Trang chính » Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

trích 3.3.3.9 [những mảnh hồn trần]: Chương 16

1 bình luận ♦ 28.09.2010

 

 

 

16

 

 

 

Mẹ tôi sinh ra ở Braunau am Inn miền tây bắc nước Áo, đối diện thị trấn này bên kia sông Inn là thị trấn Simbach am Inn của Đức.

Braunau am Inn có từ năm 810, cho đến năm 1260 thì được công nhận thành phố, vì thế nó là một trong những thành phố cổ nhất ở Áo. Braunau đã đổi chủ bốn lần: thuộc về Bayern đến tận năm 1779 rồi sang tay Áo theo Hiệp ước Teschen, lại trở về với Bayern năm 1809 theo Hiệp ước Pressburg, rồi vào năm 1816 (thời kỳ hậu-Napoléon) Bayern phải nhượng lại Braunau cho Áo và được đền bù bằng Aschaffenburg. Từ đó Braunau là của Áo. Adolf Hitler sinh ra ở Braunau năm 1889. Bên ngoài tòa nhà nơi Hitler sinh ra nay có một phiến đá để tưởng niệm những nạn nhân của Thế Chiến II. Phiến đá có đề:

FÜR FRIEDEN, FREIHEIT

UND DEMOKRATIE

NIE WIEDER FASCHISMUS

MILLIONEN TOTE MAHNEN[1]

Tòa nhà nơi Hitler sinh ra ấy nay là xưởng làm đồ thủ công của những người tàn tật và là trụ sở chi nhánh Hội từ thiện Lebenshilfe, có website là:

http://www.lebenshilfe.at/aktuell/index.html.

Phố Salzburger Vorstadt, nơi có căn nhà số 15 này, vào năm 1938 đã được đặt tên là Adolf-Hitler-Strasse cho đến hết chiến tranh thì đổi lại. Đã có nhiều cái tên “hấp diêm” lên các địa danh được một thời gian rồi lại trả về tên cũ như ở các thành phố: Saint Petersburg, Volgorad, NovokuznetskNovomoskovsk (Nga), Braşov (Romania), Kuçovë (Albania), Varna (Bulgaria), Tskhinvali (Georgia/Sakartvelo), Donetsk (Ukraine), Katowice (Ba Lan), Dunaújváros (Hungary), Eisenhüttenstadt (Đông Đức cũ); thậm chí cả các đỉnh núi, công viên, nhà máy, phố xá, quảng trường…

Hiện nay chỉ có hơn 17 ngàn dân nhưng Braunau có đủ mọi cấp trường học, ngành nghề, với những nhà máy nhôm lớn nhất nước Áo. Muốn ghé đến thăm những thắng cảnh ở đây bạn hãy truy cập vào trang này

http://www.anaustriaattraction.com/austria-attractions-ah/braunau-am-inn.html

thì sẽ được chỉ dẫn chi tiết.

Cô gái xinh đẹp và đầy cá tính Arschkriecher Levinsky sinh ra trong một gia đình Do Thái.

Người Do Thái đã phải chịu đựng một lịch sử đau thương vì bị đàn áp xua đuổi khắp nơi, vì thế số lượng người luôn biến động theo thời gian. Hiện nay người ta ước tính người Do Thái có khoảng 12-14 triệu, chiếm 0,2% dân số thế giới. Trong số đó 5,4 triệu đang sống tại Israel; 5,3 triệu sống tại Mỹ. Ở Đức chỉ có 118.000 người. Tuy “quân số” không đông nhưng người Do Thái nắm khoảng hơn một nửa tài chính của Mỹ và hầu như toàn bộ ngành truyền thông. Đó là lí do không có tổng thống Mỹ nào dám cưỡng lại ý muốn của người Do Thái. Những kẻ ngang ngạnh đều dễ bị khét tiếng thế giới vì bị ăn bom/đạn hoặc dính vào Skandal lập tức: John F. Kennedy, Richard Nixon, Bill Clinton (Chắc em Monica Levinsky gây ra cú skandal “khủng” với Bill có họ hàng với mẹ tôi cũng nên)…

Hình như người Do Thái chỉ bị người Việt Nam khuất phục, như trong trường hợp của mẹ tôi sau này. Kể cũng xứng đáng thôi, trong số 5 nước ủy viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc đầy quyền lực với thế giới thì Việt Nam đã đánh vỡ mặt đến 4!

