Trang chính » Bàn tròn, Bàn Tròn: Dịch thuật, Biên Khảo, Tạp luận Email bài này

Nhân vụ Trái Phá & Tình Yêu, bàn về chuyện chữ nghĩa, câu cú, dịch thuật, và phê bình

 

 

 

Vào tháng Tư năm 2010, trên tạp chí Da Màu, độc giả được đọc một bản dịch  đẹp và thơ, của dịch giả Đinh Từ Bích Thuý, lời ca bài Tình Su của Trịnh Công Sơn. Đinh Từ Bích Thúy trước đó cũng đã đóng góp được nhiều bản Anh-dịch công phu và hay, đặc biệt ở phần dịch thơ. Còn Trịnh Công Sơn, như chúng ta biết, vốn là một trong một vài nhạc sĩ Việt Nam được thế giới biết đến nhiều, và Tình Su có thể coi là một trong những bài tình ca đẹp và tiêu biểu nhất của ông. Sau đó, độc giả được dịp theo dõi những phản hồi đóng góp quý báu của một số vị về bản dịch của Đinh Từ Bích Thuý, đặc biệt về ý nghĩa của từ “trái phá” trong nguyên bản cũng như trong dịch bản. Ngoài ra, giáo sư Thái Kim Lan bên Đức cũng tham gia đóng góp  về ý nghĩa của lời ca nằm trên những nốt nhạc đầu tiên của bài hát này: Tình yêu như trái phá con tim mù loà. Sau đó, tôi cũng có dịp chia sẻ những suy nghĩ của mình về ý nghĩa của những lời ca đó, và trong sự chia sẻ và góp ý với dịch giả, tôi cũng cho thấy có những điều tôi đồng ý với chị Thái Kim Lan, có những điều không. Tôi đã trình bày tất cả những suy nghĩ ấy trong bài viết  khá kỹ của mình, "Tình Yêu & Con Tim trong Tình Sầu ca Trnh Công Sơn: mt thoáng dư ba (góp ý vi Đinh T Bích Thuý và Thái Kim Lan)".

Kết thúc cuộc thảo luận, qua sự cân nhắc kỹ lưỡng của chính chị, cùng với sự góp ý, chia sẻ của một số người đọc, dịch giả Đinh Từ Bích Thuý đã đóng vấn đề lại một cách đẹp đẽ, và cho biết chị sẽ sửa lại câu dịch đầu tiên của mình cho phần ca từ của bài hát này thành Love as an artillery shell. The heart is blind, vốn, trước đó, chị đã dịch là Love as an artillery shell that blinds the heart.

Cuộc thảo luận, chia sẻ đầy thiện chí và mang những nét văn học này kéo dài khoảng ba tuần, và tôi nghĩ, tất cả những người đã có dịp tham dự hoặc theo dõi cuộc thảo luận này đều có cơ hội học hỏi thêm được phần nào về cái hay, cái đẹp, cũng như cả cái rắc rối nữa, của ngôn ngữ nói chung. Và của ngôn ngữ Việt, nói riêng. Điều tôi muốn nhấn mạnh là, trong mắt nhìn của tôi, chính thái độ chia sẻ, đóng góp đầy thiện chí và hiểu biết của những người tham dự, chính lòng yêu văn học, yêu chữ nghĩa của mọi người, đã tạo được những ấn tượng đẹp đẽ nhất trong cuộc thảo luận này.

* Vn Đ

Gần đây, tôi đọc được trên báo Hp Lưu, số 111, ra vào cuối tháng Chín 2010, bài viết của tác giả Trần Thiện Đạo với tựa đề Tình Yêu Như Trái Phá. Trong bài này, tác giả trình bày lại vấn đề cùng những diễn tiến của cuộc thảo luận trên Da Màu, nhấn mạnh và trích dẫn ý kiến của một số độc giả trong thảo luận về ý nghĩa của từ “trái phá”; sau đó, trích dẫn (không đầy đủ) một vài ý kiến và quan điểm của chị Thái Kim Lan và tôi về mặt cấu trúc của hai vế Tình yêu như trái phácon tim mù loà. Rồi, cuối cùng, đưa ra quan điểm của mình: việc thảo luận về ý nghĩa và cách dịch từ “trái phá” của các độc giả Da Màu có tính cách “vô tích sự”, “không tác dụng” và “không lợi ích” (“H bàn cãi vi nhau như vy xem ra có phn vô tích s, không tác dng, không li ích, bi đây là mt câu văn hư cu ch đâu thuc loi khoa hc.”)

Trần Thiện Đạo cũng cho rằng những góp ý của chị Thái Kim Lan và tôi là không đúng, “có chút gì gi to, gò ép”, vì chúng tôi, như dịch giả và đại đa số độc giả, đã không nắm được sự khác nhau trong cách diễn đạt giữa Đông và Tây (1), và việc dịch giả Đinh Từ Bích Thuý bị “h (ThKL + BVPh) (…) thuyết phc”, để rồi sửa lại câu dịch của mình, làm cho nó “bng nhiên hoá nên khúc mc, cm cm như có ht sn lt vô trong giày khi ta ro bưc”, cũng là một việc làm sai. Và, như thế, chị cũng cùng mang khuyết điểm, nếu không phải là lỗi lầm, như hai kẻ góp ý đã được nêu tên.

Tôi sẽ trình bày kỹ hơn về những sự phê bình của Trần Thiện Đạo ở một đoạn dưới, và sẽ đưa ra những lập luận cho thấy những phê bình ấy đã không được dựa trên những hiểu biết mang tính xã hội và lịch sử về cách dùng từ ngữ, cũng như người viết đã không ý thức rõ hoặc không quan tâm đủ về cách dùng dấu câu, một điều căn bản trong viết lách. Dù sao, trước khi trình bày những điều vừa nói, tôi muốn bày tỏ một tình cảm đáng tiếc là Trần Thiện Đạo đã không gởi đăng bài viết của mình trên Da Màu, nơi phát xuất cuộc thảo luận và có sự theo dõi của mọi người từ ban đầu về những vấn đề được chia sẻ, bàn thảo. Việc Trần Thiện Đạo viết một bài riêng trên một diễn đàn khác để bình luận mà không dẫn một link nào trên Da Màu, một tạp chí trên mạng internet (cho dù bài viết của ông có ghi ngày tháng mà những vấn đề đã được đặt ra và thảo luận trên Da Màu), trong thời đại điện tử này, khiến cho bài viết của tác giả mất đi nhiều cơ sở thuyết phục, vì người đọc không được cung cấp những nguồn cần thiết để đối chiếu về các mặt lý luận, lập luận của tác giả các ý kiến hay bài viết liên hệ. Đối với bài viết của Trần Thiện Đạo, trong đó những đường dây lý luận còn rất lỏng lẻo và mù mờ, cộng với việc trình bày vấn đề còn thiếu sự rõ ràng, việc nối kết nó với các ý kiến và bài viết chủ lại càng trở nên rất cần thiết. Và đó cũng là một cách làm việc đúng đắn.

Dĩ nhiên tác giả Trần Thiện Đạo có thể chọn đăng bài viết của mình trên bất cứ một diễn đàn nào, vào bất cứ thời điểm nào. Đó là quyền của tác giả. Nhưng nếu tác giả đã theo dõi những đóng góp, chia sẻ trong cuộc thảo luận ấy, tôi nghĩ nếu ông có ý kiến về vấn đề được thảo luận, việc hay nhất là ông thẳng thắn góp ý, đưa ra quan điểm của mình trên Da Màu, ngay khi vấn đề còn đang được mọi người theo dõi. Như thế, tất cả những ai quan tâm đều có cơ hội hiểu biết rõ về quan điểm của ông, đồng thời, cũng có cơ hội để liên hệ với các ý kiến và các bài chủ, hầu có được nhận xét riêng của mình đối với các luận điểm. Ngoài ra, nếu người đọc muốn phản hồi ý kiến, quan điểm của ông, họ cũng có cơ hội thuận tiện để làm việc đó. Khi Trần Thiện Đạo để bốn, năm tháng sau mới đưa ra quan điểm của mình, lại cho đăng tải nó trên một tạp chí in-trên-giấy (2), những độc giả đọc bài viết của ông sẽ không có được những cơ hội thuận tiện mà tôi đã vừa trình bày.

Thật sự, sự chọn lựa nào cũng thể hiện nơi nó một phong cách, một thái độ, hoặc một lối ứng xử đặc thù, xét từ một giác độ nào đó.

Nhận thấy những ý kiến và nhận định của tác giả Trần Thiện Đạo qua phần trình bày trên [và, đặc biệt, những ý kiến của ông mà tôi nhắc đến trong chú thích (1)] không chỉ là những vấn đề liên quan đến cuộc thảo luận trên Da Màu (cùng với sự đóng góp của các độc giả, dịch giả của diễn đàn Da Màu), mà nó còn liên hệ đến những vấn đề khác gắn bó với việc viết và dịch, nói chung, như chuyện chữ nghĩa, câu cú, một vài khía cạnh và thao tác trong dịch thuật, cũng như đến phong cách tác giả, phong cách phê bình, v.v…, tôi viết bài này như một sự đóng góp một vài điều về những vấn đề ấy.

* Mt Cuc Tho Lun Vô Tích S?

Bây giờ, tôi xin phép trình bày kỹ hơn về quan điểm của Trần Thiện Đạo về việc dịch từ “trái phá” và quan điểm bất đồng của ông về ý nghĩa của câu hát Tình yêu như trái phá con tim mù loà mà chúng tôi đã có dịp thảo luận và (tạm thời) thống nhất trên Da Màu.

Thứ nhất, nói về từ “trái phá”.

