những điều khoản hình luật khắt khe xuất hiện ở đó không phải là điều lạ. Quan tướng Gia Long đang cai trị trên một nước mà vùng đất chiếm đoạt ít ra cũng to rộng như phần căn bản của mình, nên nếu đặt luật, sao có thể chấp nhận sự lạc hậu trong luật xưa một khi tình hình thực tế thật hợp với bản luật khuôn mẫu có dưới tay, trong đó có điều khoản hẳn là họ đã từng đưa ra thi hành như trong lời chiếu cho thấy?

Cũng chính Nguyễn Văn Thành đề nghị làm “quốc” sử, nghĩa là soạn “thực lục” của dòng họ cai trị đương thời trên vùng đất được ghi chép cương vực trong bộ Nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định vừa làm xong. Thế là cũng Nguyễn Văn Thành đảm đương chức Tổng tài đầu tiên. Không trách ông đã tỏ thái độ tự phụ, ít nhiều gì cũng là nguyên cớ dẫn đến cái chết về sau. Và sử của “tiền” triều cũng được nhắc nhở tới. Nguyễn Gia Cát đã dâng bộ Đại Việt sử kí hẳn là bộ Toàn thư nòng cốt, hoặc là cơ sở gợi ý cho việc “tái bản” các bản sách còn lại ngày nay. Triều đại mới cứ thế mà đi vào khuôn khổ cũ. Các chức điều hành Quốc tử giám được thành lập ngay (1803) với các nhân viên mở khảo khoá để chuẩn bị điều lệ rồi tổ chức thi Hương thực thụ. Khoá đầu (1807) với các trường thi Nghệ An ra Bắc, lấy đỗ 26 cống sĩ, chỉ năm sau là ra làm tri huyện ngay không phải dài cổ chờ bổ dụng. Tình hình khởi đầu như thế, mở đường cho các sĩ tử phía Bắc đi vào quan trường, có thể đã làm dịu tình hình xung đột Nam Bắc, ít ra là trên từng lớp cao. Kiến thức của họ là lạc hậu, “chỉ học Đường Tống để đi thi” như Phan Huy Thực nói nhưng cập nhật thời thế thì có toán Gia Định Tam gia với đồ đệ của họ, hiển hiện trên triều đường như Trịnh Hoài Đức, Phạm Đăng Hưng…

Gia Long trong thực tế tiến chiếm quyền hành đã từng sử dụng người của nhiều khu vực, chủng tộc. Tướng Chàm gốc “Phiên vương” đã mang họ Nguyễn, có phần chắc là nền tảng của lớp người Kinh Cựu trên vùng quê hương Bà Chúa (Nguyễn Thị) Thềm gần đây, hơn là gợi từ tâm tình lãng mạn níu kéo gốc gác xa tít của thời Huyền Trân thoáng qua chỉ một năm trên đất Chàm. Có tướng ở cấp độ Ốc nha đánh mướn cho Nguyễn như Cao La Hâm Sâm, có tướng bình dân gần như thân thuộc như Nguyễn Văn Tồn. Nhưng người Hoa cùng văn hoá được dễ dàng chấp nhận hơn những người khác. Ta đã thấy tướng Thiên Địa Hội Hà Hỉ Văn chết, được kể là Công thần Vọng Các dù ông ta chưa biết Bangkok là đâu. Cho nên việc sử dụng nhóm người Hoa đã có truyền thống từ thời các chúa nay tăng lên một bực, và rồi như sẽ thấy, sẽ có những biện pháp chuyển hoá người Hoa thành người Việt theo một cung cách vừa có tính cách hành chính vừa có sự khuyến dụ, mua chuộc. Đất nước cũng thật dễ dàng dung chứa những người này khi các mẫu hình phương Bắc càng đến theo với giao thương, sứ bộ mà khuôn nắn đất nước của ông vua thứ hai, mang đến sự cường thịnh đủ để người chủ thấy cần đổi tên nước lên cấp độ cao hơn: Đại Nam.

 

Người nối nghiệp đúng kì vọng

Là người đưa dòng họ từ chỗ tan nát đến chốn vinh quang, vượt trội trên cả quá khứ, Gia Long lúc qua đời ngày 19-12 Kỉ mão (đã qua năm 1820), đã chứng tỏ thêm vẫn là một tư lệnh trong trận chiến giữ gìn “cơ nghiệp gian nan” có đà vững bền khi chọn đúng người nối tiếp. Ông không quá lệ thuộc nguyên tắc để nhường ngôi cho con Hoàng tử Cảnh, thuộc dòng trưởng nhưng còn nhỏ mà lại chuyển cho người con thứ tư 29 tuổi, Nguyễn Phúc Đảm, người sẽ lấy niên hiệu Minh Mạng, người thật đủ điều kiện để đưa cơ nghiệp của ông cha lên một tầm mức mới.

Tất nhiên là những mối mâu thuẫn của thời đại xuất hiện qua những giao thiệp cá nhân, trong công cuộc điều hành quốc gia thật không giúp ông vua mới này sống dễ dàng suôn sẻ nhưng ông quả có vừa đủ chuẩn bị để hãnh diện đảm đương việc lớn mà không thấy phải ngại ngùng lẩn tránh. Lúc đã có quyền lực trên cao mà ông còn nhớ những ngày sống phập phồng ở Gia Định, cả những lúc ông cha đang trên đường chiến thắng. Sống trong chiến tranh nên tuy không phải điều binh khiển tướng nhưng ông vẫn tiếp xúc với kĩ thuật Tây Phương qua những người đang phục vụ cho cha ông, và điều này giúp ông đôi lúc không chịu đóng khuôn trong đất nước ông đang sống với địa vị tột đỉnh.

Có quá khứ nằm trong thời chiến như đã nói nên Nho Giáo của Minh Mạng là một thứ văn hoá tích cực, dấn thân mà người đóng vai chủ tể như ông phải nêu gương trên trước. Ông hiểu rõ sự yếu đuối của con người: “Thường tình người ta hăng hái lúc đầu, chưa biết ngày sau có được như thế này hay không?” Mới bắt tay vào việc, ông tự thấy mình “nhận gánh công việc khó khăn to lớn… lo lắng chỉ sợ không làm kịp” nên ra triều sớm trong lúc nhiều quan còn chưa tới, liền quy định giờ khắc, và được các quan khuyên cứ “vô vi” rủ áo khoanh tay để họ (vô vi) làm thay cho! Có điều quan niệm vô vi trong hữu vi như Trịnh Hoài Đức bày tỏ, vẫn còn vướng víu thực tế của một đất nước nông nghiệp là chính nên Minh Mạng, trong lúc phải giải quyết những vấn đề to lớn như việc trị thuỷ xa lạ, nan giải của đất Bắc, lại cũng quan tâm đến cả chuyện ruộng cao ruộng thấp bên ngoài kinh thành của ông làm sao ứng hợp được với thời tiết bất thường của trời đất. Muốn bao quát tình hình đất nước mà không chờ báo cáo địa phương, ông cho cận thần đến tận nơi tìm hiểu, dò xét, gây va chạm đến cả cường thần. Thị vệ Trần Văn Tình đến Gia Định (1823) tố một quan chức ở đó khiến Lê Văn Duyệt đòi chém đầu mà ông vua phải nín nhịn nhưng cũng Trần Văn Tình đó, lại thấy tiếp tục đi Nam Vang (1838) để báo cáo cho vua biết tình hình rối loạn nơi có ông Trấn Tây Tướng quân vừa được vua ban khen phong chức tột đỉnh. Có nghĩa là ông vua phải lậm sâu vào những chi tiết cai trị sẽ ảnh hưởng đến tính khí, càng lúc càng thay đổi theo chiều hướng độc tôn của địa vị ông, trên một đất nước rối ren theo với đà tăng tiến tổ chức càng nhặt nhiệm hơn.

Ông muốn chuyển tính ham học hỏi đến người dưới nên vì cũng mới vừa lên ngôi, còn làm thầy giáo xuề xoà, ông đã mách họ: “Thư viện Thanh Hoà chứa nhiều sách lạ bốn phương, lúc nào rảnh việc thì cứ mượn mà xem” (không cấm đâu!) Đến nỗi, qua hồi căm thù “Tây tặc”, ông thốt lời hối tiếc là trước kia đốt hết sách nguỵ, nay muốn tìm xem thì không có nữa – y hệt mọi quyền bính xốc nổi trên đời này! Không phải chỉ tìm hiểu trong sách vở, ông còn hỏi thăm tình hình các xứ xung quanh, có loại lệch lạc không hiểu do đâu, như “người Xiêm đánh thuế đàn bà vú dài (?)” nhưng có tin tức đúng, chỉ có điều ngược với quan niệm cai trị của ông, đó là chuyện viên “Tổng trấn Giang Lưu Ba (chắc không quan tâm đó là người Hà Lan) hàng năm ăn lương bằng bạc nhiều… không cái gì là không có thuế…” Kiến thức về xứ Chân Lạp thần thuộc của ông có chi tiết sâu sát đến mức ta tưởng mới vừa đọc sách của G. Coedes, Giám đốc Viện Viễn Đông Bác Cổ: “Khi trước Chân Lạp mạnh lớn, nước Xiêm còn nhỏ, phàm những quần áo, chế độ đều bắt chước Chân Lạp cả. Về sau Xiêm càng mạnh, Chân Lạp càng yếu nên bị nó ức chế…”

Có điều “trẫm xem sách (nhà Minh) nhà Thanh, sử (nhà Minh) nhà Thanh..,” loại sách vở gần gũi đó đã làm cho một số kiến thức của thời đại khoa học mới bị chìm lấp, không có đường nảy nở như khi ông “làm thí nghiệm” cân đất thấy nặng nhẹ khác nhau mà giải thích bằng thuyết âm dương ngũ hành! Sự háo hức với cái mới của ông chỉ dừng lại ở các dụng cụ nhập cảng gây tò mò, được ông ban phát cho các quan mà có khi họ không biết, không hề sử dụng. Cả với súng ống dẹp loạn, hình như khá cập nhật, vậy mà các viên tướng chiến trường cũng phải chờ chỉ dẫn, hối thúc, cả với việc chờ người điều hành đưa từ đất Huế xa xôi.

Sự thụt thò mới cũ xảy ra với Minh Mạng – với quan triều, thời đại nói chung, thật ra cũng có nguyên nhân khách quan liên hệ đến vấn đề đổi thay: Văn hoá mang tính chất toàn bộ, không thể đổi cái này mà không ảnh hưởng đến cái khác. Minh Mạng thấy cần tiếp xúc với bên ngoài nên mở quán Thông dịch chỉ là muốn “để đáp ứng với nước ngoài thôi”. Ông không muốn tiến xa hay mở rộng tầm tiếp xúc hơn chỉ vì “Trẻ con biết ngôn ngữ văn tự nước ngoài… dễ bị tà thuyết hãm hại”. Tà thuyết đó, cụ thể hẳn là đạo “Gia Tô” mà ông đang ngăn cấm vì trái với đạo “Trâu Lỗ, giữ luân thường vua tôi, cha con” của ông. Cho nên trước tình hình như thế, Chaigneau đi phép từ Pháp trở lại (1821) gặp vua mới, lúc đầu vẫn xin tiếp tục phục vụ nhưng rồi cũng phải ra đi!