Các bạn nên biết trong những nhân vật hàng đầu thế giới thì người gốc Do Thái chiếm số đông: đã có 176 người Do Thái được Nobel, chiếm 23%; riêng ở Mỹ là 37% (ở đây người Do Thái cũng chỉ chiếm 2%). Ngay trong văn chương ta đã có những cái tên như Paul von Heyse (1910), Henri Bergson (1927), Boris Pasternak (1958), Shmuel Agnon (1966), Nelly Sachs (1966), Saul Bellow (1976), Isaac Bashevis Singer (1978), Elias Canetti (1981), Joseph Brodsky (1987), Nadine Gordimer (1991), Imre Kertész (2002), Elfriede Jelinek (2004), Harold Pinter (2005).

Và, kính thưa quý vị, Kinh Thánh chính là một di sản Do Thái vĩ đại. Thi hào William Blake đã cho rằng chính Kinh Thánh đã hình thành nên sự suy tưởng cho người phương Tây: “Tân ƯớcCựu Ước là một bộ luật vĩ đại về nghệ thuật.” Từ Thần khúc của Dante, Thiên đường đã mất của John Milton, Sự huyên náo (The Tempest) của William Shakespeare cho đến Joseph và những người anh em của Thomas Mann thì Kinh Thánh đều trực tiếp hay gián tiếp tạo nguồn cảm xúc cho những tác phẩm lớn nhất thế giới. Phần Thánh Thi trong Kinh Thánh bản Hebrew vẫn là những vần thơ được ngâm ngợi và yêu quý nhất trên thế giới; Thủ tướng Anh/nhà nghiên cứu Hy Lạp thời Nữ hoàng Victoria – ngài William Gladstone (1809–1898) – còn nói “mọi kỳ quan của nền văn minh Hy Lạp cộng lại cũng không kỳ diệu bằng một cuốn Thánh Thi” cơ đấy.

Mà này, tôi đoán không lầm thì cuốn tiểu thuyết này của nhà văn Đặng Thân cũng khó thoát khỏi ảnh hưởng của Kinh Thánh về nhiều mặt. Hơn nữa, tiểu thuyết và luận văn là những thể loại có nguồn gốc từ Kinh Thánh đấy. Mà nhà văn đặt nhan đề là gì ấy nhỉ?

 

Schditt biết rồi còn gì, tôi đã từng “bóng bàn” với Schditt trước khi viết cơ mà – Những linh hồn khốn nịn.

 

Aha, nghe có cái vẻ chịu ảnh hưởng của Pháp Lãng Xà kiểu Les Miserables[2] của Victor Hugo với em Corset[3] hay Cosette gì đấy; rồi Les 120 Journees de Sodome, ou l’Ecole de libertinage của Marquis de Sade, Les Chouans của Honoré de Balzac, Les Lauriers sont coupés của Édouard Dujardin hay là Les Bienveillantes của Jonathan Littell… Vậy cái tiểu thuyết của anh là Les Terribles hay là “Les” gì được nhỉ? Có điều tôi tin rằng, dưới ảnh hưởng của Kinh Thánh, tiểu thuyết của anh sẽ ngang tầm thế giới. Với lại nó lại còn “có yếu tố Do Thái” nữa.

 

Thưa ngài von deBalle-Kant, sao ngài không kể nốt những ảnh hưởng từ Nga với Những linh hồn chết của Nikolai Vasilievich Gogol; hay những ảnh hưởng từ Việt Nam như vở kịch Ngôi nhà của những linh hồn ở 5B Võ Văn Tần và bộ phim tài liệu Những linh hồn phiêu dạt của tay đạo diễn người Pháp Boris Lojkine nói về những người đi tìm hài cốt đồng đội cũ đã phát trên VTV1?