Ông cho rằng “trái phá trong câu ca từ chỉ là hình ảnh cụ thể phác hoạ một í niệm chớ không một vật thể đặt định nào. Trái phá ở đây dịch là artillery shell, hay grenade, hay smoke grenade, hay exploding shell, hay một từ khác chỉ định bom đạn thì cũng có í nghĩa tượng trưng ngang nhau.” Ông nghĩ là để giúp cho người Âu Mỹ “tiếp thu một cách thấm thía hơn” ý nghĩa của từ trái phá trong bài hát thượng dẫn của Trịnh Công Sơn, người ta có thể “sử dụng í niệm coup de foudre của Pháp, hoặc love at first sight (…) của Anh và Mỹ—cả hai đều hàm nghĩa sét đánh (…)”.

Ông nghĩ rằng việc thảo luận của các độc giả Da Màu để tìm cách dịch từ trái phá là một sự thảo luận “vô tích sự” như tôi đã có dịp nhắc đến ở một đoạn trên.

Mặc dù không đóng góp ý kiến trong sự thảo luận này, tôi không cho sự thảo luận đó là “vô tích sự”. Đối với một người viết văn hay một người làm việc phiên dịch—nói chung là đối với một người có sự quan tâm đến chữ nghĩa—, không một suy nghĩ, một quan tâm hay một thảo luận nào liên quan đến ngôn ngữ là “vô tích sự” cả. Vì điều đó có thể sẽ mở ra cho chúng ta những cánh cửa, những chân trời, những hiểu biết mới. Chữ, chúng không chỉ là những cái vỏ ngôn ngữ. Chúng còn mang chứa trong mình hồn cốt của một tập thể người, của một dân tộc. Chúng mang một nội hàm văn hoá mà bất cứ ai có sự quan tâm đều có thể bóc tách để nhận diện. Học và hiểu một từ ngữ, một ngôn ngữ, là đụng chạm và đi vào khám phá cái hồn cốt ấy.

Tôi nghĩ, khi dùng từ trái phá trong bài hát của mình, một bài hát xuất hiện trong bối cảnh chiến tranh Việt Nam—với khói lửa, đạn bom và xác người, với tang tóc, đau thương và nước mắt—Trịnh Công Sơn đã, một cách sáng tạo mang tính thấu thị, tìm được một ẩn dụ thật đắt giá. Trái phá, ở đây, không chỉ mang nghĩa thuần tuý là coup de foudre hoặc love at first sight. Những cụm từ này trong tiếng Pháp và tiếng Anh đã được sử dụng quá nhiều và từ quá lâu rồi, khiến chúng trở nên bị cliché-hoá, bị bào mòn, cho dù ban đầu chúng đã là những từ ngữ được sáng tạo một cách rất thần tình. Còn từ trái phá thì rất mới. Nó có nhiều tầng nghĩa. Hình ảnh sét đánh của tình yêu chỉ là một nghĩa, nghĩa nằm trên bề mặt của hình tượng.

Ngôn ngữ nói chung phản ánh xã hội, phản ánh thời đại. Ngôn ngữ nghệ thuật lại càng cho thấy rõ điều đó. Hãy nghĩ về ngôn ngữ của Nng Chiu, của Git Mưa Thu, của Con Thuyn Không Bến, và so sánh chúng với ngôn ngữ của Rng Lá Thp, của 24 Gi Phép, của Mt Trăm Phn Trăm, của "Ng đi em / Ha pháo bùng lên trong đêm / Là lúc mình thương nhau thêm…", hay của những bài hát trong “Ca Khúc Da Vàng” hoặc “Kinh Việt Nam” của Trịnh Công Sơn mà xem. Chúng phả ra những hơi thở khác nhau. Và chúng đồng vọng nhịp đập của trái tim cuộc đời, trái tim con người trong những khung cảnh sống khác biệt.

Ẩn dụ trái phá mang trong chính nó cái tinh thần, cái hơi thở của thời đại. Gần như một thứ Zeitgeist (The Spirit of Time), nó phản ánh trái tim và tâm hồn của thời đại, của con người. Nó khiến cho Tình Su không còn là một bản tình ca trong thanh bình. Đôi tình nhân trong bài hát không đi tìm hoặc không có được một thứ “separate peace” như hai nhân vật chính trong A Farewell to Arms của Hemingway, hoặc như nhân vật Gene Forrester của John Knowles trong đoạn cuối của A Separate Peace. Họ không có được một s thanh bình riêng bit nào cả. Họ yêu nhau trong thời lửa khói, và trái phá có một vai trò cụ thể trong bối cảnh chiến tranh đó. Đó là một thứ "tình yêu như ni chết", như t sáng con tim tt nguyn". Trịnh Công Sơn đã nhìn thấu được vào bản chất của một thứ tình yêu kề cận tử sinh. Tình yêu đó mong manh. Nó có thể bục nổ như trái phá giữa một trời đạn bom tan tác. Nó không phải là một thứ coup de foudre hoặc love at first sight mang tính cạn cợt và khá tầm thường mà ta có thể bắt gặp dễ dàng trong những câu truyện bất kỳ nào về tình yêu. Một ánh lửa trong cái nội hàm phức tạp của thứ tình yêu thời chiến đó được đánh lên, làm bật cháy qua hình ảnh trái phá, một hình ảnh vừa mang tính ẩn dụ vừa ôm giữ trong nó cái màu sắc khói lửa đầy tính cụ thể của cuộc chiến. Tìm cách để dịch từ này, với cái nội hàm phong phú của nó, với tính lịch sử và xã hội của nó, sang một ngôn ngữ khác, như thế, là điều cần thiết và nên làm.

Nỗ lực của dịch giả Đinh Từ Bích Thuý và cuộc thảo luận trên Da Màu về cách chuyển dịch từ trái phá sang Anh ngữ không phải là một điều “vô tích sự”.

* V Ý Nghĩa ca Mt Li Ca

Về cách hiểu và dịch những lời hát đầu tiên của Tình Su, Trần Thiện Đạo cho rằng “[t]rong câu Tình yêu như trái phá con tim mù loà của Trịnh Công Sơn, có thể xem, theo cách diễn đạt của người phương Đông, trái phá ở đây chỉ là hình ảnh cụ thể biểu lộ khái niệm phác hoạ sự thể vừa inh tai vừa tác động mạnh chẳng ai cưỡng nổi và, trong trường hợp này, khiến cho con tim bị mù loà về thể chất lẫn tình cảm.” [Tôi (BVP) tự hỏi : “Con tim bị mù loà về thể chất” là như thế nào?] Trần Thiện Đạo cho rằng “[t]rái với cách diễn dịch của Thái Kim Lan và của Bùi Vĩnh Phúc (…), hai vế câu ca từ có quan hệ mật thiết với nhau chớ không tách rời nhau.”

Tôi xin để chị Thái Kim Lan, nếu thấy cần thiết, trả lời cho nhận định trên của Trần Thiện Đạo. Về phần mình, tôi xin phép trả lời thế này: Nếu Trần Thiện Đạo đọc kỹ bài góp ý của tôi, ông sẽ thấy tôi không hề coi hai vế của đoạn ca từ trên là tách rời khỏi nhau. Tôi coi chúng là hai vế/hai mệnh đề độc lập có quan hệ mật thiết, một quan hệ mà tôi đã trình bày rõ là thuộc dạng contrast/concession (đối chọi/nhượng bộ). Cái gạch chéo để ở giữa hai vế mà tôi đề nghị người đọc, người nghe tạm hình dung trong đầu chính là để cho thấy đoạn ca từ ấy bao gồm hai vế. Hai vế này liên hệ mật thiết với nhau qua một quan hệ mang tính đối chọi: Tình yêu (thì) như trái phá, (mà) con tim (thì) mù loà. Chính vì vậy mà xảy ra “bi kịch”. Một đàng thì mãnh liệt, cháy bỏng, thậm chí có lúc mang tính phá huỷ; còn một đàng thì thiết tha, sôi nổi, nhiều lúc mang nét mù quáng, lầm lẫn. Chính vì thế, tình yêu và con tim, tuy liên hệ mật thiết, gắn bó với nhau, nhưng có những lúc lại là hai “thực thể” đối chọi, đâm và cuốn vào nhau (mà những kẻ sở hữu chúng có những lúc không cưỡng lại được), khiến tạo nên khổ đau và nước mắt.