Có kiến thức cập thời như đã theo dõi được tình hình chiến tranh Nha phiến, nhưng với sách vở tràn ngập lệch hẳn về phương Bắc như thế khiến ông không thể làm gì hơn là bắt chước họ, tuy thực tế làm chủ một phương khiến ông ngay lần đầu sai sứ tạ ơn tuyên phong đã buộc “nhất thiết theo điển lễ nước ta”, rồi về lâu về dài thêm tự tín, ông cũng tìm cách chê bai, như phê phán thơ Càn Long và muốn vượt Lê Thánh Tông, chê lối tế Giao của Minh, Thanh là không hợp lí bằng của ông! Tuy tính độc đoán làm cho quan triều khiếp sợ, nhưng giá trị nhân bản của sách vở ông học được lại khiến ông vượt được lên chính mình khi ông khen Nguyễn Quang Thuỳ biết tự sát để tránh nỗi nhục đầu hàng kẻ thắng với những nhục hình kế tiếp. Ông tự cho mình nắm vững được yếu tính văn hoá nằm trong sách vở, không lệ thuộc máy móc vào nó khi quan triều viện dẫn sách xưa “Ba năm không đổi việc làm của cha” để phản đối ông một cách né tránh. Dù là với bút tích của Gia Long trên giường bệnh: “Chớ nên gây hấn ngoài biên”, hành động của ông sau đó đối với Xiêm đã khác hẳn sự dè dặt ở đời trước. Lại còn thêm chuyện đổi tên nước của ông cha thành Đại Nam. Thời mới, cơ hội mới cho ông biện bác: “Việc làm của cha nếu hay thì nghìn vạn năm vẫn giữ cũng được. Nếu không hay thì phải đổi đi mới gọi là Hiếu”. Con người phức tạp như thế là kẻ đã đưa đất nước lên thành một cường quốc trên vùng Đông Nam Á lục địa nửa đầu thế kỉ XIX.

 

Đỉnh cao của đổi thay

Cũng gần giống như ông vua của thế kỉ XV, Minh Mạng phải trải qua một thời gian trong khoảng mươi năm để chuẩn bị cho con đường thăng tiến của niên hiệu mình. Thời gian đó là đủ để ông tự khẳng định khi rứt bỏ những áp lực của quá khứ phân tán địa vực, từ những viên tướng mà quyền lực được khẳng định trong chiến tranh nên tuy sống trong một truyền thống tuân phục quân thần mà vẫn đủ can đảm gàn trở việc nối ngôi của ông. “Ta thấy võ biền ở triều đình ngày nay cũng đã hơi biết giữ gìn, đã hơn những người lúc quốc sơ chưa quen lễ phép”. Trong cái thế ghìm giữ mình mà vẫn nắm giữ nguyên tắc quân trị của thời thế giao cho, Minh Mạng đã tiếp tục các công trình của người cha để lại với sự ló dạng của một lớp người mới.

Đóng vai ông vua non nớt thời bình với hai ông Tổng trấn ở hai đầu Nam Bắc tuy vẫn còn chịu sự điều động của trung ương nhưng lại khá ngang ngạnh, có khi tiếp tục gàn trở những quyết định của ông, đe doạ cả tay chân ông, Minh Mạng mở đầu niên hiệu bằng công cuộc tổ chức ở trung ương mà khía cạnh chú tâm cho dòng họ là nổi bật. Dấu vết săn sóc anh chị em của ông xuất hiện nhiều, kể cả việc trị những người ý thế, lọng quyền. Đã có các tập họp “Quốc triều / Thiên Nam thế hệ” được soạn thảo từ 1807 nhưng đó là chuyện ngược thời gian về trước. Chính ông là người nghĩ ra, xếp đặt những chữ riêng biệt cho các đời kế tiếp của thành phần thân, sơ trong hoàng tộc: đế hệ phiên hệ, với ý định đem dòng họ thách thức với thời gian. Một “họ” riêng biệt thoát khỏi ý nghĩa của sự tôn trọng chung, họ Tôn Thất, cũng là do ông quyết định, không nệ lời can ngăn của võ tướng Lê Văn Duyệt và lời nhạo báng (lén) của một ông quan văn.

Ý tưởng viết sử dòng họ manh nha từ thời trước nay được ông đặt nền móng cụ thể. Bổ chức quan có tên Khởi cư chú là đi vào chi tiết sử vương triều, bắt đầu ghi chép lời nói, hành động của ông vua. Quốc sử quán lập nên rồi sẽ thành hình những bộ Thực lục, sử cho vương triều (bắt đầu tháng 5âl. 1821), rồi tiếp tục về sau là sử của vương quốc mới, trong đó có sự nhường bước của dòng họ cầm quyền để tính chất chính thống được mở rộng vững chắc hơn. Với Gia Long thì lúc đầu còn là lời phân bua “lấy đất An Nam là lấy của Tây Sơn chứ không phải của Lê” như đã thấy rồi lâu dần điều đó trở thành lời khẳng định quyền lực sau những cuộc chống đối “phù Lê”, và cuối cùng như một lời quát mắng tức giận của Minh Mạng. Với Gia Long, đã qua thời kì “nhà ta phát xuất tự Ô Châu” để vươn lên nhận thức mới: “Nước ta từ thời Triệu Võ đến Đinh Lê Lí Trần…” nhắm ghìm nén truyền thống của các quan triều gốc Bắc như bày tỏ trong bộ Đại Việt sử kí được Nguyễn Gia Cát dâng lên. Thế rồi khi Minh Mạng tuy không chịu cách nhận thụ phong của nhà Lê (9 lạy 3 vái), lúc rời Huế đi Thăng Long, lại để các quan bộ Lễ bày ra lễ tế Lịch đại Đế vương: Kinh Dương Vương, Hùng Vương, An Dương Vương, Trưng Vương, Bố Cái Đại Vương, Lí Bát Đế… Miếu Lịch đại Đế vương xây đầu năm 1823 mang thêm tính duy văn hoá với các ông Tam Hoàng, Ngũ Đế của Trung Hoa thêm vào nhưng một mớ hổ lốn các tiên tổ của đất nước kể trên đã là vừa có đủ sự công nhận từ trên đỉnh cao quyền bính để đem ông vua Hùng vào quyển sử chính thống của đời sau: Khâm định Việt sử Thông giám Cương mục.

Lâu dần Minh Mạng cũng thấy đất Gia Định dưới quyền Lê Văn Duyệt không được yên lành như mình tưởng: “Dân Gia Định không biết tích trữ, gặp mất mùa thì đành đi ăn cướp… với lại bưng biền nhiều, có chỗ trốn núp…” (Lời cựu Tổng trấn Gia Định Nguyễn Văn Nhân). Nhưng chính sự bất ổn ở vùng đất căn bản này lại do ở tiềm năng chất chứa của nó nên triều đình vẫn phải nắm đủ thế chủ động để đổi thay. Gia Định chia nhỏ thêm với những đơn vị Phủ đầu tiên để các ông tiến sĩ thời mới như Phan Bá Đạt “thử việc hành chính”. Đất Hà Tiên (nghĩa là phần lớn vùng phía tây sông Hậu), tuy còn leo lắt một ít ràng buộc với dòng họ Mạc nhưng đã là đất triều đình nên có việc chia đất huyện, phủ. Và do đó tính chất biên giới của Hà Tiên càng nổi bật khiến Minh Mạng phải lo hoàn thành kênh Vĩnh Tế, làm rào chắn bảo vệ biên giới cực tây, như một ý thức “không gây hấn biên giới”, thực hiện lời dặn dò của cha. Rồi những lõm Chân Lạp bên trong như vùng Trà Vinh, Mân Thít đặt thành phủ Lạc Hoá, vùng đất mở rộng vòng đai Hà Tiên cứ đặt phủ huyện theo kiểu quen thuộc, cho dân mang họ cây, đá gì cũng được miễn giống như của người Việt, đúng chủ trương “lấy mà không lấy vậy” của Tham tri bộ Lại Nguyễn Văn Hưng. Cái khó trong hồi tiếp theo cho đám dân tại chỗ này, là một sự đầu hàng văn hoá, khiến vẫn chỉ có ông cựu “dịch đình nô” (một ông Lục con?) Nguyễn Văn Tồn mang một chút họ của vua từ hồi luân lạc, kéo dài cuộc đời quan quyền vài mươi năm rồi rốt lại, con cháu phải luỵ vì Lê Văn Khôi, biến mất trên chính trường.

Gia Định “ruộng đất màu mỡ” không phải chỉ của cư dân bản xứ mà còn là của di dân Thanh, của “người Mân Quảng đến ở ngày càng nhiều, khắp chợ đầy đồng, kẻ đi buôn, người làm ruộng, giàu có cự vạn mà suốt năm không nộp một sợi tơ, một hạt thóc nào…” Sự hơ hỏng đó của thời kì lo tranh chiếm đã qua, nay triều đình phải lo khép những người “Đường” này vào khuôn khổ. Việc đánh thuế đồng nhất cho người Minh Hương toàn cõi tháng 7âl. năm 1826 dẫn đến quy định tiếp về thể lệ thu thuế 3000 người Đường “mới phụ” ở Gia Định, xếp đặt họ vào các Bang có bang trưởng trông coi. Những người này, trong tình trạng quay lưng với đất cũ rồi sẽ nhìn theo những người đồng tộc đi trước được gọi là Minh Hương, để tìm cách chuyển đổi tư thế mà hưởng những quyền lợi trên đất mới như dân bản xứ. Thế là tháng 12-1830 có biện pháp chuyển người Thanh thành Minh Hương.

Thật ra công cuộc “Việt Nam hoá” diễn tiến với người Hoa mới, cũ trên đất Việt cũng chỉ là nằm trong tiến trình đồng nhất hoá chung như khi cho người “Phiên”/“Man” mang họ Việt, mặc áo quần Việt. Tuy nhiên ở đây không chỉ có vấn đề chủng tộc mà còn có ý thức văn hoá chen vào. Mượn ý thức vương hoá từ phương Bắc, Minh Mạng tự cho mình đang làm sứ mệnh đó đối với những con dân dưới quyền. Không những ông khen dân Miên phủ Lạc Hoá “xưa là Man nay có phong hoá trung châu” mà cả việc buộc dân Bắc Hà thay đổi áo quần (1826, 1837) dù gây phản ứng mỉa mai, dằng dai, ông cũng cho là đã làm việc giáo hoá dân Bắc như dạy dỗ man di. Do đó ở đây, người Minh Hương là kẻ đóng vai trò điều hoà sự xung đột Nam Bắc theo khía cạnh văn hoá.