Vả lại tôi cũng chưa lĩnh hội được cái “tầm thế giới” của anh nó như thế nào, và nó là thế giới nào như trong kinh Phật có nói: “Đức Ngọc Hoàng thống lĩnh 3.000 thế giới”? Và nếu ngang tầm thế giới của anh rồi thì có đạt tiêu chuẩn của 2.999 thế giới kia không?

Thực ra, thưa quý vị và các bạn, tôi đã từng khá là trăn trở với cái tên của tiểu thuyết này. Đầu tiên tôi chỉ có ý định viết một truyện dài xoay quanh nhân vật Mộng Hường cùng một số nhân vật người Việt khác (mà không có tôi và các nhân vật nước ngoài khác tham gia). Và tôi đã đặt tên cho truyện là Mảnh ức phiêu ký vì câu chuyện sẽ nặng về tính phiêu linh trong ký ức của nhân vật Mộng Hường. Cái tên cũng có ảnh hưởng của Jonathan Swift với Guliver du ký hay của Mark Twain với Những cuộc phiêu lưu của Tom Sawyer/ Huckleberry Finn. Còn tại sao tên em ấy là Mộng Hường thì có thể các bạn sẽ biết ở một chương sau này. Tôi có đem cái nhan đề ra bàn với một đầu nậu chuyên in sách lậu thì ông này giẫy nẩy lên rằng: “Cái nhan đề này nghe nó ép độc giả quá. Nặng nề quá. ‘Mảnh ức’ nghe đã khó tiếp thu rồi lại thêm cả ‘phiêu ký’ âm u khó hiểu nữa thì sợ rằng độc giả sẽ không muốn tiếp cận cuốn sách.” Nghe thấy thế tôi cũng thấy nản, ngộ nhỡ vì cái tên mà không có ma nào nó đọc cái truyện của tôi thì cũng cơm toi.

Về nhà trằn trọc suy nghĩ mãi và quả là, Schditt thân mến, tôi cũng có bị ám ảnh bởi cái nhan đề Những người khốn khổ của Victor Hugo. Một cuốn tiểu thuyết “khủng” đã ám vía cả nhân loại suốt hàng trăm năm qua.

 

Những cuốn tiểu thuyết như thế dễ làm cho cuộc đời thực này chao đảo, làm cho người ta không biết mình đang sống thật hay cũng chỉ là đang làm nhân vật của một cuốn tiểu thuyết. Ngay từ khi còn trẻ nhiều người đã thường bắt chước nhân vật nào đó của tiểu thuyết và nhân vật đó không những đã dẫn dắt người ta vào đời lại còn góp phần hình thành nên nhân cách của bao người. Quả là không biết cuộc đời này hay tiểu thuyết cái nào thực hơn. Ta không biết ta có là ta hay không, hay cũng chỉ đang là một nhân vật của cuốn tiểu thuyết nào đó (như của Hugo chẳng hạn).

 

Trước năm 1975 ở miền Nam người ta đã in Những người khốn khổ với nhan đề Những kẻ khốn nạn theo bản dịch của học giả Nguyễn Văn Vĩnh (1882–1936). Vì thế tôi đã định “giật title” cho cuốn sách của tôi là Những linh hồn khốn nạn. Tôi lại đem chuyện này ra bàn với một nhà phê bình văn học nổi tiếng. Ông ta cười ruồi và bảo nghe nó bị lẫn với cả Gogol và Hugo, thế là mất bản sắc.

Cái gì chứ mất bản sắc là tôi khó có thể chấp nhận.

Tôi bảo hay là đổi thành Những linh hồn khốn nịn nghe cho nó có vẻ “dân gian Việt”. Từ “khốn nạn” hàm nghĩa tiêu cực nhưng từ “khốn nịn” có khi là một lời khen hay bầy tỏ lòng cảm phục vô cùng, nghe lại có tính hài hước. Nhà phê bình gạo cội lại cười ma và bảo nghe nó thiếu nghiêm túc, nhất là các độc/học giả lớn tuổi sẽ khó chấp nhận.

Thật là khó xử!