Khi thưởng thức một bài hát, người ta sẽ không thấy bất kỳ dấu chấm câu nào cả. Khi ghi lời ca trên khuông nhạc, thường người ta cũng không dùng dấu chấm câu trong mỗi đoạn nhạc. Chỉ khi ghi phần lời ca được tách riêng ra, người ghi chép mới làm công việc bỏ dấu chấm câu vào bài hát. Và thường là theo nhận định riêng của mình. Cũng thế, họ có thể tách các đoạn khúc của ca từ ra và cho xuống dòng, thay cho việc đánh dấu câu. Đó là hai cách làm khác nhau của hai tài liệu mà Trần Thiện Đạo đã viện dẫn. Cuốn Mt Cõi Trnh Công Sơn (2002) của Nguyễn Trọng Tạo, Nguyễn Thuỵ Kha và Đoàn Tử Huyến in là:

Tình yêu như trái phá, con tim mù loà

(dùng dấu phẩy giữa hai vế và viết hai vế trên cùng một dòng)

Và cuốn Trnh Công Sơn, vết chân dã tràng (2008) của Ban Mai thì ghi:

Tình yêu như trái phá
Con tim mù loà

(tách dòng giữa hai vế; cũng viết hoa chữ đầu dòng dưới)

Trong cái nhìn của tôi, cả hai cách ghi ca từ của bài Tình Su này của hai cuốn sách, ở một mức độ nào đó, đều xuất phát từ quan điểm (hay trực giác) về mạch câu và ý nghĩa của đoạn ca từ thượng dẫn. Và quan điểm (hay trực giác) đó, cũng trong nhận xét của tôi, là hợp lý. Theo cách trình bày như thế, các soạn giả/tác giả ấy, một cách hữu thức hoặc vô thức, đều cho rằng hai vế của đoạn ca đó không chảy suốt một ý; chúng có sự liên kết mật thiết về mặt ý nghĩa, nhưng sự liên kết đó là để cho thấy tính chất/thiên chất của hai đối tượng (3), đứng tách nhau trong hai vế. Dù sao, như đã nói, những cách ghi ca từ này cũng chỉ là một cách diễn ý, trình bày quan điểm về ý nghĩa lời ca của người làm việc ghi chép lời ca xuống mặt giấy. Có thể, nếu tìm kiếm thật kỹ, trong một cuốn sách của một soạn giả nào đó, trong phần ghi lại ca từ của bài hát này (không phải ghi trên khuông nhạc), người ta lại tìm ra được một lối ghi khác theo dạng:

Tình yêu như trái phá con tim mù loà

(không có dấu phẩy giữa hai vế và viết hai vế trên cùng một dòng)

Như thế, lúc ấy, với cách ghi như trên, ta mới có thể hiểu, ở một mức độ tương đối nào đó, là nó gần gụi với quan điểm của Trần Thiện Đạo.

Dù sao, tất cả những cách ghi ca từ ấy đều không phải là chuyện ta cần bàn ở đây, vì chúng có thể khác nhau (4). Điểm mà dịch giả Đinh Từ Bích Thuý và các độc giả Da Màu (trong đó có cả tôi) đã thảo luận là ta nên hiểu ý nghĩa đoạn ca từ đó như thế nào. Đối với cuộc thảo luận trên Da Màu, các ý kiến chia sẻ và góp ý khởi đầu từ bản dịch Anh ngữ rất đẹp của Đinh Từ Bích Thuý. Trong bản dịch đó, đoạn ca từ mà chúng ta đang thảo luận là điểm then chốt. Ngoài ý nghĩa của từ “trái phá” như đã nói, phần nhận xét về ý nghĩa của cả đoạn ca từ là do chị Thái Kim Lan và tôi đặt ra. Chị Thái Kim Lan cho rằng đó là hai câu riêng biệt, phải tách ra bằng dấu chấm (nhưng dĩ nhiên là, hiểu một cách nào đó, ý tứ của chúng vẫn có sự gắn bó với nhau). Không nên hiểu lời ca đó thành Love as an artillery shell that blinds the heart. Còn hầu như toàn bộ bài viết của tôi là để trình bày rằng, mặc dù có sự liên hệ mật thiết về mặt ý nghĩa, ta nên hiểu là giữa hai vế đó có một đường gạch chéo (tưởng tượng), tách chúng ra—và không thể có một đường nối về mặt ngữ pháp, với vai trò của một đại từ quan hệ (relative pronoun), để kết hợp chúng. Tôi đã trình bày, lập luận và dẫn chứng để đề nghị sự tách biệt đó, và điều quan trọng trong lập luận ấy là dấu gạch chéo (tưởng tượng) đó có thể được thay thế một cách cụ thể bằng một dấu phẩy, một dấu chấm phẩy, hay, thậm chí, một dấu chấm. Một trong những dấu câu đó, khi được dùng trong câu hát này, vẫn không tách biệt hẳn ý nghĩa mật thiết của hai vế. (5) Nó chỉ cho thấy rằng hai vế này quan hệ với nhau theo một ý nghĩa khác.

Trần Thiện Đạo, có lẽ không nhìn thấy thiện chí và nỗ lực của tôi trong việc trình bày, lý luận và đưa dẫn chứng, nên, sau khi viết rằng ông "không có cái dim phưc đưc đc nhiu biết rng qua các tác phm t c chí kim" như người viết bài này, đã trích dẫn hai cách ghi ca từ trong hai cuốn sách mà tôi đã trình bày ở trên (một có dấu phẩy giữa hai vế; một dùng cách xuống hàng, cũng là một cách để tách hai vế ra), rồi (ngầm ý) cho rằng cách ghi như thế là gần gũi với cách suy luận của ông, nghĩa là giữa hai vế không h có một gạch chéo (tưởng tượng) phân cách chúng (theo như sự lập luận của tôi), và hai vế gắn bó vào nhau và chạy suốt ý. Tức là, ông cho rằng, tình yêu (mãnh liệt) như tiếng sét đánh khiến cho, để lặp lại nguyên văn của ông, “con tim bị mù loà về thể chất lẫn tình cảm.” (!) (6). Cách lập luận của ông khiến người đọc là tôi phải suy nghĩ là không biết ông có quan tâm thật sự về ý nghĩa của câu hát trong bài góp ý/phê bình của mình hay không. Và, hơn nữa, không biết ông có ý thức về khía cạnh ngữ pháp của dấu câu không.

* Mt Chút Ng Pháp

Nói đến sự quan tâm của Trần Thiện Đạo về khía cạnh ngữ pháp liên hệ đến dấu câu, tôi xin mạn phép tạm trích một câu trong bài Tình Yêu Như Trái Phá của ông để ta cùng tìm hiểu. Đó là câu đầu tiên của bài viết:

“Trên tạp chí mạng Da Màu ngày 02.04.2010, có đăng bài ca từ Tình su của nhạc sĩ kiêm thi sĩ Trịnh Công Sơn và bản dịch tiếng Anh Meditations in love của Đinh Từ Bích Thuý.”

Thứ nhất, nguyên cụm “Trên tạp chí mạng Da Màu ngày 02.04.2010”, xét về mặt cấu trúc, là một giới ngữ (prepositional phrase), với giới từ “Trên” dẫn đầu cả cụm; xét về mặt nhiệm vụ, nó là một trạng ngữ (adverbial phrase) chỉ vị trí, nơi chốn. Có thể nói, đây là một giới ngữ được dùng như một trạng từ/trạng ngữ (cho dù một giới ngữ có thể được dùng trong nhiều vai trò khác nhau). Sau trạng ngữ chỉ vị trí này, thường phải có một cụm Chủ-Vị (tức là phải có một chủ từ và một động từ). Câu trên không hề có chủ từ. Chỉ cần bỏ giới từ “Trên” và bỏ dấu phẩy sau “2010”, câu này sẽ trở thành một câu đúng:

“Tạp chí mạng Da Màu ngày 02.04.2010 có đăng bài ca từ Tình su của nhạc sĩ kiêm thi sĩ Trịnh Công Sơn và bản dịch tiếng Anh Meditations in love của Đinh Từ Bích Thuý.”

Hoặc là bỏ giới từ “Trên” và vẫn giữ dấu phẩy đó, nhưng phải thêm một dấu phẩy khác nữa sau “Da Màu”, và, như thế, câu viết trở thành:

“Tạp chí mạng Da Màu, ngày 02.04.2010, có đăng bài ca từ Tình su của nhạc sĩ kiêm thi sĩ Trịnh Công Sơn và bản dịch tiếng Anh Meditations in love của Đinh Từ Bích Thuý.”

Tác giả của câu viết này có thể nói, “có” trong tiếng Pháp là “il y a”, trong tiếng Anh là “there is / there are”; bởi thế, trong “có” vẫn ngầm có chủ từ sous-entendu. Thật ra, đúng là trong tiếng Pháp và tiếng Anh có thể viết như thế—nghĩa là sau một trạng ngữ, có thể dùng “il y a” hoặc “there is / there are”, và giữa trạng ngữ đi trước và mệnh đề chính theo sau thường phải có dấu phẩy. Nhưng đó là trong tiếng Pháp và tiếng Anh, và, ngay cả khi ấy, chủ từ đó vẫn là một chủ từ giả (sujet apparent chứ không phải sujet réel). Ở đây, chúng ta đang bàn về một câu tiếng Vit, với những đặc thù của Việt ngữ. Và điều quan trọng là “có đăng”, về mặt ngữ pháp, không giống như “có”.

Người ta có thể nghĩ: Sở dĩ câu của tác giả Trần Thiện Đạo chưa đúng là vì có thể ông đã không để ý đủ khi diễn nó ra trong cấu trúc của tiếng Việt, hoặc là vì ông đã quá nhập tâm với văn pháp của tiếng Pháp và tiếng Anh. Thật sự chúng ta không nên suy đoán. Chỉ thấy rõ là câu viết có vấn đề. Ngoài ra, động từ “có” cũng là một động từ dễ gây phiền phức. Có khi nó là một trợ động từ, có khi nó là một động từ chính, và ý nghĩa của nó cũng thay đổi trong những văn cảnh khác nhau (7). “Có” trong “có đăng” là một trợ động từ chứ không phải là một động từ chính. Câu viết của Trần Thiện Đạo, về mặt cú pháp, trên đại thể, có thể so sánh với một câu như, "Trong thông báo ca Ban Chp Hành sinh viên đi hc XXX ph biến ngày 24.05.2009, có nhc đến vic hc phí đi hc tăng quá cao." Đó là một câu thiếu chủ từ. Người ta chỉ cần bỏ đi giới từ "Trong" ở đầu câu và thêm một dấu phẩy nữa trước từ "phổ biến", câu văn sẽ đúng cách và không còn trong tình trạng bất thường nữa: " Thông báo ca Ban Chp Hành sinh viên đi hc XXX, ph biến ngày 24.05.2009, có nhc đến vic hc phí đi hc tăng quá cao."