Nhà Nguyễn gồm thâu hai vùng đất có sự chênh lệch Nho hoá thiên về phía Bắc nhưng khả năng trấn áp lại từ phương Nam như chứng tỏ trong chiến thắng. Làm người chủ trên cao, Minh Mạng phải lo điều hoà sự lệch lạc không phải chỉ đến từ một phía. Vào thời bình, với sự thu dụng các tiến sĩ, cống sĩ thời Lê trong nhu cầu kiến thức quản lí đất nước, với khoa cử mở ra liên tiếp, Minh Mạng lại thấy giật mình: “Sau đây mấy chục năm nữa vẫn đều là người Bắc được bổ dụng, thì người Nam làm sao làm quan được?” Ông phải nghĩ ra biện pháp lựa chọn người Nam không cần là khoa mục mà chỉ cần siêng năng, mẫn cán thì thôi. “Người (phía) Nam” tất nhiên không chỉ là của đất “Gia Định ít học” mà Minh Mạng bảo phải lo đặt người dạy dỗ, nhưng với sự chuyển đổi văn hoá cực nhọc từ các nhóm dân khác ngôn ngữ khá đông đang tập tành làm con dân triều đình ở đấy thì tuy họ sản xuất gạo đủ nuôi cả “từ Bình Định ra Bắc”, họ vẫn không thể múa may mồm mép trơn tru, còn nói gì đến việc cầm cây bút lông nắn nót những lời ca tụng thánh Khổng, thầy Mạnh. Thế mà không cần đến sự thiên vị lộ liễu, Minh Mạng đã có đông đúc ở phía nam một lớp người hội đủ tiêu chuẩn làm con dân thời mới: lớp người Minh Hương cũng nói thuần thục tiếng Việt, chỉ cần chuyển từ bạch thoại thô thiển qua văn ngôn uyên áo là vác được lều chõng đi thi, không một anh nhân sĩ Bắc Hà nào dám coi thường. Trịnh Hoài Đức, Ngô Nhân Tĩnh là kẻ tiên phong không cần bằng cấp, Phan Thanh Giản là một trường hợp gượng ép lúc cần khoa bảng ở vùng cuối đất nước nhưng những người cùng nguồn gốc như ông mà không lộ diện trên sách sử chắc là không ít, nếu không kể thêm bằng cớ người cùng kí tên trên bản hoà ước gây tủi nhục lâu dài cho ông: Phó Tổng tài Quốc sử quán, Phó sứ Lâm Duy Hiệp/Thiếp/Nghĩa, cũng dân Minh Hương.

Trong lúc lớp người của thế hệ chiến tranh, của thời chuyển tiếp cứ tàn dần như Trịnh Hoài Đức đã nhận ra, thì đà củng cố tập trung quyền lực về kinh đô Huế lại được tăng tiến mạnh mẽ theo với sự bồi đắp kiến thức trị nước nhuần nhuyễn thu nhận thêm từ khuôn mẫu Thanh triều. Cũng nên lưu ý rằng các tổ chức tạo lập mang thực chất ở mức độ nào là tuỳ tình hình chung đòi hỏi chúng phải đảm đương nhiệm vụ chứ không phải chỉ thuần là danh xưng vay mượn. Cho nên các Viện, Giám, Ti… lúc này đã bận rộn hơn một phần cũng vì vua lưu tâm nhiều hơn. Công việc phiền tạp khiến có thêm các chức vụ “phó bộ trưởng” là Tả, Hữu Thị lang. Có việc hiệu chính luật Gia Long (3âl. 1830) giao cho Quốc sử quán thi hành. Tổ chức gián quan lỏng lẻo được thành hình từ khi sứ bộ 1826 mang sách vở tổ chức của Thanh, qua nghiên cứu lâu dài để thành lập Đô sát viện (1832), thành một hệ thống xuyên suốt đưa việc kiểm tra đến từng vùng địa phương, từng ngõ ngách ban viện ở trung ương. Công việc phồn tạp khiến Minh Mạng phải mở rộng Thị thư viện của vua cha, từ Văn thư phòng của ông cải đổi thành Nội các, rồi lại đặt thêm Cơ mật viện (1833) suy từ Hội điển của Thanh, để bàn bạc những việc quân quốc trọng yếu.

Có việc cải tổ quân đội (10âl. 1829), với hệ thống cầm đầu cao nhất là các phủ của Ngũ quân Đô thống. Lính chia thành ban lệ, phần lớn tập trung ở Kinh đô với những thành phần chuyển đổi đóng tại địa phương được gọi là đi “thú”, mang một hình thức xáo trộn thành phần địa phương, chủng tộc chưa từng được ai đến nay quan tâm đúng mức. Chưa kể đến ảnh hưởng xáo trộn vì các cuộc lưu đày nếu không có vụ Lê Văn Khôi làm nổi bật vấn đề.

Khả năng kĩ thuật, vũ khí cũng vượt trên tầm mức cổ điển nên dù loạn nổi tứ phương, quân triều đình vẫn đủ sức đàn áp tận những vùng xa, sâu. Chúng ta thấy triều đình thường xuyên cấp các nhiệt kế, phong vũ biểu, “thiên lí kính” cho các địa phương, vùng biển để canh chừng hải phận. Có những chế tác vũ khí, thuốc nổ “kiểu Tây” tuy không đưa ra chi tiết nhưng có vẻ là những cố gắng cập nhật thời thế. Sáng kiến “Thuỷ hoả kí tế” được nói nhiều, nhân rộng mẫu hình, thật ra chỉ là dùng sức nước của các nguồn sông làm chuyển hệ thống vận hành nghiền thuốc đạn nhưng việc đó không những tiết kiệm nhân công mà còn khiến công tác chế tác đỡ nguy hiểm hơn, nghĩa là khiến sản xuất dồi dào hơn. Có loại súng “liên châu bắn liền 4 phát” có vẻ như là loại súng có nòng xoay. Loại “súng nhỏ của Tây Dương – cũng gọi là ‘chưởng tâm lôi’ / ‘sấm trong lòng bàn tay’” hình như là súng lục, mà ban phát cho quan triều thì chứng tỏ số lượng không phải chỉ là một hai đơn vị. Có điều quan triều như Phan Huy Thực không biết dùng kính viễn vọng phải nhờ Minh Mạng chỉ cho thì việc bỏ một số tiền lớn – quá lớn như Minh Mạng cũng nhận ra, để làm những thuyền máy chạy thử trên sông Hương đã cho thấy các cố gắng này tất phải đi vào ngõ cụt.

Dù sao thì tất cả cũng chứng tỏ được một nền tài chính dồi dào của thời đại. Minh Mạng chỉnh đốn, phát triển các đồn điền ở Gia Định, nghe lời Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ khai khẩn vùng Tiền Hải, Kim Sơn thêm ruộng cho đất Bắc cùng khốn vì lũ lụt, chiến tranh chết người mà không bớt được nạn nhân mãn. Những nguồn mỏ khai thác lúc được lúc không, lúc chuyển cho tư nhân thâu thuế, lúc đặt thành quan xưởng dù sao cũng đem lại nguyên liệu cho triều đình đúc tiền, không những với các kim loại giá hạ (đồng, kẽm) mà còn có cả tiền vàng, tiền bạc, đúc thành thoi lượng, cân để giao dịch với bên ngoài. Bởi vì tuy là một nhà nước nông nghiệp nhưng trong tình hình giao thương có đà trong quá khứ, triều đình Huế tuy dè dặt với bên ngoài, chỉ mở một cảng Đà Nẵng cho giao tiếp chung nhưng cũng thường xuyên phái các thuyền buôn bán với các cảng Nam Dương (Batavia, Palembang), Malacca, Singapore / “Hạ Châu” với các quy định thưởng phạt rất chặt chẽ.

Chi tiết về một chuyến “đi làm việc công ở nước ngoài” năm 1838 có thể cho thấy sự trao đổi về trước. Phái bộ có năm thuyền thì hai thuyền đi Jakarta, ba thuyền đi Singapore, ngoài quan chức còn có thông ngôn, “người làm việc chuộc tội”, lái thuyền, phụ lái, thầy thuốc, và lạ lùng là “thợ giũa ngọc” (?) Hàng bán là đường cát, thoi đồng, ngà voi, cánh kiến, hàng mua về là kẽm, chì, diêm tiêu (thuốc súng kiểu mới?), súng điểu thương loại mới, vải… Có việc thuê tàu máy hơi nước, khiến thông ngôn cũng không đủ dùng nên quan chức mướn người ngoài đi theo rồi gởi theo thuyền khác trả lại. Có vẻ với tình thế mở rộng bên ngoài mà thiếu người như thế nên đã phải thành lập một trường Thông ngôn nhỏ – “Quán Thông Dịch”.

Minh Mạng cũng không qua khỏi thời thế cho nên tính chất trung ương tập quyền chỉ lên đến đỉnh cao khi hai viên tướng sừng sỏ của vua cha mất đi, mất hẳn dấu vết trì níu quá khứ của hai địa phương “Thành” tương đối độc lập. Lê Chất chết (7âl. 1826) trong lúc về Bình Định chịu tang mẹ thì Bắc Thành không có một Phó Tổng trấn mà lại là một Hiệp trấn quan văn già cả khiến cho tình hình địa phương rối loạn nổi bật lên, nhân tiện triều thần kèn cựa, đổ trách nhiệm cho người đã chết, mở đường cho những bới móc tội lỗi tận diệt về sau. Các chức Quyền chưởng ấn Tổng trấn rồi Quyền Phó Tổng trấn Bắc Thành cũng không chứng tỏ khả năng người phụ trách để sự can thiệp ở trung ương càng phải sâu sát hơn. Đàn áp xong các cuộc nổi loạn (Lê Duy Lương, Phan Bá Vành…) triều đình phải ra lẹnh trừng trị quan tham lại nhũng. Theo với đà quyền lực trị an đi theo binh lực, có việc xây cất xây đắp thành trì cho các phủ huyện miền Bắc. Từ trung châu lấn lên miền thượng đạo, chế độ thổ ti mang dáng chuyển tiếp trên vùng Mường Ninh Bình, Thanh Hoá (tháng 3âl. 1828) rồi được bãi bỏ, thay thế bằng chế độ lưu quan, quan chức của trung ương phái tới (tháng 6âl. 1829), gây lí do luyến tiếc quá khứ cho những cuộc nổi dậy tiếp theo mang danh nghĩa “phù Lê”. Tất nhiên lúc đầu không đủ người, hay vì còn phải mua chuộc, các lưu quan này lại là thổ ti cũ, mang danh hiệu nửa chừng “thổ tri huyện”, “thổ tri châu” như trường hợp Nông Văn Vân, Tri châu Bảo Lạc.