 

Để iem Mọng Hường này gặp gỡ các vị ấy tranh luận xem seo. Các bố đầu nậu với cánh phê bình là cũng hay hùn hạp với nhau lũng đoạn đồng bào lém. Nhiễu hok chịu được. Các bố có giỏi thì vào đây “chao đủi” với iem. Đây là meo của iem: mong_huong@live.com

Xin sẵn sàng tiếp chiêu các bác.

À, mà seo không đặt là Những mảnh hồn lưu vong? Nghe hay đấy chứ, hỡi những người lưu vong kia.

 

Những mảnh hồn lưu vong hả? Nghe được đấy. Nếu nghĩ mình lưu vong thì ai mà chả đang lưu vong cơ chứ. Này anh bạn Schditt ơi, anh thấy thế nào với cái tên này nhỉ – Những mảnh hồn lưu vong.

 

OK anh, nghe được lắm! Chính tôi cũng đang lưu vong trên đất Việt Nam đây này. Cả các người nữa, có khi chính các người đang lưu vong trên quê hương mình đấy. Thật là một thời đại lưu vong. Rồi lại còn “hồn” với “vong” nữa. Không biết ta đang là vong hay vong đang là ta?

 

Theo dõi câu chuyện từ đầu một cô bé sinh viên mắt trong vắt như trời thu tháng Tám hồn nhiên thốt lên: “Hay hãy đặt là Những mảnh hồn trần. Được không các anh chị ơi?”

Tôi tin ở HỒN NHIÊN, vì thế tôi quyết định chọn cái nhan đề này. Xin cảm ơn em nhiều lắm!

 

Ôi! Trần gian, trần ai, trần tục, trần thế, trần trụi, trần như nhộng hay là trần trùng trục đây?

Được rồi. Để tôi kể nốt chuyện người Do Thái cái đã.

Nhưng, xin lỗi, thú thật tôi cũng e làm rát tai các bạn vì tên tuổi những vĩ nhân Do Thái trên thế giới này nhiều vô kể, ngoài những Maimonides, Moses, Karl Marx, Albert Einstein, Golda Meir, Sigmund Freud, Noam Chomsky, Jacques Derrida, Roman Jakobson, Claude Lévi-Strauss, Ludwig Wittgenstein, Sir Karl Popper, Gyorgy Lukács, Theodor Adorno, Edmund Husserl, Thomas Kuhn, Franz Kafka, Émile Benveniste, Marcel Proust, Miguel de Cervantes, George Steiner, Henri Bergson, Susan Sontag, Harry Levin, Baruch (Benedict) de Spinoza, Heinrich Heine, Lev Davidovich Trotsky, Henry Kissinger thì còn có hàng trăm vị “khủng”: Benjamin d’Israeli, Ilya Ehrenburg, Stanislaw Lec, Isaac Asimov, André Maurois, Patrick Modiano, Alberto Moravia, Harold Robbins, Shai Agnon, J. D. Salinger, Erich Segal, Irwin Shaw, Sidney Sheldon, Danielle Steel, Irving Stone, Jacqueline Susann, Arnold Zweig, Stefan Zweig, Norman Mailer, Philip Roth, Jonathan Littell… trong văn chương; Abe Burrows, Moss Hart, George S. Kaufman, Sidney Kingsley, Arthur Miller, Neil Simon, Peter Weiss… trong kịch nghệ; Allen Ginsberg, Louise Glück, Daniel Hoffman, Emma Lazarus, Louis Simpson, Tristan Tzara, Billy Joel, Paul Simon… trong thi ca; Woody Allen, Stanley Kubrick, Wolf Mankowitz, Steven Spielberg, Oliver Stone, Sir Tom Stoppard, Billy Wilder, Harrison Ford, Billy Crystal… trong điện ảnh; Leonard Bloomfield, Jerome Bruner, Erving Goffman, Joseph Greenberg, William Labov, Ludwig Wittgenstein, Ludwik Zamenhof… trong ngôn ngữ học; Adam Citroen, George Soros, Estee-Lauder, Ralph Lauren, Reichman, Ben Cohen, Max Factor, Bronfman, nhà Rothchild… trong làm ăn; David Copperfield, Larry King, Barbra Streisand, Billy Joel, Paul Anka, Simon & Garfunkel, Marcel Marceau… trong ngành giải trí; thậm chí cả Chúa Jesus.