Hãy trở lại với cách dùng dấu câu, đặc biệt dấu phẩy, của tác giả Trần Thiện Đạo. Ở bài ""Tín – đạt – nhã" – chuyện cũ mà chưa cũ", đăng trên tạp chí mạng Chúng Ta  ngày 07/07/2005, phát biểu ý kiến về vấn đề dịch thuật cùng với một số vị khác, Trần Thiện Đạo viết: (8)

“Nhã là nếu trong tác phẩm, có những câu hết sức lủng củng, thì tôi dịch cũng lủng củng.”

Lại một dấu phẩy trước động từ “có”. Câu viết lại bị vướng vào thành phần trạng ngữ rắc rối đặt ở phần đầu câu, “trong tác phẩm” (đó là chưa kể trước đó lại còn một từ “nếu”, vốn thường đứng ở đầu một mệnh đề chỉ điều kiện). Vì cấu trúc của câu chỉ có hai dấu phẩy như thế, không kể dấu chấm ở cuối câu, nên, khi đọc, người ta sẽ bị dẫn vào cái thế dễ phải hiu nhm là cụm từ nằm giữa hai dấu phẩy, "có những câu hết sức lủng củng", chỉ là một thành phần chen kẽ, mang tính bổ ngữ. Và, như thế, người ta có thể bỏ nó ra ngoài mà câu văn vẫn không hề hấn gì. (Chẳng hạn đối với một câu như, "Chàng trai đáng yêu y, có nưc da ngăm đen và mt thân th cưng tráng, là mu hình lý tưng đ bn tôi noi theo." (9) Khi bỏ cụm từ ở giữa hai dấu phẩy, "có nưc da ngăm đen và mt thân th cưng tráng ", vốn chỉ mang vai trò là một bổ ngữ, và dĩ nhiên cũng bỏ hai dấu phẩy trước và sau cụm đó đi luôn, câu văn vẫn không hề hấn gì. Mệnh đề chính còn lại là "Chàng trai đáng yêu y là mu hình lý tưng đ bn tôi noi theo." ) Dù sao, đối với câu của Trần Thiện Đạo, khi bỏ thành phần nằm giữa hai dấu phẩy đi như vậy, cái mà người ta còn lại là “Nhã là nếu trong tác phm thì tôi dch cũng lng cng.” Câu văn trở nên vô nghĩa. Chính vì thế, nó có vấn đề.

Vấn đề là động từ "có" không có chủ từ. Nếu ta bỏ giới từ "trong" đi và cũng bỏ dấu phẩy sau "có", " từ "tác phẩm" sẽ trở nên chủ từ của động từ "có". Và như thế, câu viết sẽ trở thành:

“Nhã là nếu tác phẩm có những câu hết sức lủng củng, tôi cũng dịch (chúng) lủng củng (như thế).”

Nếu muốn giữ lại giới từ "trong", người ta có thể viết:

“Nhã là nếu trong tác phẩm, tác giả có viết những câu hết sức lủng củng, tôi cũng sẽ dịch (chúng) lủng củng (như thế).”

Còn nếu muốn gọn hơn, người ta chỉ cần thêm một dấu phẩy sau chữ "nếu" và bỏ động từ "thì" không cần thiết (đã có dấu phẩy sau từ "lủng củng" rồi thì ta không nhất thiết cần "thì" nữa), cũng như viết lại một chút và thay đổi trật tự từ ở cuối câu văn:

“Nhã là nếu, trong tác phẩm, có những câu hết sức lủng củng, tôi cũng sẽ dịch lủng củng.”

Câu trên vẫn là một câu phức-hợp (a compound-complex sentence) như những câu trước, nhưng không thêm thắt gì; bởi thế, dấu phẩy sau chữ "nếu" trở nên rất quan trọng, vì nó cô lập trạng ngữ "trong tác phm" để ta có thể nhìn thấy rõ các thành phần chính của câu hơn. Luật ngữ pháp về dấu câu buộc ta phải dùng cả hai dấu phẩy, trước và sau trạng ngữ, trong văn cảnh này, khi trạng ngữ đó được đặt chen vào giữa thành phần chính của câu. Hoặc ta phải bỏ luôn dấu phẩy trước chữ "có" đi, để câu văn chỉ còn một dấu phẩy sau từ "lủng củng", và một dấu chấm cuối câu:

“Nhã là nếu trong tác phẩm có những câu hết sức lủng củng, tôi cũng sẽ dịch lủng củng.”

Thử nhiều cách như vậy để ta có thể thấy tầm quan trọng của dấu câu.

Khi ta nói, hiếm ai có thể thấy rõ được những dấu câu đó. Nhưng khi ta viết, mọi thứ đều hiện ra trên văn bản. Bởi thế, có lẽ chúng ta cũng nên cẩn thận hơn.

Câu văn đầu tiên của Trần Thiện Đạo trong bài Tình Yêu Như Trái Phá lại có cụm “bài ca từ”. Thiết nghĩ âm nhạc nói chung, và một bài ca/bài hát nói riêng, gồm có hai phần: phần giai điệu và phần lời ca (còn được gọi là “ca từ”). Có lẽ nên nói là “ca từ của bài Tình Su” hơn là nói “bài ca từ Tình Su”, vì ý nghĩa của “bài ca từ” không được sáng rõ. Nó có thể tạo sự lẫn lộn trong suy nghĩ.

Tác giả lại còn thiếu cẩn trọng khi chép lại sai tựa đề bài hát được dịch sang tiếng Anh của Đinh Từ Bích Thuý. Nó là Meditations on Love, chứ không phải là Meditations in Love. “On” và “in” không thể đổi chỗ cho nhau được. Đại khái nó là Trm Tư/Trm Tưng về Tình Yêu, chứ không phải Trm Tư/Trm Tưng trong Tình Yêu. Ngay cả khi nói về thời gian, on timein time trong tiếng Anh cũng đã rất khác nhau rồi!

Trong bài, tác giả lại còn viết sai tên của dịch giả Đinh Từ Bích Thuý thành Đinh Thị Bích Thuý ở mấy chỗ. Nếu cẩn trọng đủ, ta không thể để điều đó xảy ra.

Ngôn ngữ tạo ra thế giới. Tôi thích câu nói của Heidegger, rất hàm súc, ngôn ng là căn nhà ca hu th. Hiện thực của mỗi người là do cách nhìn sự vật của chính người ấy. Cách nhìn đó, phần lớn hoặc xét cho cùng, chính là do ngôn ngữ tạo nên. Cách bố câu, hành từ, cách dùng dấu câu của một người chính là cách hắn bày bố cái thế giới của mình. Cái thế giới bên ngoài và cả cái thế giới bên trong của hắn. Cách bày bố ấy cho phép hắn hiểu về thế giới và những hiện thực trong đó.

* Dch Thut và Vn Đ Din Đt Đông/Tây

Trần Thiện Đạo, trong bài Tình Yêu Như Trái Phá, cho rằng những người tham dự vào cuộc thảo luận trên Da Màu chắc đã không nghĩ gì đến cách diễn đạt khác nhau giữa phương Đông và phương Tây. Thế nên cuộc thảo luận ấy đưa đến những kết quả không hay, không thoả đáng. Và đó là một việc làm vô ích, vô tích sự. Tôi đã trình bầy về cách nhìn không hợp lý của ông. Bây giờ, tôi xin mạn phép nói một chút về vấn đề “Diễn Đạt Đông/Tây”.

Trong bài "Về Nền Văn Nghệ Dấn Thân và Tiểu Thuyết Mới", dịch và giới thiệu một số ý kiến của Simone de Beauvoir trong tập hồi ký La Force des Choses, được in lại trong cuốn Ch Nghĩa Hin Sinh & Thuyết Cu Trúc (Trần Thiện Đạo, nhà xuất bản Văn Học, Hà Nội 2001), Trần Thiện Đạo có dịch một câu:

“(…) tôi nghĩ rằng chính bằng cách nếm trải một kinh nghiệm nào vào trong tưởng tượng người ta mới vạch ra được một cách rõ ràng nhất ý nghĩa của nó.”

Cũng ở quyển ấy, trong bài "Về Cấu Kết Tập Hồi Ký La Force des Choses", dịch bài phỏng vấn Simone de Beauvoir (không thấy ghi ai hay báo nào phỏng vấn, và vào ngày nào), ông có một câu dịch như sau:

"(…) Tôi không thể ân hận việc mình không có con trong chừng mực nào ý nguyện của tôi là viết văn."

Tôi xin phép không trình bày thêm ở đây nhiều về các lý thuyết dịch văn học, dịch văn hóa, được một số lý thuyết gia nổi tiếng trên thế giới trong lĩnh vực này phát biểu, và đã được chuyển dịch công phu bởi một số dịch giả người Việt. Ở đây, tôi chỉ muốn ghi thêm một phát biểu của Eugene Nida về lý thuyết dịch. Ông cho rằng "ngưi dch phi vưt khi bn thân văn bn đ làm công vic hy to bình din ni-văn bn và gii mã trên bình din tham chiếu—thm đnh các nét văn hóa mang tính đc trưng, thành ng và ngôn ng mang tính bóng by, hình tưng đ đt đưc s hiu biết v văn bn ngun và sáng to mt bn dch không nhng chuyn ti đưc ý nghĩa ca t ng trong mt ng cnh đưc xác đnh, mà còn tái lp đưc nh hưng ca văn bn ngun trong nhng gii hn vn có nơi t thân h thng ngôn ng ca chính ngưi dch." (10)

Về hai câu dịch trên của Trần Thiện Đạo, không nhất thiết phải có bản chính, tôi cũng có thể tin rằng dịch giả đã dịch đúng ý tưng của tác giả. Tuy nhiên, nếu ng đích (target language) và ng ngun (source language), ở một khía cạnh nào đó, bị "vênh" nhau, tôi nghĩ người dịch nên uyển chuyển để câu văn dịch mang hơi hướm của ngữ đích hơn, giúp cho người đọc trong ngôn ngữ đó hiểu rõ bản dịch cũng như cảm nhận được ý nghĩa chuyển tải một cách tự nhiên. Dĩ nhiên, nếu phong cách của tác giả là cố tình "lủng củng" để tạo một hiệu ứng văn chương nào đó, thì điều ấy lại là một chuyện khác. Lúc đó, người dịch có sự nhậy cảm về mặt phong cách tác giả phải nắm bắt được điều ấy và tạo ra một bản dịch phản ánh được cái phong cách đặc thù đó.