Những trận đánh dẹp dẫn đến việc lượng giá tình hình quản trị, an ninh các địa phương trong nước ở mức độ phủ, huyện, châu (8âl. 1831) cho thấy những vùng quan trọng về mặt an ninh phần lớn là ở về phía Bắc cho nên Phó Tổng trấn Bắc Thành được gọi về Kinh và bắt đầu sự đổi thay lớn về chính sách cai trị không những đối với đương thời mà còn lưu dấu đến ngày nay. Tháng 10âl. 1831 “bắt đầu hạ lệnh cho từ Quảng Trị trở ra Bắc chia hạt, đặt quan”, thiết lập đơn vị Tỉnh với các chức chưởng Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chánh, Án sát… mang nhiệm vụ mới. Tất nhiên người ta cũng hội họp làm việc phân tích thiên về sự thuận lợi của cải cách trong thời thế mới. Nhưng như thế là, đồng thời với cải cách, “nước Đại Việt” của nhà Lê đã thực sự bị xoá sổ tuy lại có thêm những phản ứng mới chồng chất với các khó khăn cũ. Điều đáng nói khác là tên tỉnh Hà Nội – danh xưng đậm đà thời Chu, Hán dính líu với sông Hoàng Hà phía bắc xa, nay xuất hiện như một dấu vết mới mà níu kết được truyền thống cũ để có dịp sẽ lại trỗi dậy với vai trò quan trọng hơn.

Công việc chia tỉnh, đặt quan rộn ràng khiến các đại thần hàng ngày hội họp, kể cả những ngày mưa lạnh, vua phải làm thơ khuyến khích, ban phát dầu gió tây ta đủ thứ, hẳn đã vọng đến tai ông quyền thần phía nam nên Lê Văn Duyệt dâng sớ cáo lão, xin “các đình thần bàn xét về các trấn ở thành hạt Gia Định để kiến thiết một thể”. Lời thỉnh cầu chưa được chấp thuận không phải vì Minh Mạng bỏ qua cơ hội mà ông gọi là “việc lớn… lợi muôn ngàn đời vô cùng”. Triều đình đang phải bận rộn riêng về một vùng dân chúng còn đang bối rối với những điều khoản lạ mắt, lạ tai nên bỏ qua lời thỉnh cầu. Nhưng ông Tổng trấn cũng không còn sống bao lâu nên ông chỉ chết sau một tháng là có sự cải tổ theo lối mới (tháng 10âl. 1832) trên phần đất còn lại, từ Quảng Nam vào Nam, chuyển đất Gia Định làm một thành phần trực thuộc trung ương. Đất nước từ đây mới thật là “thu về một mối” để, đi theo với sự kềm thúc của nền chuyên chính là một tầm mức loạn lạc ở đỉnh cao, như một thách thức với tổ chức mới.

 

Sức mạnh mang hệ luỵ từ bên trong…

Lại cũng không khó khăn gì để thấy những tập họp chống đối nhà Nguyễn không phải chỉ thuần là nông dân bị áp bức dưới một chế độ thối nát. Lịch sử không diễn tiến giản dị như của một vài công thức chính trị đưa ra. Ngoài những yếu tố mới mang lại do tình thế mới, triều Nguyễn cũng gặp phải những chống đối giống như với bất cứ những người cai trị nào khác. Lập thời mới, Gia Long, Minh Mạng cũng phải chịu nạn “mọi Đá Vách”, tập họp những bộ lạc từng hiện diện trong lịch sử qua cả thời Pháp thuộc, không chừa cả thời kì Việt Minh những năm 1950. Trên đà tiến chiếm đất Lê, Nguyễn cũng va chạm với các thủ lãnh Mường Thanh Hoá, Ninh Bình, các vùng của các quan lang họ Đinh, họ Quách… nổi danh với các tên: Nhất Bi, nhì Vang, tam Thàng, tứ Động. Họ đã từng chứa chấp Lê Duy Mật chống Trịnh, từng chống quân Tây Sơn lấn chiếm… Cho nên không lấy làm lạ là dù không có kẻ để “phù Lê”, họ cũng chống Nguyễn để khỏi bị lấn áp trên khu vực quyền lực truyền thống của dòng tộc.

Gia Long muốn xoa dịu họ Lê và quần thần cũ, đã cho Lê Duy Hoán tước Công, hưởng quyền lợi ruộng đất, dân tạo lệ to lớn nhưng như thế cũng là nuôi dưỡng thêm một thế lực chống đối tiềm tàng, gợi tham vọng cả từ những kẻ bên ngoài. Duy Hoán không muốn phản loạn cũng không được, chỉ gắng gượng bù đắp trước khi chết (1816) bằng cách lôi theo ông Tổng trấn Bắc Thành, và may mắn có người con, Lê Duy Lương, tiếp tục chống đối, sau khi lẩn tránh đến hơn hai mươi năm, dưới sự che chở của các quan lang Mường. Loạn tuy chỉ hơn một năm (6âl. 1833) là bị dập tắt nhưng các thủ lãnh Mường lại tiếp tục nuôi Lê Duy Hiển, kéo dài mệnh số đến tháng 4âl. 1837 mới bị tiêu diệt. Đất Mường cuối cùng thấy cánh tay quyền bính của họ Nguyễn đi sâu vào tận đất đai ngàn đời của dòng họ, và con cháu họ Lê đành phải chịu mất ân huệ dành cho một triều đại để trở thành phận kẻ phản loạn, bị bứng khỏi đất gốc, phân tán xa tận phía nam.

Phía đồng bằng, những chống đối mang những dạng “quen mắt” hơn nhiều. Khi còn quyền uy, Tổng trấn Nguyễn Văn Thành, quen thuộc với tính chất đất văn học, đã cho phổ biến bài Điểm mê kêu gọi dân chúng đừng nghe lời xúi giục làm loạn thì có bài Tố khuất như một phản ứng trình bày thực tế người dân phải chịu đựng. Quan tham lại nhũng là chuyện bình thường của quá khứ, của xứ sở (vụ Hoàng Công Lí trên đất Gia Định 1820-1821). Vả lại nhìn kĩ, mức lương dành cho quan quyền có vẻ chỉ là đủ ăn mà thôi. Thế mà Gia Long còn thấy không nên đánh đòn các quan phạm lỗi, sợ làm nhục họ nên ra lệnh chỉ trừ lương thôi! Và qua bao biến loạn làm lỏng lẻo quyền bính trung ương, các làng hay nhóm làng đã nằm trong sự thao túng của các cường hào địa phương, “chúng làm bậy thì dân đều theo” (lời Nguyễn Hữu Thận). So ra, “Cái hại quan lại là 1, 2 cái hại hào cường là 9, 10. Quan lại ăn giấy tờ, thuế vật (có thể) bị lộ, bị xử còn hào cường ẩn núp trong dân gian, giết cả người, hại cả nhà mà không lộ…” Nguyễn Công Trứ đã không bịa chuyện để thanh minh cho tầng lớp quan quyền. Trong tình thế đương thời, các quan cai trị lại là người xa, hoặc cũng là dân “Bắc Hà” nhưng với quyền uy dựa vào phe chiếm đóng thì không nề hà gì mà không vơ vét, cho đến khi lộ ra vì làm ăn quá quắt, hoặc bị phát giác chỉ vì rủi ro. Đại đô đốc Tây Sơn Lê Đình Chính về hàng mới nửa năm, được phong trấn thủ Lạng Sơn là một trong số đó.

Ngự sử chuyên trách đạo (Nghệ) An (Hà) Tĩnh Nguyễn Bá Nghi có vị thế địa vực khoảng giữa để đưa ra nhận xét về sự xung đột Nam Bắc: “Người Nam thì kiêu hãnh khinh người, lời nói và việc làm đều hay trịch thượng; người Bắc thì lấy làm tủi thân, tuy cố gắng làm việc nhưng vẫn đem lòng bất mãn, điều qua tiếng lại dần thành hằn học lẫn nhau…” Tình trạng đó không phải chỉ xảy ra trên cấp bực quan quyền địa phương mà còn thấy ở trung ương nên trước kia Gia Long đã phải phân trần với Nguyễn Du, và Minh Mạng thì từng thể hiện không những trong lời nói về sự không phân biệt Nam, Bắc mà còn trong hành động, như bênh vực Lê Duy Thanh (con Lê Quý Đôn) đến phải chịu đựng sự lấn lướt của ông hàng thần (Lê Chất) lâu ngày đã trở thành quyền thần.

Về phần đám thừa hành thì nếu không chống đối, có bị bó buộc hay tự nguyện đi vào quyền bính, họ cũng không sốt sắng với nhiệm vụ cho lắm. Cả người cầm đầu cũng không dám giấu trung ương (đầu 1828) điều đó: “Lính Bắc Thành chỉ có 25 000 người đều là lười biếng, không quen việc đánh trận, một khi sai phái thì phải xen thêm lính Kinh vệ… Người bản thổ sai bắt giặc hoăc đi đánh, thường có tính nể nang nên khó được việc.” Có ý định về hùa phục vụ để kiếm chác hoặc ẩn núp thì phải giả dạng phe mạnh: “(Kiểm tra đầu 1828 thấy) binh lính ứng mộ phần nhiều mạo tên lấy các xã thôn từ Quảng Bình về Nam làm quê quán”. Biện pháp chỉnh đốn là kiểm tra quê quán thật, chỉ lấy lính Nam cho trấn thành mà thôi. Thế mà trong trường hợp cần thiết, khi các quan báo cáo “lính Nam ở các tỉnh Bắc Kì sai phái có tiếng là đắc lực”, Minh Mạng đành phải cho phép mộ thêm, và Bắc Ninh chỉ trong một tháng (3âl. 1835) đã mộ được 1050 người! Cho nên có tình hình chung là lính thú trên đất Bắc có riêng biệt các đơn vị Bắc, Nam mà số lượng Nam có khi nhiều hơn Bắc như chứng tỏ lúc cải tổ tháng 9âl. 1835 (Ninh Bình 323/94, Hưng Yên 541/513, Quảng Yên 185/100). Thật ra thì “lính Nam” là của vùng Thuận Quảng cũ đến Khánh Hoà (Bình Thuận thuộc quản trị của thành trấn phía Nam) như khi Minh Mạng cho thấy lúc thu xếp bắt lính cho Gia Định theo tiêu chuẩn nặng hơn (đầu 1836): “…Lấy lính Nam Kì bảo vệ cho Nam Kì, tiếng là giữ nước thực là giữ nhà. So với lính Kinh, lính trực, lính kì hàng năm phải đi thú lặn lội mấy ngàn dặm, đồn thú lâu hơn hàng năm…” Chênh lệch lại có khi vì quá khứ chiến tranh, lính Nam đã có hiểu biết kĩ thuật cao hơn lính Bắc. Cho nên Hưng Hoá (cuối 1833), Hà Tĩnh (5âl. 1836) phải mộ 50 dân ngoại tịch từ “Quảng Bình vào nam” để sung vào đội pháo thủ của tỉnh!