Thêm, tại Mỹ người Do Thái chiếm 1/3 số triệu phú, 1/5 số giáo sư đại học hàng đầu, 40% số luật sư của các văn phòng luật hàng đầu.

Điều đặc biệt, người Do Thái nắm 37% Nobel Hòa bình.

Và, xin thông báo một thông tin rất “oách”: trong số 50 cuốn sách được trích dẫn nhiều nhất trong thế kỷ XX thì số đầu sách của người Do Thái chiếm đến 42%!

Không tin ư, thì kính mời các quý bạn hãy vào xem trong danh sách này nhé:

http://www.jinfo.org/Most_Cited_H_A.html

Khi mẹ tôi sinh ra, ở Braunau am Inn chỉ còn mấy chục hộ người Do Thái sống trong vài phố nhỏ liền kề. Theo mẹ tôi cho biết suốt trong các thế kỷ XIX và XX việc người Do Thái lấy người dân tộc khác là khá hiếm hoi. Lí do chính là do tôn giáo, người ta sợ nếu cho lấy người ngoài thì con cháu sau này sẽ thờ những thần thánh khác.

Trong những cuộc hôn phối giữa người Do Thái và người ngoài thì quan niệm Do Thái thường chỉ công nhận những đứa con là Do Thái nếu mẹ chúng là người Do Thái. Dân tộc của mẹ tôi cũng “hơi bị” khôn ngoan đấy chứ. Phải theo mẹ thì mới chắc chắn được, theo bố thì… giống nòi của mình không thể đảm bảo được đâu. Cháu ngoại thì bao giờ cũng là chắc chắn rồi. Vì thế tôi, Schditt von deBalle-Kant, chính xác là một người Do Thái. Và, thưa, tôi rất tự hào được làm người Do Thái.

Có lần tôi hỏi mẹ tại sao ngài Hitler đồng hương của mẹ lại tàn sát người Do Thái khủng khiếp thế?

Mẹ tôi nở nụ cười xót xa mai mỉa: “Đôi khi cả một dân tộc gặp thảm họa khủng khiếp chỉ vì những lí do hết sức vớ vẩn, nhất là khi quyền lực nằm trong tay một chế độ độc tài. Mẹ nghe nói hồi còn trẻ lang thang ‘chu du thiên hạ để học rùng mình’[4] Hitler có quan hệ với một cô gái điếm người Do Thái. Thế rồi Hitler bị lây bệnh giang mai nặng đến mức teo mất một bên tinh hoàn và từ đó không thể có con được nữa. Hitler hận lắm thế là hắn trút mối thù lên toàn bộ dân tộc Do Thái, thề giết sạch không còn mống nào. Kết quả là 6 triệu người Do Thái đã chết thảm.

Nên nhớ dân Do Thái hiện nay rải rác khắp thế giới cũng chỉ có khoảng 13 triệu.”

 

Ôi, thật là oái oăm!

Oái oăm dã man!

Như vậy có thể nói cả một dân tộc thông minh và ưu tú đã gặp thảm họa diệt chủng chỉ vì thiếu… bao cao su.

 

Nhân đây xin có lời chắc chắn rằng phải phong vnExpress là nhà cung cấp hàng đầu thế giới về những thông tin kiểu như về băng vệ sinh hay bao cao su.

Cụ thể đây:

Bao cao su ra đời như thế nào?


image001

Ảnh: futureupdate.

Phụ nữ châu Phi dùng cỏ hoặc các mảnh vải như một vật cản, các nàng geisha Nhật Bản dùng giấy trúc, còn giới nữ ở khu vực Địa Trung Hải ưa chuộng miếng bọt biển tẩm nước chanh.

Con người đã nỗ lực rất nhiều qua từng thời đại để tìm ra thứ giúp họ hưởng thụ sex nhưng lại không bị dính bầu.

Bao cao su đầu tiên xuất hiện vào thế kỷ 10 trước Công nguyên. Tuy nhiên, phải đến vài nghìn năm sau con người mới quay lại dùng biện pháp tránh thai này.