Tôi không nghĩ đây là trường hợp của Simone de Beauvoir. Trong câu đầu, bà de Beauvoir nói về vai trò của tưởng tượng trong sáng tác. Và, qua tâm lý học, ta biết rằng tưởng tượng là một khả năng của tâm trí trong việc kinh nghiệm, kiến tạo hoặc "tung hứng" các hình ảnh trong tâm trí. Nó tạo ra một thứ kinh nghiệm giống như là một kinh nghiệm được cảm nhận thật sự (quasi-perceptual experience). Bởi thế, nó rất cần cho việc sáng tạo. Trong đoạn văn "(…) chính bng cách nếm tri mt kinh nghim nào vào trong tưng tưng ngưi ta mi vch ra đưc …", cụm động từ "nếm tri (cái gì) vào trong (cái gì)" không tự nhiên, nếu không nói là rất lủng củng, trong tiếng Việt. Có nên dùng "vào trong" ở đây hay không? (11) Ngoài ra, chữ "nào" sau từ "kinh nghiệm", trong ngữ cảnh này, có thực sự là cần thiết? Hay nó lại làm cho câu văn trúc trắc hơn? Nếu dịch giả viết lại, chẳng hạn như:

"(…) tôi nghĩ rằng chính bằng cách nếm trải một kinh nghiệm (nào đó) trong/qua sự tưởng tượng, người ta mới vạch ra được một cách rõ ràng nhất ý nghĩa của nó."

có thể câu văn sẽ tự nhiên và dễ hiểu hơn, mà nó vẫn không xa cách với câu cú và ý nghĩa trong nguyên bản.

Câu sau: "(…) Tôi không th ân hn vic mình không có con trong chng mc nào ý nguyn ca tôi là viết văn." Nếu Simone de Beauvoir đã dùng thành ngữ "dans la mesure où" (tiếng Anh "insofar as") cho cụm "trong chừng mực nào" của Trần Thiện Đạo, tôi nghĩ, trong ngữ cảnh này, ta cũng không nhất thiết phải dịch nó như cách ông đã làm. Bởi vì cách diễn đạt đó không mang nét Việt Nam ở đây. Nó Tây phương quá! Đối với câu này, nếu ta tạm dịch nó thành:

" (…) Tôi không thể ân hận việc mình không có con trong hoàn cảnh tôi chọn việc viết văn."

hoặc:

" (…) Tôi không thể ân hận việc mình không có con khi mong muốn/ý nguyện của tôi là viết văn."

thì có lẽ câu văn sẽ dễ hiểu hơn nhiều.

Ngoài ra, hai chữ "chừng" và "nào" (trong cụm "trong chừng mực nào") có thể được đưa vào để kết hợp trong cụm "chừng nào mà… vẫn". Câu văn, như thế, sẽ xuôi hơn:

" (…) Tôi không thể ân hận việc mình không có con chng nào mà ý nguyện của tôi vn là viết văn."

Cách diễn đạt giữa Đông và Tây, như Trần Thiện Đạo nhắc, dĩ nhiên là khác nhau. Và, để lặp lại, theo ý kiến của Nida, học giả lỗi lạc về lý thuyết dịch mà ta đã nhắc đến ở trên, "ngưi dch phi vưt khi bn thân văn bn đ làm công vic hy to bình din ni-văn bn và gii mã trên bình din tham chiếu ", tôi tin rằng vấn đề dịch, nói chung, và dịch văn học, nói riêng—và, nói rộng ra, vấn đề viết—là một công việc rất phức tạp và công phu. Trong bất cứ hệ hình tư duy nào. Tất cả những ai đã từng viết hay dịch, tôi nghĩ, đều có thể chia sẻ nhận xét ấy. Và tất cả những đóng góp, phân tích của tôi trong bài viết (có thể có đôi phần phù phiếm) này, về cách dịch và hiểu một lời ca của Trịnh Công Sơn đến cách hiểu và cảm một vài câu văn viết và dịch của một tác giả, đều đã được phát xuất từ thiện chí trao đổi thẳng thắn để xây dựng một nền văn học lành mạnh và xứng đáng.

Trước khi chấm dứt bài này, tôi muốn ghi lại đây một đoạn văn dịch mà, ở nhiều khía cạnh, tôi lấy làm thích thú, khi so sánh nó qua các bản dịch khác nhau—tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt (ba bản), và cả bản dịch bằng máy trên Google nữa. Đó là câu văn cuối của tác phẩm Yukiguni của Yasunari Kawabata (được dịch là X Tuyết trong hai bản Việt dịch của Chu Việt và Ngô Văn Phú & Vũ Đình Bình). (12)

Bản tiếng Anh, của E. G. Seidensticker, dịch từ năm 1956:

"As he caught his footing, his head fell back, and the Milky Way flowed down inside him with a roar."

(Snow Country – Yasunari Kawabata. Bản dịch của Edward G. Seidensticker từ bản Nhật ngữ, A Wideview/Perigee Book, 1981)

Bản tiếng Pháp:

"Il fit un pas pour se reprendre, et, à l’instant qu’il se penchait en arrière, la Voie lactée, dans une sorte de rugissement formidable, se coula en lui."

(Pays de Neige – Yasunari Kawabata. Bản dịch của Bunkichi Fujimori & Armel Guerne từ bản Nhật ngữ, Editions Albin Michel, 1960)

Bản tiếng Việt của Chu Việt:

“Chàng tiến lên một bước để đứng cho vững và trong khoảnh khắc ngả đầu về phía sau, dải Ngân Hà chảy tuột vào người chàng trong một tiếng gầm thét dữ dội.”

(X Tuyết – Yasunari Kawabata. Dịch từ bản Pháp ngữ của những dịch giả nêu trên, có tham khảo bản Anh ngữ của Edward G. Seidensticker, NXB Trình Bày, 1969)

Bản tiếng Việt của Giang Hà Vỵ:

“Chàng tiến lên một bước để đứng cho vững và trong khoảnh khắc ngả đầu về phía sau, dải Ngân Hà chảy tuột vào người chàng trong một tiếng gầm thét dữ dội.”

(Vùng băng tuyết – Yasunari Kawabata. Dịch từ bản Pháp ngữ của những dịch giả nêu trên, có tham khảo bản Nga ngữ (Xnecjnaya Xthana), NXB Mũi Cà Mau, 1988)

(Mặc dù câu cuối của tác phẩm được dịch giả chuyển giống như trong bản dịch của Chu Việt, đây là một bản dịch khác so với bản của Chu Việt.)

Bản tiếng Việt của Ngô Văn Phú & Vũ Đình Bình:

“Anh bước lên để đứng cho vững và khi anh ngã đầu về phía sau, dải Ngân Hà tuôn chảy lên anh trong cái thứ tiếng thét gầm dằn dữ”

(X tuyết – Yasunari Kawabata. Dịch từ bản Pháp ngữ, NXB Hội Nhà Văn, 1995)

Bản dịch tiếng Việt bằng máy của Google, từ bản tiếng Pháp, do người viết bài này tìm trên Net vào ngày 10/10/10:

"Ông lấy một bước đi, và thời điểm cậu bé trở lại, dải Ngân Hà, trong một loại gầm lớn, lại rơi vào nó."

Tôi xin phép tạm nhận xét: Câu trong bản tiếng Anh là một câu dịch khá chân phương và gọn. Có một nét đẹp trong sự chân phương đó. Câu trong bản tiếng Pháp có cú pháp phức tạp và, trong cảm nhận của riêng tôi, công phu và đẹp hơn câu tiếng Anh. Đặc biệt, chữ "lactée", trong "la Voie lactée" của tiếng Pháp, trong mối cảm nhận riêng tư, cho tôi một rung cảm đẹp, kéo tôi về những ngày thơ ấu. Cụm "rugissement formidable", cũng như cách tổ chức ngữ pháp toàn câu với âm điệu đáng yêu của nó, cũng tạo một hiệu ứng thích thú trong tôi về mặt âm học. Câu tiếng Việt của Chu Việt (và, sau đó, là Giang Hà Vỵ) cũng làm tôi rất thích thú, đặc biệt ở chữ "tut" trong cụm "chy tut vào ngưi chàng”. Nó mạnh mẽ, đúng ý và đúng chỗ. Âm điệu cả câu đẹp. Câu của Ngô Văn Phú & Vũ Đình Bình dịch hơi chênh, với cụm "tuôn chy lên anh". Dù sao, cả câu vẫn diễn được ý rất đẹp của bản tiếng Pháp (là bản các dịch giả dựa theo).

Còn câu của Google thì thật đáng… kinh hãi, với ba đại từ nhân xưng khác nhau để chỉ cùng một chủ thể là "Ông", "cu bé", và "nó". Cụm "Il fit un pas pour se reprendre" được dịch thành "Ông lấy một bước đi" (!). Cụm "à l’instant qu’" được dịch là "thi đim". Cụm "il se penchait en arrière" được "dịch" thành "cu bé tr li" (!). Rồi thì "mt loi gm ln""li rơi vào nó" !!!