Với tình trạng như thế thì loạn nhỏ cũng trở thành lớn khi có xộc xệch vì đổi thay tổ chức. Trước đã có bất an trên vùng tây bắc kéo dài mười mấy năm trong đó có con của Nguyễn Gia Phan, cựu tiến sĩ triều Lê, cựu hàng thần Tây Sơn. Vùng thượng du có Lí Khai Ba xưng vua bị dẹp yên mùa xuân 1823. Nhưng loạn đất Bắc đánh động đến Kinh thành là khi Lê Chất rục rịch về Bình Định để tang mẹ. Lê Duy Lương lộ ra trên vùng thượng du Thanh Hoá (đầu 1826) rồi Vũ Đức Cát, Phan Bá Vành vùng biển (2âl. 1826) khiến cho Thống quản biền binh Bắc Thành bị cách, đến một năm sau loạn mới bị diệt trừ. Nhưng một loạt các cuộc chống đối tiếp theo có thể nói là do việc cải tổ tập trung lập tỉnh đã khiến cho những mối mâu thuẫn tiềm tàng nhỏ hơn được dịp bùng phát dữ dội. Đó là cuộc loạn Lê Văn Khôi xuất phát từ nơi Minh Mạng vẫn còn tin là chốn trung thành với dòng họ nhà mình.

Theo dòng thời gian ghép vào sử chính thống, ta vẫn coi người cầm đầu cuộc biến loạn đó là LÊ VĂN Khôi nhưng chính sử quan Nguyễn cũng nhận ra rằng chỉ vì muốn ghép tội với Tổng trấn Lê Văn Duyệt mà họ đưa ra tên và chữ lót đó thôi. Và họ cũng không chịu thú nhận là sự gán ghép đó còn có mục đích đẩy xa sự dính líu với dòng vua đang ngự trị, tránh một điều có thể gọi là xấu hổ, gây nhiều rắc rối cho đương quyền. Khôi thật ra là NGUYỄN HỰU Khôi, mang “công tính”, họ của dòng nhà vua, được ban cho các con cháu Nguyễn Hoàng bị bỏ rơi trên đất Bắc (1600). Những người này sau thời kì bị nghi ngờ, ở lâu thành quen, được lên chức trong triều Chúa với danh vị bà con nhà chúa, họ cũng khiến cho các quan Trịnh Lê sợ hãi như ai! Họ làm quan triều, làm lưu quan đất Cao Bằng, địa phương hoá nên liên kết hôn nhân với các dòng họ phụ đạo: Bế, Nông/Nùng, và có thể thổ tù hoá mãi mãi nếu không có một người bà con xa xưa lên làm vua toàn cõi. Thế là một người trong dòng, tên Khôi ở mãi tận Cao Bằng, không biết bằng cách nào lại luồn lọt được vào nằm dưới quyền một công thần mà lòng trung thành nổi bật khiến Gia Long được tướng Tây Sơn nào về hàng là trao cho ông ta sử dụng với lời dặn dò không phải chỉ giữa vua và tôi.

Lê Văn Duyệt chỉ có một lần thoáng qua trên đất Bắc khi mới tiến chiếm xong, được lệnh tuyển lính Bắc Thành cùng với toàn bộ các quan tướng ưu tú: Lê Chất, Nguyễn Văn Trương, Nguyễn Đức Xuyên, còn thì lo dằng dai dẹp loạn Đá Vách vùng Quảng Ngãi, thành lập một vệ quân riêng biệt ở đấy lấy tên là vệ Minh Nghĩa. Người trưởng trông coi vệ đó không thấy nêu tên mà sử lại ghi ông phó là Nguyễn Hựu Khôi. Không thể nghĩ rằng ông Tổng trấn, dù nghênh ngang, lại dám nhận một người hoàng tộc làm con nuôi của mình. Đến khi nổi loạn, Minh Mạng không những “xuống chỉ đổi họ Khôi theo họ Lê Văn Duyệt” mà còn tước bỏ họ cả chi của Khôi, vì lẽ “họ Nguyễn Hựu vốn là công tính, há có giống chim muông ăn thịt cha mẹ, ô nhục dòng dõi nhà vua như thế?” Rõ ràng ông đã không phủ nhận nguồn gốc của Khôi, cũng như khi phải bận tâm giải quyết chuyện ông em cưng, cùng mẹ đã lấy cháu của Khôi, được quân Phiên An giương cờ, nêu tên ông ta để lôi cuốn người theo. Cho nên nếu không có người thừa hưởng chút hơi hướm danh vị hoàng tộc, có mối quan hệ liên vùng Bắc Nam như Nguyễn Hựu Khôi thì sự biến ở Gia Định tháng 5âl. 1833 không xảy ra, và đã xảy ra thì không lan khắp toàn quốc như đã thấy.

Việc quan quyền lạm dụng tình thế tìm kiếm lợi lộc hay bới móc nhau để tâng công cũng là chuyện thường tình. Một khi thay đổi tổ chức, hệ thống đáng lẽ phải coi những cách thức điều hành cũ là đương nhiên, vậy mà quan chức lại lấy tiêu chuẩn mới để xét hình thức cũ thì tội lỗi kẻ thất thế hẳn là không để đâu cho hết. Kẽ vạch thì lỗi nhẹ thành lỗi nặng, lỗi nặng thành không thể tha thứ được. Người chịu nạn may mắn đã chết thì được vua xuê xoa tha tội làm ơn, như trường hợp Bảo hộ (Chân Lạp) Nguyễn Văn Thuỵ, Thoại Ngọc hầu được thờ kính ở Tây Nam Bộ ngày nay. Nặng nề mà còn sống thì như trường hợp một ông Bảo hộ khác, Lưu Phúc Tường bị giết, không kể công trận dày dạn từ thời còn truân chuyên. Ân oán bình thường khuất lấp trong chi tiết dễ thấy thoáng qua, là sự kiện Lê Văn Khôi khi nổi dậy giết Bố chánh sứ Bạch Xuân Nguyên, đã giết luôn cả thuộc hạ của ông ta là Nguyễn Trương Hiệu, người từng phát giác vụ con Nguyễn Văn Thành làm thơ khẩu khí, lây lan đến cái chết của ông Tổng trấn Bắc Thành. Sự xung đột mới cũ trở thành bạo loạn, đã xảy ra vì gặp lúc chính quyền ở vào thế yếu nhất khi chuyển đổi. Loạn quân phải chớp thời cơ, giành lấy phương tiện tuy còn trong đà tập trung mà trách nhiệm thì không thuộc về ai hết. Thái Công Triều đã bảo Lê Văn Khôi: “Nay chia đặt tỉnh hạt thì đại bác, khí giới, thuyền mành và thuốc đạn ở Thành sẽ chia đi các tỉnh, nếu không kịp thời nổi lên lúc này, còn đợi đến bao giờ?”

Minh Mạng biện minh cho quyết định chia tỉnh của mình, đã thắc mắc tại sao tướng tư lệnh vùng Nguyễn Văn Quế không đủ sức ứng phó với tình thế nhưng ông không thấy rằng từ kẻ trông coi biền binh toàn cõi phía nam đến trở thành một ông Tổng đốc dân sự thì quả là sự lúng túng trong thu xếp đã rõ rệt, không cần đến tình thế như Thái Công Triều nhìn ra. Ba vệ lính bị chuyển đổi bật gốc quen, đi theo người chỉ huy là chuyện thường. Ngay cả nhóm người Thanh, cũng không thấy có cách nào khác hơn khi đi theo người từng chung vốn “làm ăn” với họ. Lăng Ông hôm nay bề thế, tuy chỉ là được xây dựng từ 1937, nhưng thật tình có chấp chứa nỗi luyến tiếc của con cháu, đồng tộc lớp người chịu ân sủng ông Tổng trấn thời sinh tiền rồi phải vạ lây từ đó. Chưa kể đến sự xu phụ bình thường, kẻ “phản loạn” phải khuất phục lực lượng đe doạ ngay trước mắt trong khi uy thế triều đình thì ở xa, như trường hợp con cháu họ Mạc Hà Tiên, con cháu ông cựu-Miên Nguyễn Văn Tồn. Và cũng tưởng tượng ra một thời giải thoát là những người theo đạo Gia Tô đã thấy ngột ngạt, hoang mang với những cuộc ruồng bố cấm đạo. Tóm lại, thấy đó là cơ hội đổi đời như khi ông quan đốc vận bị can án nằm ngục vì chở (lầm?) con cháu Tây Sơn, trở thành Phó tướng Thuỷ quân của thời mới. Phe loạn quân có cả người con khác của Nguyễn Văn Thành, chắc bị đày ở đó. Lính Hồi Lương, Bắc Thuận, quân đi đày từ phía Bắc xa hẳn mong thấy tương lai rộng mở hơn khi theo ông quan gốc Bắc. Nghĩa là vang vọng của cuộc nổi dậy không phải chỉ loanh quanh ở địa phương.

Biến động nhân rộng ra. Người Chàm bị “Kinh hoá” khi vùng Thuận Thành đổi ra phủ Ninh Thuận, nổi dậy, cũng mở rộng chống đối – và sẽ bị đàn áp đến tản lạc dân chúng, không còn thế để trở về vị trí Phiên vương như xưa. Nhóm Lê Duy Lương tìm cách liên kết, chưa thấy được hiệu quả bao nhiêu thì chính triều đình Huế trong khi truy bức đã gây thêm rối loạn trên một vùng thượng du phía Bắc. Lệnh bắt vợ con, thân thuộc Lê Văn Khôi ở Cao Bằng khiến Nông Văn Vân, ông tri châu Bảo Lạc của triều đình, không thể ngồi yên, phải nổi dậy (7âl. 1833). Tuy nhiên sự chống đối không được dài lâu vì ưu thế gần như tuyệt đối của triều đình, với cả nguồn nhân, vật lực toàn quốc theo với sự tăng tiến khả năng tranh chiến trong đà liên hệ tuy chưa đến mức độ quốc tế rộng rãi nhưng đã vượt ngoài biên giới như đã thấy. Nông Văn Vân cũng có ưu thế quen thuộc địa vực như nhóm Mường Ninh Bình Thanh Hoá, thêm với thế dựa lưng vào rừng núi của nước lớn nhưng vẫn không đủ sức gây lực lượng mạnh nên rốt cục lại bị bỏ rơi vì quan Thanh không muốn có tình hình bất an nơi biên giới.