Một trong những cách trách thai đầu tiên được ghi nhận là do phụ nữ Ai Cập cổ đại sử dụng. Họ bôi phân cá sấu vào âm đạo như một chất diệt tinh trùng để ngăn ngừa hạt giống của quý ông lọt vào bên trong. Vào thế kỷ 2 sau Công nguyên, thầy thuốc phụ khoa Soranus of Ephesus của Hy Lạp đã khuyên phụ nữ bôi chất lấy từ nghệ hoặc quả lựu quanh âm đạo để giết tinh trùng và tránh thụ thai.

Bên cạnh việc sử dụng các loại thực phẩm, Soranus còn khuyên phụ nữ ngồi xổm ngay sau khi quan hệ và hắt hơi càng mạnh càng tốt. Theo ông, cơn hắt hơi sẽ đẩy mọi chất nhày ra ngoài.

Kể từ khi con người sáng tạo ra băng vệ sinh, một số quyết định sử dụng vật này như một dụng cụ tránh thai. Kết quả là phụ nữ trên toàn thế giới bắt đầu nhét đủ thứ vào chỗ kín của mình. Tuy nhiên, những thử nghiệm đó chỉ mang lại thương tích, gây nhiễm trùng bên trong và cuối cùng dẫn đến vô sinh.

Bác sĩ Gabriello Fallopius người Italy là người đầu tiên sáng tạo ra bao cao su bằng vải lanh. Ban đầu miếng vải được sử dụng như một công cụ ngăn ngừa bệnh giang mai chứ không phải tránh thai.

Tiếp đến, các loại bao cao su lần lượt được làm bằng dạ dày động vật, bằng da giả và da thật. Tuy nhiên, những loại này rất đắt và khó để tạo ra. Kể cả sau này khi cao su ra đời và tạo ra một bước phát triển lớn trong việc sản xuất bao cao su, nhiều quốc gia vẫn cấm quảng cáo loại sản phẩm này. Kết quả là rất khó để mua bao cao su và những ai kiếm được thường sử dụng hơn một lần.

Minh Thi (theo Pravda)

 

Vâng, đúng vậy. Mặc dù xuất hiện từ thời cổ đại và được sử dụng 3.000 năm rồi nhưng bao cao su mới được phổ biến mấy chục năm qua. Đặc biệt, từ năm 1994 với sự ra đời của bao cao su polyurethane cho phép người ta làm ra những chiếc bao siêu mỏng (chỉ 0,02 mm) thì khoái cảm càng ngày càng dầy!

Trên thực tế người ta còn dùng bao cao su cho nhiều việc khác như buôn lậu ma túy, chứa các mẫu đất thí nghiệm… Trong các gulag (trại lao động) ở Nga Xô cũ người ta còn dùng nó để mua rượu lậu, mỗi cái bao có thể chứa tới 3 lít. Còn muốn thám hiểm vùng Amazon mọi người nhớ đeo bao sẵn vào nhé, ở đây có một loài cá nhỏ tên là candirú rất thích chui vào đũng quần quấy nhiễu bạn, hoặc kinh hơn nó còn chui cả vào niệu đạo; nó rất nghiện mùi nước tiểu và máu.

Nản thay, Giáo hội La Mã lại cấm đoán không cho dùng cái bao này. Vì thế mà ông nội tôi, tên cựu-Faschist-Ngoại-giáo-đổi-sang-Công-giáo, đã từng lắp bắp cầu xin “người đồng hương”/đức Giáo hoàng Benedict XVI, cho phép các giáo dân được xài nó.

 

Nhưng sản xuất ra nhiều bao cao su cũng chỉ là hạ sách. Thượng sách là phổ biến và giáo dục dân chúng các kinh sách về nghệ thuật tình dục của cổ nhân. Hãy mời các sex guru đến giảng dậy trong các trường đại học đẳng cấp quốc tế và quốc gia cùng khắp toàn dân.

Giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (1930~) đã khẳng định “tình dục là vô cùng quan trọng” trong cuộc tọa đàm về tác phẩm khét tiếng sặc sụa tinh khí mang tên Hột cơ bản (Les Particules élémentaires, người Anh dịch thành Atomised) của “Pháp quốc đệ nhất quỷ văn” Michel Houellebecq (1956/58~) tại L’Espace – Hà Nội.

Với văn hào Nhật Haruki Murakami (1949~) thì lí do thật rõ ràng: “Sex và bạo lực có thể coi là những cánh cửa quan trọng để bước vào thế giới tâm linh của con người.” v.v…

Thế mà, thật thất vọng, tại sao chưa có nhà nước nào, chính phủ nào quan tâm sâu sát đến vấn đề này với những giải pháp thiết thực nhất. Hãy thực hiện thượng sách kể trên đi trước khi quá muộn. Cứ theo đuổi hạ sách mang tên “bao cao su” thì tốn tiền lắm, xin hãy đọc lại chương 2 sẽ rõ; và đúng như đương kim Giáo hoàng Biển Đức XVI (Latin: Benedictus) đã tuyên cáo trên chuyên cơ trên đường thăm Lục địa Đen khi nói về đại dịch AIDS: “Đây là bi kịch mà bạn không thể ngăn chặn chỉ bằng tiền bạc, bằng việc phân phát bao cao su, bởi vì chúng chỉ làm tăng thêm các vấn đề.”

image002

 

 

 

@

 

 

LỜI BÀN [PHÍM…] CỦA CÁC NETIZEN

 

Trần_X:

Thử cùng xem Google Translate dịch mấy cái title xem sao nhỉ:

- Mảnh ức phiêu ký = Vote up pieces of memories (Giỏi! “Ký phiếu những mảnh [hồi] ức”)

- Những linh hồn khốn nạn = Souls hound

- Những linh hồn khốn nịn = Desperate souls should // Khốn nịn souls

- Những mảnh hồn lưu vong = The powerful exile // Soul pieces in exile

- Những mảnh hồn trần = But stronger trân (Quá thú vị! “Nhưng mạnh hơn trân”) // Nude soul pieces (Cũng hay, nhưng tôi thích “earthly/naked soul” hơn)

 

loinho:

Trời ơi, đọc chương này xong em thấy hiểu biết mình là hạt cát trên sa mạc hà trời, mất mấy phần trăm tự tin :( (

 

ĐẶNG THÂN:

Thiết nghĩ đọc xong em phải trở nên tự tin hơn trước mới phải chứ :) )

 

Quasimodo:

:) Đọc tới trang này thấy nặng đầu quá vì ghiền! Còn tiếp chứ? Để tui còn chuẩn bị thuốc bổ óc.

 

Trinh Nguyen:

Tua sach se la ‘Những mảnh hồn trần’ ha anh? Nghe rat thu hut va thu vi.

 

nguyen lien:

Chuong nay triet ly nhieu wa anh, ma sau sac phai doc ki mai moi hieu! Nhung khong dam tranh luan vi hay va minh thi wa be nho.

 

ĐẶNG THÂN:

Sợi lông còn nặng nữa là

Núi Thái cũng nhẹ như là hư không

 

J Ý KIẾN CỦA BẠN:

 

 

 

 




[1] "Vì hòa bình, tự do và dân chủ. Không bao giờ còn chủ nghĩa phát xít. Hãy nhớ đến hàng triệu người đã chết.”

[2] Những nguời khốn khổ.

[3] Schditt chơi chữ. “Corset” là coóc-xê/áo nịt ngực.

[4] Tên một truyện nổi tiếng trong tuyển tập truyện cổ tích của anh em Grimm ở Đức.

bài đã đăng của Đặng Thân


1 bình luận »

  • Đặng Thân viết:

    Mong các quý bạn đọc hãy chia sẻ cùng tôi những ý kiến của mình tại đây hoặc gửi tới địa chỉ email: dangthan@live.com

    Rất mong sẽ được thấy ý kiến / lời bàn [bình] của bạn xuất hiện trong cuốn sách này khi in hay “tái bản”.

    Xin cảm ơn rất nhiều!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)