Dịch, như thế, đúng là không phải chuyện dễ dàng. Nó thập phần công phu. Và người làm công việc này luôn bị những khó khăn và trắc trở "thập diện mai phục". Tôi tin rằng ngay cả những người làm công việc này một cách chuyên môn, sành sõi nhất cũng có thể bị vấp, đôi khi, vì những mai phục bất ngờ trong phong cách khác nhau của bao nhiêu tác giả mà mình tiếp cận. Nói thế không phải để cho chúng ta có quyền lơ là hay cẩu thả trong công việc của mình. Nói thế chỉ để nhắc rằng chúng ta không thể luôn luôn quá tự tin, mà phải luôn tiếp tục nỗ lực để vượt qua những khó khăn mà công việc dịch thuật mang lại. Và, nói thế, cũng là để những người làm công việc này, nhất là những người trẻ, không phải nản lòng vì bao nhiêu khó khăn đặt ra trước mắt. Tất cả chúng ta đều có thể sai, vấp. Vấn đề là ta phải khắc phục những trở ngại đó, và cương quyết tiến lên trong những nỗ lực, riêng và chung, để mỗi ngày càng thực hiện tốt đẹp hơn công việc mà ta đã, vì sinh kế hay vì sự yêu thích riêng, chọn lựa cho mình.

* Mt Li Kết

Dịch thuật, nói riêng, và viết, nói chung, đòi hỏi những nỗ lực thật đáng kể—cả về thể chất lẫn tinh thần—và sự trau dồi liên tục cái khả năng diễn ý trên mặt giấy của những ai xông vào cuộc. Dịch hay viết, trước hết, đều cần phải đọc. Đọc, suy nghĩ, làm những sự đối chiếu, so sánh, thâm nhập vào những tầng bậc khác nhau của văn bản để bắt lấy tư tưởng, ý tứ của người khác. Tức là phải thực hiện những thao tác nghiên cứu nội và ngoại văn bản để bắt lấy cái hồn của một đoạn văn, một tác phẩm, một phong cách, trước khi có thể đặt bút trên giấy (hoặc ngồi trước bàn phím) để viết (hoặc gõ) những con chữ đầu tiên cho bài viết của mình.

Những nỗ lực và công phu ấy, của những người dịch chữ và viết chữ, là những đóng góp đáng quý.

Trần Thiện Đạo là một dịch giả/tác giả đã có những đóng góp trong dòng sinh hoạt văn học nghệ thuật Việt Nam từ những năm trước 1975, đặc biệt trong phạm vi của báo Văn Tân Văn, và, qua sự theo dõi của tôi, đã trở lại văn đàn hải ngoại trong những năm gần đây. Ngoài những bài giới thiệu và bình luận văn học, những đóng góp về mặt dịch thuật của ông, ở một mức độ nào đó, chắc chắn có những giá trị nhất định. Sự trình bày, chia sẻ của tôi qua bài viết này được phát xuất từ thiện chí trao đổi thẳng thắn trên bình diện văn học nghệ thuật. Một nền văn học xứng đáng, có sức sống và có tiềm năng phát triển, ngoài những cố gắng liên tục từ những đóng góp của các thành viên qua những công trình sáng tạo, dịch thuật, và giới thiệu (dù ít ỏi đến mấy) tinh hoa của nó đến những nền văn hoá khác, cũng như giới thiệu được cho cộng đồng mình những thành tựu đẹp đẽ, những trào lưu hay lý thuyết cần phải biết đến của thế giới, nó chỉ có thể phát huy được những tiềm thể, những khả năng của mình nếu nó biết thể hiện chính mình bằng sự tự ý thức. Bằng những tiếng nói chia sẻ, trao đổi ngay thật, thẳng thắn và có trách nhiệm của những thành viên làm nên nó. Những tiếng nói cho thấy sự tôn trọng người khác.

Tôi tin rằng chúng ta vẫn đang trên con đường đi tới.

Bùi Vĩnh Phúc

Tustin Ranch, Calif.
12. X. 2010

_________________________________

Chú Thích:

(1) Nói chuyện Đông và Tây, trong một bài viết khác, tựa đề là Mn Đàm Văn Chương Ch Nghĩa, với hai tiểu đề "Mù Tịt" và "Rằng Hay Thì Thật Là Hay…", trên Hp Lưu số 107, tháng 9&10, 2009, Trần Thiện Đạo cũng đã từng “ưu ái hỏi thăm” tôi (cùng một số tác giả khác như Phạm Xuân Nguyên, Hoàng Ngọc Hiến, Đặng Tiến, Nguyễn Hưng Quốc, Hoàng Ngọc Tuấn, Chân Phương, Khế Iêm, Phan Huy Đường, Nguyễn Vy Khanh, Nguyễn Văn Lục). Trong bài đó, ông đã “hướng dẫn” chúng tôi cách “ứng xử” với các trào lưu, các lý thuyết văn học trên thế giới. Đại khái là ông khuyên chúng tôi không nên "học đòi", "theo đuôi". Ông cho rằng các lý thuyết của Tây phương hay Âu Mỹ đó chẳng là gì, ngoại trừ là "nhng b mã mi m, sơn phết lot lòe, màu mè rc r đ sc thâu hút, thôi miên, mê hoc mt s hc gi hc thit cho phép h đưc dp ta đây ph chí tung hoành (…)", và rằng "cùng vi h mt s văn gia thi gia bng chc nhanh chưn l cng theo đòi ăn mc sao cho đúng thi trang."

Mặc dù tôi có gặp gỡ và quen biết (ngoại trừ ba vị cuối), thân sơ ở những mức độ khác nhau, với tất cả các tác giả và bạn văn kể trên, tôi cũng biết rằng, không kể một, hai người có cơ hội làm việc gần nhau, hầu hết chúng tôi làm việc trong những môi trường khác biệt, có những sở thích, khuynh hướng văn học khác nhau, và có sự tiếp cận, hiểu biết, tiếp thu khác nhau về các trào lưu, các lý thuyết văn học. Nếu chúng tôi có viết, đâu đó, mỗi người, có chia sẻ với người đọc một vài điều trên báo chí thì, tôi nghĩ, chúng tôi cũng đã làm việc đó trong tinh thần thiện chí mà Trần Thiện Đạo đã làm, trước 1975, khi ông hào hứng chia sẻ những hiểu biết về chủ nghĩa Hiện sinh và thuyết Cấu trúc, chẳng hạn, với độc giả. Dĩ nhiên, việc áp dụng những lý thuyết đó trong sáng tác của mình của bất cứ ai cũng đòi hỏi một sự nhậy cảm về mặt mỹ học, một ý thức văn học sâu sắc, và một sự hiểu biết cần và đủ về điều mình muốn áp dụng. Và, dĩ nhiên, "tận tín thư bất như vô thư", một sự “cuồng tín” về mặt lý thuyết, nếu có, là điều không nên và không tốt, vì nó tạo nên sự mất quân bình. Còn, nói chung, tôi nghĩ việc học hỏi, tiếp thu và, nếu có điều kiện, chia sẻ những kiến thức của/về thế giới đó là một điều lành mạnh và cần thiết. Cần thiết cho các thành viên của bất cứ một dòng văn học nào muốn bắt tay với thế giới.

(2) Đây là từ tôi tạm gọi để chỉ một tạp chí in trên giấy báo và phát hành theo lối cổ điển. Có người gọi là “báo giấy”, có người gọi là “báo dưới đất” để phân biệt với “báo mạng” (sử dụng phương thức hyper-text), hay “báo trên trời”. Hp Lưu cũng là một tạp chí mà tôi đã có cơ hội đóng góp bài vở từ những tháng năm đầu tiên (1991) cho đến bây giờ. Cùng với những ban chủ biên khác nhau của tờ báo, qua nhiều giai đoạn, tôi đã có dịp chia sẻ với các anh chị ấy nhiều ước mơ và dự phóng văn học đáng yêu.

Thật ra, Hp Lưu cũng có một trang mạng riêng của mình tại địa chỉ www. hopluu.net, và một số bài trên báo in mỗi số cũng được đưa lên giới thiệu ở đây. Nhưng vào thời điểm tôi gửi bài này cho Da Màu, ngày 14 tháng 10, 2010, số báo Hp Lưu số 111 đã được đưa lên mạng, nhưng không thấy bài của Trần Thiện Đạo. Cho dù ở trên trang chính hay ở mục “Đọc Sách – Mạn Đàm”. Có thể vì không phải bài nào trên báo cũng được Hp Lưu đưa lên mạng.

(3) “Đối tượng”, trong quan tâm tìm hiểu của chúng ta. Nhưng chúng là “chủ thể” trong văn mạch của ca từ.

(4) Ngay cả cách ghi ca từ của các soạn giả/tác giả khác nhau cũng không nhất thiết phản ảnh một lối giải thích ngữ pháp nào đó của chính họ. Cho dù, như tôi đã nói trong bài, một cách ghi ca từ (đặc biệt đối với đoạn mà chúng ta đang thảo luận) nào đó—với một lối trình bày nhất định, như dùng dấu phẩy giữa hai vế, hoặc tách hai vế ra thành hai dòng—thường cho thấy, soạn giả/tác giả đó đã, một cách hữu thức hoặc vô thức, chọn cho mình một cái nhìn về mặt ý nghĩa của lời ca.