Về phía loạn quân, sự thành công bột phát của Lê Văn Khôi cũng là yếu tố làm nên thất bại ngay trong sự bành trướng. Quân Hồi Lương, Bắc Thuận là lực lượng chính giữ Định Tường phía tây còn trưởng quân Hồi Lương, Nguyễn Văn Trắm, người sẽ thay thế Lê Văn Khôi đến lúc cuối cùng, lại là kẻ chống đỡ quân triều đình phía đông. Từ những nhóm nhỏ mang tính biệt phái như thế, quân nổi dậy sẽ thấy trơ trọi, hụt hẫng khi phát triển ra khỏi khu vực quen thuộc là trấn thành cũ. Thái Công Triều đã ở tâm trạng như thế khi đem quân đánh rọng ra miền Tây, đột nhiên trở giáo, không những làm mất hậu phương rộng lớn cho Gia Định mà còn mất triển vọng liên kết với quân Xiêm đang trên đà can thiệp. Quân rút vào cố thủ trong thành Phiên An chỉ kéo dài cuộc sống nhờ thành trì che chở, nhờ sự tuyệt vọng nâng đỡ trong khi quân triều đình vây khổn bên ngoài trang bị súng lớn với “thước đo bắn đại bác mới chế”, đại bác bắn “đạn nổ mảnh”, với ống dòm loại mới mang khả năng kĩ thuật tối đa mà sự thành công cuối cùng lại là do chiến thuật có vẻ như gợi ý cho những người bao vây Điện Biên Phủ ngày sau: Đào hào xâm nhập tiến sát thành rồi xung phong lần cuối (16 tháng 7âl. 1835). Chiến tranh chống nổi loạn mang lại một hình ảnh đen tối của đất nước với một loại hình “khủng bố nhà nước” đáp ứng vượt bực đối với sự lo sợ cấp thời của dân chúng: “Gươm của triều đình thì xa mà gươm của kẻ cướp rất gần”.

Tuy nhiên thế thắng của triều đình không phải chỉ là sự đàn áp của quân lực. Kiến thức tập quyền của truyền thống được hiện đại hoá bằng những tiếp nhận từ phương Bắc qua tay một ông vua có cá tính, đã điều hoà trong một chừng mực những mâu thuẫn địa phương, mới cũ để sự sụp đổ không xảy ra. Đã thấy Minh Mạng cố sức giữ quân bình cho sự khác biệt Nam Bắc vốn sâu đậm hơn vì sự kết hợp qua chiến tranh, lại kéo dài cả trong thời bình. Ông nghiêng bên này, lệch bên kia, không nề hà cả việc phân trần, tránh né với cường thần mà ông biết chưa có thể trực diện đàn áp nổi. Ông mắng người là với tính cách một ông vua có chịu đựng ràng buộc chứ không phải của một chúa tể chuyên quyền. Thứ tinh thần Nho giáo được mang ra làm tiêu chuẩn là nhân danh văn minh: “Buộc thay đổi áo quần là dùng Hoa hạ trị Man di…” Tiêu chuẩn đó vấp phải thực tế bảo thủ thông thường cùng với những khó khăn của cuộc sống để các “sĩ phu” được dịp nấp bóng đàn bà mỉa mai. Tuy nhiên cùng trong ý nghĩa săn sóc thần dân dưới quyền không phân biệt, Minh Mạng đã cho tận lực giải quyết các vấn đề an sinh xã hội căn bản, vấn đề cấp thiết của địa phương như việc trị thuỷ sông Hồng chẳng hạn. Với cái “poll” do Nguyễn Công Trứ dò hỏi, từ 70 đến 80% dân chúng đồng ý phá đê, triều đình với tính cách người quản lí mang tầm nhìn bao quát hơn, lại thấy ý tưởng đó quả thật là phiêu lưu nên chọn giải pháp khác là khơi dòng, đào sông mới cho thông đường nước. Và cứ thế không buông bỏ… Thế là gồm lại, những thần dân của Minh Mạng này đều là dân “Hán”, cùng chia xẻ niềm hãnh diện văn minh, đối ứng với bọn “Man Di” phải đàn áp, phải cải hoá bên ngoài biên giới đang có đà mở rộng.

Chính cái khuôn khổ Nho giáo trong thực tế trước mắt đã đưa các sĩ tử Bắc Hà vác lều chõng đi thi, vào triều chính Nguyễn, và rồi chính tính cách nhân bản của Nho giáo đã khiến có một lớp người mới thành tâm phục vụ triều mới không bị ràng buộc vì sự đồng dạng địa phương xưa cũ nữa. Đánh thắng trên mặt trận Bắc không phải chỉ có các ông tướng xuất thân cựu nguỵ như Lê Chất, Nguyễn Văn Xuân, tướng gốc chăn voi bị vua chê “thô suất, lỗ mãng” như Phạm Văn Điển, tướng xứ kinh kì gia nhập muộn như Tạ Quang Cự phải nhờ người viết thay báo cáo, mà còn có tướng văn võ toàn tài như Nguyễn Công Trứ, rồi ngược với thời kì đầu, không phải chỉ có quan Nam trị dân Bắc mà có Doãn Uẩn xuôi ngược bắc nam, làm Án sát Vĩnh Long, xây chùa còn dấu vết đến ngày nay, có Vũ Xuân Cẩn làm Tổng đốc Bình Phú ứng tiếp quân vụ cả hai đầu nam bắc… Thế là sự xung đột giữa những người cùng địa phương, chức vụ lại chuyển sang màu sắc “văn hoá” dẫn đến những kèn cựa tủn mủn, vụn vặt hơn: Phạm Đình Hổ làm ở Quốc tử giám bị đồng sự – cũng gốc Bắc nhưng là Tiến sĩ, coi thường vì không qua bằng cấp, Nguyễn Công Trứ cũng bị quan triều hặc vì đã cử một hào phú làm huyện thừa – chỉ là một chức “phó” ở huyện thôi!

 

… thúc đẩy sự bành trướng, vươn tầm mắt ra ngoài biên giới

Cho nên với thực lực của thời đại như thế thì dù muốn, Minh Mạng cũng không thể tuân giữ di chúc: “Chớ gây hấn ngoài biên giới” được. Thật ra thì trong những năm tháng đầu niên hiệu, chính Minh Mạng đã kềm hãm ý thức gây hấn của Lê Văn Duyệt muốn vươn đến bắt tay Miến Điện bên kia nước Xiêm La, lợi dụng sự xung đột của hai bên để chiếm miếng mồi ngon Chân Lạp. Triều đại Rama cũng là lúc hưng thịnh của Xiêm La. Ở phía Bắc, các tập đoàn Thái tan vỡ hay chưa kết tập của nước Lan Xang cũng trên đà suy yếu để sử quan Nguyễn chỉ ghi chép về các nước Vạn Tượng, Nam Chưởng đã tách biệt từ 1694. Vùng Bồn Man đã mất danh xưng cũ trong hơn 30 năm chiếm đóng của Lê Duy Mật nên chỉ còn là châu Trấn Ninh ngay từ thời Gia Long. Nam Chưởng / Luông Pha Bang tương đối cách trở với triều đình Huế, vì đường thông thương cũ với Thăng Long không còn hợp với thời mới nữa nên thấy ít chuyện liên can xảy ra. Đất Vạn Tượng lại gần hơn với lối thông qua Cam Lộ, Quy Hợp quen thuộc từ xưa nên sự xung đột của xứ này với Xiêm La khiến phải gây sự động binh của Nguyễn. Từ Gia Định xa, Lê Văn Duyệt đề nghị dùng Vạn Tượng làm vùng đệm đối với sức tràn lấn của Xiêm. Nhưng Vạn Tượng yếu ớt lại gây hấn khiến quân Xiêm chiếm kinh thành. Quốc trưởng A Nỗ / Chao Anu chạy trốn nương nhờ Trấn Ninh, bị giao cho quân Xiêm đã đưa mối đe doạ đến gần Việt Nam. Triều đình Huế bắt thổ quan Chiêu Nội về giết (1830), sáp nhập Trấn Ninh vào bản đồ, đăt thành phủ rồi cũng liên tiếp mở thêm các phủ “trấn” mới: Tĩnh, Định, Biên, Man và Lạc Biên, đẩy phủ Cam Lộ qua phía tây với 9 châu mới, đưa biên giới đến sát sông Mekong, chiếm cả vùng Trung Lào ngày nay, chỉ chừa lại đất Champassak cho cháu của A Nỗ. Tuy nhiên xung đột trực tiếp lại là ở phía nam, nơi có sự giành giựt đất Chân Lạp suy yếu mà lại thuận tiện cho việc bành trướng vì nằm trên đất đồng bằng quen thuộc.

Quân Xiêm dưới quyền tướng Praya Bodin, theo lời cầu viện của Lê Văn Khôi tràn qua Nam Vang, chiếm Hà Tiên, Châu Đốc (cuối 1833) nhưng bị chận lại. Trương Minh Giảng truy sát, đưa Nặc Chăn về Nam Vang phục hồi đất nước nhưng là bắt đầu một thời kì bảo hộ sâu sát (tháng 7âl. 1834) của Nguyễn qua trung gian Quận chúa bù nhìn Ang Mei / Ngọc Vân và quan lại bản xứ mang chức tước triều đình, có quân chiếm đóng vỡ ruộng lấy lương ăn theo chế độ đồn điền để tồn tại lâu dài, tất cả có dáng không thể nào đảo ngược được. Chân Lạp đã là “tôi tớ” của vua thì con dân ở đó từng “có nước đến 1200 năm” tất cũng phải được tìm hiểu cặn kẽ cho nên có lệnh sai soạn Cao Miên kỉ lược. Tiến trình “Đại Nam hoá” tiếp theo mỗi chiến thắng cũng được thi hành trên khắp các vùng đất nước: chức lí trưởng đặt đến tận vùng Mường, buộc người học “chữ” (Hán, tất là qua âm Việt) không cần phải là con cháu thổ tù, gần giống như người Pháp sau này thi hành ở Nam Kì đối với dân Việt. Không những “Quốc vương Hoả Xá”, quan thổ tù mang thêm họ ngoài tên mà dân Hà Tiên, Kiên Giang còn thêm những họ mới lấy từ tên thôn xã của mình, tiếp tục cách thức lấy họ sao cho có nghĩa, có âm Việt để ghép vào sổ đinh đóng thuế, chịu bắt xâu, đi lính.

Đất Gia Định yên giặc được tổng kiểm tra về mặt điền thổ (4âl. 1836), xong trong ba tháng, chấm dứt các đơn vị mơ hồ “thửa”, “khoảnh” để thành mẫu, sào đồng nhất. Công cuộc kiểm tra lan đến Bình Thuận, Khánh Hoà thế là mang lại sự thống nhất điền địa trên khắp cả nước. Đất nước xuyên suốt với những con đường lớn xây đắp trên vùng Gia Định vừa bình định xong, những con đường trạm theo nhu cầu chiến tranh nối liền với kinh kì. Theo thói quen của sử quan, không thấy kể nhiều về những hoạt động thương mại của tư nhân, ngoài các chuyện bất đắc dĩ về các vụ buôn bán bất hợp pháp phải kê ra, trong đó thấy có tình trạng nghiện thuốc phiện khá lan tràn, từ trong dân chúng lên đến chức quyền Tổng trấn Bắc Thành. Tuy nhiên việc thành lập Giao tử vụ ở Cao Bằng tháng 10âl.1836 chứng tỏ dòng giao thương trên bộ với Trung Quốc khá lớn đến nỗi người ta phải dùng một hình thức tiền giấy cũ kĩ thay thế tiền đồng nặng nề. Và tất nhiên sử quan không che giấu chuyện nhà nước đi buôn.

Chuyện đi buôn xa ra nước ngoài đã là điều quen thuộc, tuy lúc đầu vẫn tránh né là “làm việc công”. Không thấy chuyện triều đình đi buôn với phương Bắc – các thuyền buôn người Thanh đã chiếm đủ dòng lưu thông này rồi. Hướng đi buôn với các xứ biển phía Nam được ghi nhiều cho thấy tầm quan trọng của nó. Đó là nơi có những món hàng chiến lược: thuốc súng, vũ khí, hàng xa xỉ phương Tây… Tính cách quan trọng của hướng này còn thấy qua những ghi nhận có thuyền lớn, như chuyến 1838 với Đào Trí Phú có vẻ như là trên tàu chạy máy hơi nước, nếu không là loại Minh Mạng cho chạy thử trên sông Hương, lúc này liều lĩnh đi ra ngoài biển khơi thì cũng là tàu được mua hay thuê mướn của người Âu. Trang bị vũ khí trên tàu có vẻ cũng là loại súng bắn nổ cò “chấn hoả pháo… súng thép của Tây Dương, bắn bằng đạn liên châu…” chứ không phải loại nhồi thuốc đạn vào nòng rồi van vái nữa! Bởi vì tình trạng an ninh trên biển, ngay cả dọc theo bờ Nam Bắc cũng cho thấy thường không an toàn với các toán cướp biển đầy dẫy, đến thời gian này phần lớn là người Trung Hoa, tồn đọng cũ mới của những kẻ chống đối nhà Thanh, của dân phiêu lưu nhập nhoà giữa nghề đánh cá và cướp biển.

Với khả năng đi biển tương đối vượt bực so với các triều đại trong quá khứ, sự bành trướng của Việt Nam lúc bấy giờ không chỉ giới hạn trên đất liền mà còn có toan tính hướng ra ngoài biển khơi. Lại cũng là thời điểm sau khi dẹp yên Gia Định, quan triều dự định tổ chức chuyến ra xa ngoài biển Đông, hẳn là có người còn nhớ chuyện thời các Chúa, dân địa phương Quảng Ngãi vẫn còn con cháu từng phục vụ lúc xưa. Chuyến đi tháng 6âl. 1835, quân Nguyễn dựng đền thờ thần Hoàng Sa trên đảo, có vẻ đã thám sát hai đảo gần nhau: “cồn Bạch Sa, tên cũ là núi Phật Tự” (chắc vì có miếu cổ Vạn lí Ba bình, trên nhóm Paracel phía tây, hay trên đảo Phú Lâm của nhóm Đông Bắc?), và “đá Bàn Than” nhỏ hơn, ở phía nam. Thế rồi nửa năm sau, bộ Công đề nghị sai Phạm Hữu Nhật làm công tác chiếm hữu rộng lớn hơn: thám sát các đảo, đo đường nước sâu cạn, vẽ bản đồ, tính toán khoảng cách các đảo ấy với những điểm trên đất liền, rồi lập bài gỗ đánh dấu sự hiện diện của triều đình Nguyễn, hẳn là lan qua nhóm phía đông bắc, toàn vùng. Cuối năm 1836 chiếc tàu Anh bị đắm ở Hoàng Sa, thuỷ thủ tấp vào Bình Định được cứu giúp, cũng là dịp cho Minh Mạng xác nhận chủ quyền và lên mặt là đã “cảm hoá được man di” biết quỳ lạy, khấu đầu cảm ơn theo phong tục “Trung Quốc”!

Tuy nhiên sự mở cửa bắt buộc của thời thế không giúp cho Minh Mạng giải quyết được một vấn nạn càng lúc càng gây khó khăn bức thiết cho triều đình vì không những nó mang yếu tố tự cho là văn minh, không nhường ai mà còn dựa trên cả sức mạnh cụ thể nơi thuyền chiến, vũ khí của những nước xa tận trời tây, sắp đóng vai chủ lưu của thế giới hiện hành. Đó là vấn đề Thiên Chúa Giáo, hay dùng chữ của đương thời: “đạo Gia Tô”, thay chữ xưa hơn: “Hoa Lang Đạo”. Minh Mạng đã có kinh nghiệm về sự xung đột giành giật linh hồn Hoàng tử Cảnh ở Gia Định mà cuối cùng phe truyền thống thắng thế, lên làm vua với cả sự tin tưởng ở “đạo Trâu Lỗ” thần thánh, thì tất là ông không thể nhường bước. Đã thấy một số kiến thức của nhân viên đưa về sai lạc bởi quan điểm văn minh (như ở Nam Dương “thuế gì cũng thâu”). Với đạo Gia Tô là “đạo kiệt hiệt hơn hết trong các đạo dị đoan” thì những thiên kiến cũ vẫn còn đó: Giáo sĩ móc mắt người chế thuốc, bỏ bùa mê bằng “bánh thánh”, xưng tội riêng với người nữ để gian dâm – ý chống báng này không những là từ quan niệm nam nữ hữu biệt của Khổng Giáo mà còn có thể từ loan truyền đâu đó về một dấu vết droit de touche trung cổ châu Âu… Dân chúng nồng nhiệt với đạo mới, có lúc cũng bước qua thập tự, rồi trở lại ăn năn, giáo sĩ thì tin tưởng ở nhiệm vụ tông đồ của mình với cả một hệ thống văn minh thúc đẩy không chỉ bằng tinh thần, thế là Minh Mạng chỉ có thể “giết!”, cũng với mức độ chân thành tin tưởng riêng của mình. Kết quả tranh chấp nếu không thấy được trong đời ông vua thì sẽ hiện ra trong những năm tháng tiếp theo.

Với các chiến thắng, vua đã lên đến tột đỉnh nên tổ chức Lễ Bảo tất / “ôm đầu gối” cho công thần, đúc 9 đỉnh – dạng Cửu đỉnh Việt hoá, bày hàng trước Thế miếu, cho tập họp các công trình thời đại, biên chép thành sách, đổi tên nước Đại Nam không nệ lời can tên đó không phải là mới, chưa kể lời bàn tán không phải đạo Hiếu. Minh Mạng đuối sức, mất đi (đầu 1841) tuy đã thấy những rối loạn ở biên giới phía tây nam nhưng hẳn vẫn vững tin về công trình xây dựng của mình, cũng như chứng tỏ ở số lượng con cái đông đúc ông để lại với bài thơ sắp xếp thế thứ mà khi cả triều đại sụp đổ vẫn chưa dùng hết!

 

PHỤ LỤC

Đỉnh cao quân quyền: chủ trương Khủng bố Nhà nước và lễ Bảo tất

Nghĩ xưa từ thuở triều Minh,
Chém cha giết đạo động tình nhơn dân.

Câu sám-giảng của đầu thế kỉ XX (“Sấm giảng về Đức Cố Quản [Trần Văn Thành]”) cho thấy còn đủ thời gian để lưu lại trong tâm trí người dân về một thời truy giết của chính quyền đối với một bộ phận dân chúng Nam Kì khi triều đình Huế thấy có giáo sĩ và dân “đạo” chống đối trong thành Phiên An đang bị vây và sau đó là hình ảnh Cố Du / Marchand bị xử lăng trì với đứa bé 6 (7?) tuổi con của Lê Văn Khôi. Hẳn là những người này cũng không phải chịu oan ức gì cho lắm nhưng tình hình trừng trị của nhà Nguyễn, không chừa một tập nhóm chống đối nào, đã vụt tăng cường độ dưới thời Minh Mạng đến mức có thể mang danh là một sự Khủng bố Nhà nước.

Hãy xem một trường hợp cụ thể được sử quan Nguyễn tả lại trong lễ nhận tù binh từ Gia Định đưa về, tổ chức theo điển lễ Minh, Thanh. “Các quan phần việc bày sẵn ngựa xe, đồ lỗ bộ trước điện Cần Chánh, trần thiết trọng thể các đồ binh khí và nghi vệ ở ngoài cầu Kim Thuỷ. Vua mặc áo long bào, tay chẽn, ngự giá ra lầu cửa Ngọ Môn. Các hoàng tử, thân công và trăm quan mặc áo hoa, tay chẽn, chia ban thứ đứng hầu. Các tướng quân là bọn Nguyễn Xuân và Phạm Hữu Tâm mặc quân phục, lạy nộp ấn thao cờ, bài rồi dâng tù binh và thủ cấp giặc phản nghịch. Làm lễ xong, sai Thống chế Vũ lâm là Nguyễn Tăng Minh, Thự thượng thư bộ Hình là Bùi Phổ bưng cờ, bài ‘vương mệnh’ đem quân và voi áp giải 5 tên nghịch phạm là Lê Bá Minh, Lưu Hằng Tín, Đỗ Văn Dự và nghịch Du tức Phú Hoài Nhân cùng con nghịch Khôi là Lê Văn Viên đến pháp trường ở đồng phía nam, xử tội lăng trì: trăm dao xẻo thịt cho chết rồi cắt lấy đầu, cùng bêu đầu nghịch Khôi, nghịch Chắm treo lên sào cao, bêu ở các chợ ngoại thành 3 ngày. Còn đầu các nghịch Minh, nghịch Tín, nghịch Dự và Văn Viên giã nhỏ cho vào hố xí. Đầu nghịch Chắm, nghịch Khôi, nghịch Du đưa khắp các địa phương từ Quảng Trị ra Bắc, Quảng Nam vào nam cũng treo lên sào cao bêu 3 ngày, rồi đưa về chỗ địa phương mà chúng đã phạm tội, giã nhỏ, cho vào hố xí”. Lê Văn Khôi bị đào mả, thịt thái cho chó ăn, tán nát xương giao các tỉnh bỏ vào hố xí. Với Nguyễn Văn Bột: “dùng đủ 5 thứ cực hình, trăm dao cưa cắt, bêu đầu 3 ngày ở địa phương nó làm giặc, rồi ném xuống sông…” “Những đồ đảng giặc, không kể trai gái, già trẻ, chẳng cần tra rõ quê quán, đều điệu ra ngoài đồng, chém đầu, đào hố lớn, vứt thây, lấp đất, chất đá đắp thành gò to trên dựng bia khắc chữ ‘Nghịch tặc biền tru xứ’”. “Gò mả nguỵ” còn mãi đến những năm 1960 mới bị mất dấu vì sự phát triển của thành phố Sài Gòn, một phần nằm dưới một bệnh viện có nhiệm vụ cứu người, như thế cũng có thể gọi là để an ủi cho những người đã chết.

Tất nhiên trong quá khứ những loại hình phạt như thế đã định hình, không phải đợi đến quan triều Minh Mạng sáng tạo ra. Vấn đề đặt ra là có một sự chênh lệch rất lớn về cách luận tội so với trước đó không lâu. Và chi tiết hình phạt đưa ra rõ là có sự cố ý phô trương của chính quyền. Tính chất “khủng bố trắng” làm gương theo với mức độ ảnh hưởng nổi dậy nhỏ hơn, thấy rõ trong việc chỉ bêu đầu bêu thây đối với các lãnh tụ vùng (như trường hợp lang Mường Quách Phúc Thành 4âl. 1837). Như thế sự thúc đẩy của tình thế rõ ràng đã có ảnh hưởng vào việc kết tội khiến việc thi hành án tăng lên đến mức độ tàn ác khủng khiếp. Ti Tam pháp xét đơn kiện, thi hành án được lập ra (6âl. 1832) cũng là dịp chứng minh sự nghiêm khắc của luật pháp. Lê Duy Lương bị xử tử lăng trì, bêu đầu 2 ngày ven sông ở Biên Hoà rồi chuyển bêu từ Hà Tĩnh ra Bắc, mỗi nơi 3 ngày, xong ném xuống sông (7âl. 1833). Nông Văn Vân sau khi chết cháy, đầu chặt dâng về Kinh, bêu chợ 3 ngày, chuyển từ Quảng Nam vào Nam, Quảng Trị ra Bắc mỗi nơi 3 ngày rồi giã nát ném vào hố xí, còn thân thì treo ngược cắm ở núi Vân Trung hang ổ, rồi cũng xẻo từng miếng giã nát bỏ hố xí để làm gương (3âl. 1835). Không phải chỉ đối với “thần dân Nguyễn”, lệnh cũng không che giấu đối với dân nước khác: Nguyễn Văn Xuân đánh Trấn Ninh được lệnh “đánh giết kịch liệt, chém đầu, mổ bụng, bêu lên rừng núi” (1834)!

Ta thấy Gia Long thoả mãn với chiến thắng, đã tha khá nhiều tướng lãnh Tây Sơn ngay cả khi họ bị bắt vào phút cuối của chiến trận. Với thành kiến đã có về lối tru di tam/cửu tộc, người ta hẳn phải ngạc nhiên khi thấy Gia Long không bắt tội thứ phi, anh em bà con Nguyễn Nhạc, Tư lệ Đinh Công Tuyết, rồi con ông ta, lấy lẽ vì họ chỉ là “đàn bà”, “dân thường”, “quan nhỏ”, “con không phải chịu tội cho cha…” Cả đến trường hợp phản loạn như Nguyễn Thế Chung xưng Thống lĩnh Sơn Tây thượng đạo đánh phá trong hơn mười năm từ lúc còn Gia Long, bị Lê Chất đánh dẹp (1822) mà ông cha Nguyễn Gia Phan, hàng thần từ Tây Sơn cùng loạt với Phan Huy Ích, ông cựu Tiến sĩ triều Lê đó cũng không bị bắt tội vì Minh Mạng phán: “không hay biết” hành động của con! Minh Mạng cũng bác bỏ chuyện cấm con cháu Hoàng Ngũ Phúc, Ngô Hựu không được đi thi, vì lẽ ai làm nấy chịu (1830). Thật trái hẳn với lối vây ráp tận lực bà con thân thuộc Lê Văn Khôi hồi sau, với việc giết Tiến sĩ Đinh Phiên gia nhập hàng ngũ Phiên An mà con cái, học trò là Giáo thụ, Huấn đạo, ngự sử đạo (Nam Ngãi) đều bị mất chức, xử hình…

Đúng là sự xử trí đã khác đi khi Minh Mạng thấy đất nước dưới tay càng lúc càng không yên ổn, sự đe dọa càng lúc càng gia tăng đối với quyền lực mình. Nguỵ Tây tưởng đã là quá khứ không ngờ còn trốn trên vùng rừng núi, nấp giữa đám giặc biển; con cháu Nguyễn Nhạc, con Trần Quang Diệu tuy ẩn khuất nhưng là ngay ở vùng đồng bằng, đến khi bị phát giác còn theo thuyền quan trốn tận Cần Thơ (1831)! Sự kiện này ẩn tàng mối đe dọa thật lớn bởi vì cuộc nổi dậy của Phan Bá Vành chẳng hạn, chỉ là “thổ phỉ”, loạn vì quan tham lại nhũng, triều đình ra quân đánh dẹp, cắt đầu, chặt thây kẻ phản loạn xong thì trừ thêm tay chân tàn hại của mình, ban ân bố đức cho dân chúng trong vùng, tưởng thế là đủ rồi. Nhưng Tây Sơn rồi Lê (Duy Lương) tiếp theo là cả một triều đình, một quá khứ, mối đe dọa dằng dai cả sau khi loạn lớn đã dẹp xong, thật không thể coi thường được. Không thể làm việc tận diệt con cháu nhà Lê thì phải bứng gốc họ đi, đem đày rải rác nơi xa lạ, gầm gừ bắt cả ông em cùng cha khác mẹ đoạn tuyệt với bà con. Rồi lại thêm Lê Văn Khôi. Thế là đem bà thứ phi, con Lê Chất, từng được đặt ở địa vị cao (“Đệ nhị cung” – Phan Thúc Trực), giam cho tới chết. Minh Mạng lúc đầu còn tưởng dân Gia Định theo mình, đến khi Phan Thanh Giản nói ra mới biết có chống đối thật sự để thốt lời than: “Bắc Kì phong tục kiêu ngạo, dân vốn thích nổi loạn, không ngờ nơi dựng nghiệp vua cũng có thói kiêu ngạo ấy”. Và loạn lại khởi phát bởi một người trong hoàng tộc, dù là xa! Là người uy nghi trên tột đỉnh bởi cả nhiệm vụ thần thánh được trao, Minh Mạng lại thấy mình bị đe doạ hơn bao giờ hết. Rồi cả biên giới phía tây nam cũng không yên vì quân Xiêm tràn sang khiến các chiến thắng bên trong cũng bị che một lớp mây mù u ám.

Cho nên Minh Mạng mượn lễ Bảo tất của Thanh, tổ chức rình rang cho toán quân chiến thắng phía Bắc, không phải chỉ để chứng thực uy thế vừa đạt được mà còn hướng tới sự thúc đẩy sự thành công trông thấy ở phương Nam.

Ta có thể nghe sử quan Nguyễn tả về nghi tiết của lễ đó:

Trước một ngày quan phần việc bày ngai, treo màn trướng ở gian chính giữa cửa đại cung, đến sang sớm ngày chính nhật, rước vua lên ngự bảo toạ. Hoàng tử, các tước công, văn võ phẩm quan đều mặc áo thường trào, theo ban thứ đứng hầu. Bọn Thống soái, Tham tán đều mặc áo đại triều, do ban bên tả, rảo bước đến sân rồng, làm lễ chiếm cận. Dâng ấn quan phòng về việc quân của Đề đốc, Tổng thống, Tổng đốc, Thống đốc, Tham tán đi dánh dẹp, xong rồi bộ Binh trước hết dẫn Đề đốc Phạm Văn Điển do bên tả đường ống [lối đi hai bên có tường cao] lên bên đông thềm giữa, đến phía trước bảo toạ, quỳ, phủ phục xuống đất, đợi Chỉ tiến lên. Điển giắt hốt vào đai, đi bằng đầu gối tiến lên. Vua duỗi một chân ra, Điển chìa hai tay ôm lấy, ngẩng lên, khấu đầu một cái. Được đăc chỉ ban khen và thưởng, Điển liền giơ lên trán, nhận lĩnh rồi lại khấu đầu một cái, đi bằng đầu gối lui ra đến chỗ phủ phục trước, cầm hốt lại khấu đầu lần nữa, rồi rảo bước đi ra. Thứ đến dẫn Tổng đốc Tạ Quang Cự; lại thứ nữa dẫn Tổng đốc Lê Văn Đức, đều như nghi tiết trước.

Rồi bộ Binh vâng mệnh dẫn Tham tán Nguyễn Công Trứ do gian tả bước lên thềm, đến bên chỗ vua ngồi, hơi lệch về phía Bắc, quỳ xuống, giắt hốt vào đai, được phụng chỉ khen ngợi. Chính tay vua ban rượu, Trứ kính cẩn lĩnh lấy, uống rồi giao lại chén chp thị vệ đón lấy. Trứ làm lễ khấu đầu mốt cái, cầm hốt rảo bước đi ra.

Thứ đến dẫn Lê Văn Thuỵ, Nguyễn Tiến Lâm và Hồ Hựu vào nghi tiết cũng như trước. Rồi các Thống soái, Tham tán đều làm lễ tạ mà lui.”

Không thấy ai được hưởng ân huệ tiếp theo như Phạm Văn Điển, ngoài viên tướng biên cương: Trấn Tây Tướng quân Trương Minh Giảng.

Nghi lễ mang tính cách quyền uy kinh khiếp và thần thánh như thế đi theo với một quyền bính bao trùm đất nước, sẽ tạo thành một cung cách ứng xử còn lưu dấu lâu dài ở tâm trí những người cầm quyền, chớm phát lại ở “thần dân” mới sau 1945, dù tất cả đã trải qua những năm tháng tiếp xúc với văn minh phương Tây. Quá khứ đeo đẳng như thay cho lời Minh Mạng nhạo báng tinh thần mới: “Trẫm từng nghe việc loạn ở nước Phú Lãng Sa, bắt đầu có người yêu quái truyền nói ở trong nước rằng: ‘Phàm loài miệng có răng đầu, có tóc da đều là người cả, sao lại để giàu nghèo không đều?’ Thế là ùa nhau nổi lên cướp của nhà giàu chia cho nhà nghèo, dẫn đến loạn to…”

Ông vua cũng không được dịp biết rằng chút ước vọng bình đẳng kia – bao gồm cả tiền bạc và nhân cách, dù tốn bao nhiêu xương máu, cũng không dễ gì đạt được.

 

 

 

.

bài đã đăng của Tạ Chí Đại Trường


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)