(5) Đặc biệt là dấu phẩy và dấu chấm phẩy. Nó chỉ khiến cho hai vế trở thành hai mệnh đề độc lập của cùng một câu. Một câu hp (a compound sentence). Việc vì sao ta có thể hoặc là dùng dấu chấm phẩy, hoặc là dùng dấu phẩy cho trường hợp này, tôi đã xin phép trình bày kỹ ở bài trước. Ở đây, tôi chỉ xin nói vắn gọn là: nếu hai mệnh đề độc lập đó là hai câu có ý tưởng gắn bó mật thiết, thay vì dùng dấu chấm, ta có thể dùng dấu chấm phẩy. Nếu đó lại là hai mệnh đề ngắn gọn, thay vì dùng chấm phẩy, ta có thể dùng dấu phẩy. Ngay cả dấu chấm, biến hai vế thành hai câu, cũng vẫn khiến hai mệnh đề đứng cạnh nhau gắn bó với nhau theo một cung cách nào đó, cho dù là không được thật chặt như khi chúng được kết nối bằng hai dấu câu kia. Trong câu Tình yêu như trái phá / con tim mù lòa, khuynh hướng của tôi, về mặt ý nghĩa cú pháp, là dùng dấu phẩy. Nhưng trong hình thức của một bài thơ dịch, theo tôi, dịch giả vẫn có thể dùng dấu chấm để tạo một hiệu ứng hình thức.

(6) Ngoài ra, Trần Thiện Đạo lại sử dụng (đúng ra là mượn, nhưng không hề minh thị điều này) chính lập luận của tôi trong bài viết [2] tôi cho phổ biến trên Da Màu ngày 20/4/10 (khi tôi đề nghị chị Thái Kim Lan bỏ đi lập luận “một phách rưỡi” của chị—cho dù tôi cũng đồng ý với chị ấy là không thể có một đại từ quan hệ nối liền hai vế theo một quan hệ chính phụ). Trần Thiện Đạo dùng lại ngay lập luận ấy cùng vi chính những thí dụ mà tôi đã đưa ra trong các câu Tình yêu như vết cháy trên da tht ngưi (đoạn 2), Tình yêu như trái chín trên cây rng ri (đoạn 3), Tình yêu như cơn bão đi qua đa cu (đoạn 6), Tình yêu đưa anh đến bên cơn mun phin (đoạn 7), Tình yêu như đt sáng con tim tt nguyn (đoạn 8 ) để nói rằng câu đầu tiên cũng chỉ có một ý (một mệnh đề) chạy suốt (Thật ra, ông cũng giúp cho vào ngoặc đơn các đoạn 2, 3, 6, 7, và 8 mà tôi đã đưa ra).

Sự giống nhau trong cấu trúc xuyên suốt (một mệnh đề) của những đoạn nhạc trên, dù sao, chỉ có thể được dùng để bỏ đi lập luận “một phách rưỡi”, vì chúng cũng là những đoạn nhạc được biểu thị bằng cùng những nốt nhạc như của đoạn đầu tiên, Tình yêu như trái phá con tim mù loà. Sư giống nhau này không bảo đảm rằng đoạn đầu tiên của bài hát (mà ta vừa dẫn) có cùng một cấu trúc ngữ pháp như những câu kia. Vấn đề là ta phải để ý đến ý nghĩa riêng của mỗi đoạn. Và đó là điều đã được tôi thảo luận và trình bày kỹ trong bài viết trước trên Da Màu. Ngoài ra, một điều nên nói thêm là: đoạn Tình yêu như trái phá con tim mù loà không h có mt đng t ch hành đng để liên kết “trái phá” và “con tim”. Trong nhiều ngôn ngữ, kể cả trong tiếng Việt, người ta thường có thể hiểu ngầm liên từ rng, hệ từ là, thì, hoặc, thậm chí, đại từ quan hệ , chứ người ta không dễ dàng hiểu ngầm một động từ chỉ hành động được.

Đoạn Tình yêu như trái phá con tim mù loà, theo tôi, sở dĩ gây nên vấn đề là vì nó có từ “trái phá”. Từ này, theo tôi, qua thao tác liên tưởng tự động khi đọc, khiến ta nghĩ rằng trong nó có động từ "phá", một động từ chỉ hành động, gần gũi về mặt hiệu ứng với những động từ "khiến (cho)", "làm (cho)",v.v…. Thật ra, nếu có thể nói, Tình yêu như trái táo phá (n/v) con tim mù loà thì đó mới là một câu với một mệnh đề xuyên suốt, trong đó cụm từnhư trái táo” chỉ giữ vai trò bổ ngữ, thêm ý nghĩa cho từTình yêu”. Và đoạn Tình yêu phá (n/v) con tim mù loà sẽ là mệnh đề chính, và cũng là một câu toàn vẹn. Nhưng vấn đề lại không phải là như vậy!

(7) Trong tiếng Việt, “có” là một động từ rất thường được sử dụng. Dù sao, nó lại là một động từ gây khá nhiều khó khăn cho người học. Cho cả người ngoại quốc lẫn cho người bản xứ. Thậm chí, đôi khi cho cả những người cầm bút viết lách như chúng ta. Lý do là vì nó có nhiều cách dùng khác nhau. Tôi liệt kê mt s cách ở đây:

“Có” có thể là một động từ chính, chỉ sự sở hữu [Tôi hai con hoc Tôi đã nhà và xe / C V(Có)]. Nó có thể là một trợ động từ, đứng trước một động từ chỉ ý chí, mong muốn [Anh có mun đi Sa Pa với chúng tôi không? / C + Có + V + không]; trong trường hợp này, nó có thể được xem là bộ phận của một câu hỏi. Trong vai trò là một trợ động từ, nó cũng có thể đứng trước một động từ hành động [(Lát nữa) anh có hát không? / (TR +) C + Có + V + không]. Cũng trong vai trò là một trợ động từ (và không phải là bộ phận của một câu hỏi), nó có thể được dùng để diễn tả ý nghĩa quá khứ hoặc khẳng định tính hiện thực của sự việc [Hôm qua, bác ấy có đến nhà tôi chơi, hoc Tôi có nói điều ấy / (TR +) C + Có + V]. Có khi nó là một động từ chỉ sự tồn tại (be, exist, there is, there are: Trên chòi canh ba tiếng trống báo hiệu / [ (TR +) Có + C V ]). Như thế, nó có thể được đặt trước một cấu trúc có dạng như một cụm chủ-vị [ nhiều người đang khóc / Có + C V].

Ghi chú: TR: (Cụm) Trạng từ thời gian; CV: Cụm Chủ Vị (C thay cho Chủ từ hoặc Chủ ngữ, V thay cho Vị ngữ, (thường) bắt đầu bằng một động từ. “Có” có thể chen vào giữa cụm CV); V(Có): Vị ngữ có động từ là "Có".

[Có thể xem thêm Nguyễn Chí Hòa, Ng Pháp Tiếng Vit Thc Hành (A Practical Grammar of Vietnamese), Hà Nội: Nhà xuất bản Đại Học Quốc Gia Hà Nội (2004)]

(8) Bài tường thuật đề tên tác giả là Ngân Huyền. Dù đây có vẻ là một thứ “biên bản” ghi lại các ý kiến trong một cuộc thảo luận, người đọc không được cho biết là buổi thảo luận xảy ra ở đâu, vào ngày giờ nào, và trong hoàn cảnh nào. Không có một phần dẫn nhập nào để giới thiệu cuộc thảo luận, nhưng trước khi đăng ý kiến của một dịch giả (hay nhà thơ, nhà văn, nhà giáo) phát biểu lần đầu trong bài, sau tên người phát biểu, tác giả bài viết có giới thiệu một, hai câu về người đó trong ngoặc đơn. Bài viết đưa ra ý kiến của những người tham dự về những khía cạnh Tín, Đạt, Nhã trong dịch thuật. Các ý kiến, dù sao, cũng có sự gắn bó, đối đáp lẫn nhau. Với hình thức trình bày như đã nói, người ta có thể nghĩ, thật sự, đây là một cuộc thảo luận qua e-mail, một phương cách cũng hay được sử dụng trong thời đại internet này. Các dịch giả tham dự trình bày ý kiến của mình và, phần nào, phản hồi một hay những ý kiến nào đó mà mình đọc được. Người điều hợp cuộc thảo luận có lẽ là tác giả bài tường thuật. Còn nếu đó là một cuộc thảo luận theo kiểu truyền thống, thường thì những người tham dự được xem lại ý kiến của mình và, nếu cần, sửa chữa đôi chút trước khi bài viết được phổ biến. Trong các websites khác, bài này không có tên tác giả mặc dù nội dung vẫn vậy. Nếu câu này không do chính Trần Thiện Đạo viết (8 bis), nó cũng vẫn là một câu ta nên quan tâm. Sự sơ sót của nó cũng có thể làm ta lưu ý một điều: nếu không chú ý đủ, bất cứ ai trong chúng ta cũng có thể có sự sai vấp tương tự.

(Cuộc thảo luận cũng như bài tường thuật này đáng quý. Nó đưa ra được nhiều quan điểm hữu ích trong lĩnh vực dịch thuật. Việc tạp chí Chúng Ta cho phổ biến nó cũng thế. Điều tôi phân tích ở đây chỉ là để tìm hiểu cấu trúc một câu văn.)

(8 bis) Sau khi viết xong bài này, xem lại các tài liệu lưu trữ của mình, tôi tin đây chính là câu viết của dịch giả Trần Thiện Đạo. Tôi có bài "Tọa Đàm Dịch Thuật¨", đăng trên tạp chí liên mạng Sông Hương, ra ngày 26.03.2010, với lời giới thiệu của Sông Hương là do nhà văn Trần Thiện Đạo chuyển đến. Nội dung của bài này, nói chung, gần như y hệt so với nội dung bài "Tín – đạt – nhã…" trên Chúng Ta năm 2005, từng lời từng chữ. Các ý kiến của Trần Thiện Đạo, dù sao, thường là được mở rộng ra. Chúng được trình bày kỹ hơn. Có nghĩa là trước khi gởi bài này cho Sông Hương, dịch giả Trần Thiện Đạo đã có dịp xem lại cả bài và phát triển một số ý kiến, quan điểm riêng trong phần của mình. Câu mà chúng ta đang xét, “Nhã là nếu trong tác phm, có nhng câu hết sc lng cng, thì tôi dch cũng lng cng.”, trong bản 2010, dù sao, cũng được viết lại và có chút ít thay đổi. Tuy nhiên, về căn bản của cấu trúc câu thì lại không có gì thay đổi cả: “Cái nhã là nếu trong tác phm, có mt hai câu hết sc lng cng, thì tôi dch cũng lng cng, vì cái lng cng là ca tác gi ch không phi ca tôi.” Mệnh đề "vì cái lng cng là…" chỉ là một phần thêm vào để giải thích, không ảnh hưởng đến cái cấu trúc mà ta đang xét. Như đã nói, đây là một bài có nhiều ý tưởng hữu ích, nói chung, cho người đọc. Việc Sông Hương đăng lại nó cũng là một điều tốt.

(9) "Có" trong câu “Nhã là nếu trong tác phm, có nhng câu hết sc lng cng, thì tôi dch cũng lng cng.” và "có" trong câu "Chàng trai đáng yêu y, có nưc da ngăm đen và mt thân th cưng tráng, là mu hình lý tưng đ bn tôi noi theo." có thể mang hai tính chất khác nhau. Trong câu đầu, nó là một động từ. Rõ ràng. Trong câu sau, nếu coi bổ ngữ giữa hai dấu phẩy là một cụm phân từ (participial phrase) dẫn đầu bằng một hiện tại phân từ ["có" (having)], bấy giờ, "có" sẽ không phải là một động từ, mà chỉ là một phân từ. Nếu coi bổ ngữ đó là một mệnh đề phụ theo kiểu tiếng Anh ["who has…"], lúc ấy, "có" sẽ được xem là một động từ.

(10) "(…) the translator having to look beyond the text itself to deconstruct on an intra-textual level and decode on a referential level — assessing culture-specific items, idiom and figurative language to achieve an understanding of the source text and embark upon creating a translation which not only transfers what words mean in a given context, but also recreates the impact of the original text within the limits of the translator’s own language system…"
(Xem http://en.academic.ru/dic.nsf/enwiki/1410336 )

(11) Trong tiếng Anh chẳng hạn, "into" là " vào" hay"vào trong". Dù sao, khi dịch "to translate Kieu into English" sang tiếng Việt, ta sẽ dịch là "dịch truyện Kiều ra/sang tiếng Anh", chứ ta sẽ không dùng "vào" hay "vào trong" ở đây. Hoặc, thành ngữ "to talk sb. into doing sth." sẽ được dịch là "thuyết phc ai làm mt điu gì" (tiếng Pháp: "persuader qn de faire qc"), cho dù nó có "into" trong đó.

(12) Tôi không có bản tiếng Nhật, và, nếu có, tôi cũng không hiểu nó. Tôi tạm tin vào hai bản dịch nổi tiếng bằng Anh ngữ và Pháp ngữ mà nhiều bản dịch khác dựa vào để, qua đó, tìm hiểu cách hành từ, bố câu, cũng như cách tạo âm điệu cho câu văn của những bản dịch mà tôi đưa ra.

 

 

 

.

bài đã đăng của Bùi Vĩnh Phúc


6 bình luận »

  • Trịnh Sơn viết:

    “Tôi tin rằng chúng ta vẫn đang trên con đường đi tới.” (Bùi Vĩnh Phúc)
    Tác giả Bùi Vĩnh Phúc ơi ! Con đường đi tới đâu ? Bài viết của ông, có thể thấy, có rất nhiều công phu tìm hiểu và phân tích. Nhưng, có vẻ như, phần kết luận lại không mang một ý nghĩa khẳng định nào. Trong khi, ít nhất, tác giả Trần Thiện Đạo đã có một vài nhận định rõ ràng qua bài viết của ông ta.
    Tôi chỉ nói về cảm nghĩ chủ quan của tôi khi đọc 2 bài viết của 2 tác giả Bùi Vĩnh Phúc và Trần Thiện Đạo. Chuyện ai đúng ai sai, dường như, chưa phân định rõ ràng qua 2 bài viết của 2 ông. Và, có thể, không bao giờ phân định được.
    Kính chào !

  • Bùi Vĩnh Phúc viết:

    Chào bạn Trịnh Sơn,

    Cám ơn bạn đã góp ý. Về vấn đề “khẳng định”, tôi nghĩ thế này: Có hay không, nó có thể nằm trong cách nhìn, cách đọc, cách tiếp cận văn bản của mỗi người. Ngoài ra, trong cuộc đời này, có phải bất cứ điều gì ta cũng cần phải “khẳng định” đâu. (Khi có ai đó nhìn bạn rất vội, mắt dịu dàng như lá, rồi quay đi, con mắt còn có đuôi, bạn hiểu chuyện gì đã xảy ra. Hà tất bạn phải đòi người ấy “khẳng định” thêm gì nữa! Và khi bạn biết người ta có tình cảm với mình rồi, thì cứ nhẹ nhàng và tha thiết lại gần người ta, hà tất cứ phải nài ép một lời “khẳng định”! )

    Tôi nghĩ, tình cảm và niềm tin dễ đưa con người ta lại gần nhau hơn. Câu kết của tôi mà bạn đã trích, trong cách tôi viết và nghĩ, trong tổng thể toàn bài, phản ánh những điều đó: tình cảm và niềm tin. Còn chuyện bạn hỏi “Đi tới đâu?” thì câu trả lời nằm ở ngay trong mỗi chúng ta. Điều tôi tin là nơi đến nằm ở phía trước, chứ không phải phía sau. Nó nằm trên con đường trước mặt ta, nếu ta chịu khó cất công đi. Ngoài ra, “đi” bao hàm trong nó một ước muốn cất mình lên, cởi bỏ sự trì trệ. Và “đi”, tự nó, đã là một hạnh phúc. Bạn sẽ tìm ra hạnh phúc trên đường đi. Đi tới. Và chính bạn sẽ hiểu là mình muốn đi tới đâu.

    Chúc bạn mọi niềm vui trên đường.

    Bùi Vĩnh Phúc

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Giáo sư Bùi Vĩnh Phúc quả là 1 chuyên gia ngôn ngữ học có nội công thâm hậu !

    Với tư cách là người đã từng tham gia vào “cuộc thảo luận vô tích sự đó” và cũng là người đã đưa ra những ý kiến bình luận nhất quán với ý kiến của Giáo sư Phúc về “Trái phá” của Cố Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn , tôi tự cho mình có quyền xếp loại Ông Trần Thiện Đạo vào tầm cỡ “Phiên dịch viên” thôi chứ chưa phải là “Biên dịch gia”.

    Có nhiều trường phái dịch thuật khác nhau như : “dịch là diệt và tái tạo” hay “dịch sát từ”, v.v…..Tuy nhiên, dù là trường phái nào đi nữa thì vẫn phải theo 1 nguyên tắc “dịch chính xác”, nghĩa là theo đúng với ý nghĩa biểu trưng và sắc thái của bản gốc. Điều này đặc biệt quan trong trong khi dịch những tác phẩm văn học. Trong comment cho bản dịch của Chị Bích Thúy, tôi cũng đã trích dẫn ý kiến của nhà văn Trúc Chi về “ý nghĩa thời đại” của từ “Trái phá”, và tôi cho rằng không thể dịch “thoát” theo kiểu “Tây hóa” như Ông TTĐ được.

    Rất cám ơn Giáo sư Phúc !

  • Hà Thủy viết:

    Tôi nghĩ là cần phải đọc được bài viết của Trần Thiện Đạo để đọc toàn bài rồi mới có thể nhận xét về bài viết này vì trích dẫn đôi khi cũng chủ quan. Tiếc là chỗ tôi không có nơi để mua Hợp Lưu. Thiết nghĩ Da Màu nên tìm cách post bài viết này lên.

  • Bùi Vĩnh Phúc viết:

    Anh Trịnh Trung Lập,

    Xin cám ơn sự quý mến của anh. Tôi thật sự không dám nhận lời anh khen tặng. Tôi chỉ trình bày một vài nhận xét mà mình có được qua kinh nghiệm học tập và viết lách. Những hiểu biết ấy cũng chẳng đáng chi.

    Như đã nói ở phần cuối bài, tôi vẫn trân trọng những nỗ lực và đóng góp của những người có tâm huyết với văn học Việt, trong đó tôi nghĩ có cả dịch giả/tác giả Trần Thiện Đạo. Điều tôi muốn thảo luận ở đây là về một phong cách, một thái độ trong góp ý và phê bình. Để sao cho mỗi người chúng ta, trong những hoàn cảnh và nỗ lực riêng, có thể cùng nhau làm được một cái gì chung, tốt đẹp, cho văn học Việt.

    Một lần nữa, chân thành cám ơn thiện cảm của anh.

    Bùi Vĩnh Phúc

  • Lam Truong Phong viết:

    Ha Thuy có thể vào:
    http://hopluu.net/default.aspx?LangID=38&tabId=476&ArticleID=1091

    đọc bài viết của Trần Thiện Đạo.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch