Trang chính » Biên Khảo, Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 29, Tiểu luận Email bài này

Nhã Ca – Một Huy Hoàng Trên Cỏ Mướt

 


Nhã Ca Trong Văn Học Miền Nam 1954-1975: Một Huy Hoàng Trên Cỏ Mướt

 Image

(Nhã Ca và các nữ sinh Đồng Khánh trong lễ trao tặng Huế tác quyền thứ nhất của “Giải Khăn Sô cho Huế”)


Dù chẳng có gì mang lại giờ phút
Huy hoàng trên cỏ mướt, vinh quang từ hoa thắm
Ta không tiếc nuối, mà cảm nhận
Sinh lực trong những gì còn lại.

Though nothing can bring back the hour
Of splendour in the grass, of glory in the flower;
We will grieve not, rather find
Strength in what remains behind ….

William Wordsworth, Những Gợi Ý về Bất Diệt (Intimations on Immortality)

Trong Văn Học Miền Nam, (quyển Thơ Miền Nam), nhà văn Võ Phiến đã nhận định về Nhã Ca như sau:

Sống giữa một thời không còn cấm kỵ, mà sôi nổi, mà cực đoan, Nhã Ca mạnh dạn tự mình chọn lựa tình yêu của mình, con đường hạnh phúc của mình, con đường đời của mình. Bà không ngần ngại bỏ nhà ra đi, đổi họ thay tên, phiêu lưu trong cái nghề viết văn làm báo. Tự do, bà thích nói đến tiếng ấy: tự do trong thể xác, trong đời mình ….[1]

Nhã Ca, trong chân dung của Võ Phiến, là một Nhã Ca cương quyết, chắc nịch, không biết sợ. Nói một cách khác, một Nhã Ca có diện tướng … hoàn toàn đàn ông. Người viết không nghĩ thế. Có lẽ nhận xét của Võ Phiến, và cũng của nhiều nhà văn có một định nghĩa giản dị về danh từ feminism–feminism là nữ quyền, nhưng nữ quyền ở đây chỉ đảo ngược vấn đề phái tính: nữ quyền là quyền của đàn bà được cư xử “tự do” như đàn ông. Chính ra, feminism, nếu được hiểu như phụ nữ học, là cả một gian sơn mênh mang và phong phú. Trong văn chương miền Nam Việt Nam trong thời điểm 1954-1975, như văn chương Tây Phương trong bán thế kỷ 20, của những nhà văn phụ nữ như Edith Wharton, Virginia Woolf, Sylvia Plath, ánh nhìn của phụ nữ, ảnh hưởng từ xã hội, thường biểu lộ nhiều xung đột và thương lượng, giữa quyền lực và yếu thế, giữa ước mơ được độc lập và sự đày ải trong hoàn cảnh cá nhân, gia đình, và tài chính. Thơ văn của Nhã Ca, như văn chương của Túy Hồng, của Nguyễn thị Thụy Vũ, của Trần thị Ngh., cũng biểu lô những mâu thuẫn và xung đột này.

Nếu Nhã Ca được coi là “cực đoan” hay “sôi nổi” hơn những nhà văn phụ nữ khác trong cùng thời, có lẽ cũng vì bà đã thành thật …đến tàn ác với chính bà, và tự gánh lấy trách nhiệm cho những quyết định trong nghề nghiệp và đời sống cá nhân. Nhân vật trong những tác phẩm của Nhã Ca không đổ tội cho thời thế, cho đàn ông, cho đàn bà cạnh tranh tình cảm và sắc đẹp như nhân vật ca sĩ “có giáng đi khắc khổ” của Túy Hồng trong Lòng Thành. Nhân vật của bà cũng không có thái độ chán chường, mơ hồ, tuyệt vọng của những phụ nữ bị bệnh hiện sinh thời cuộc như Ngọc trong truyện Trời Xanh Trên Mái Cao của Nguyễn thị Hoàng, hay Linh trong Bà Điếc của Nguyễn thị Thụy Vũ. Cũng không phiêu lưu tình cảm và thể xác … chỉ vì muốn phiêu lưu như người con gái trong truyện Nhà Có Cửa Khóa Trái của Trần thị Ngh. Cơn bệnh hiện sinh thời cuộc, hoặc những chán chường, hay trâng tráo sống sượng–khi được nhìn qua lăng kính của 40 năm sau, ở một xứ sở hoàn toàn tự do và đầy dẫy những ảnh hưởng không cổ truyền–đã cho ta thấy rằng nó chỉ là bề trái của nỗi bế tắc trong số mệnh.

Nhã Ca đi xa hơn, trong những tác phẩm bà không chấp nhận bế tắc, mà lúc nào cũng cân nhắc, đắn đo. Người phụ nữ tiêu biểu của Nhã Ca nhiều tình cảm, nhưng ít khi bồng bột. Trong Chuyện Đôi Ta, nhân vật Nguyễn, một nữ sinh 17, đã nghĩ rất sáng suốt về mình:

Nguyễn biết Nguyễn chứ. Đẹp rực rỡ, duyên dáng? Có lẽ Nguyễn không dám chủ quan. Nhưng tươi sáng, thông minh, nhanh nhẹn, đó là đặc điểm của Nguyễn. Chuyện tình tới muộn. Nguyễn phải rõ hơn hết mọi người. Tới chậm, vì người ta chưa muốn cho nó tới sớm. (Chuyện Đôi Ta, tr. 9-10)

Nhân vật Nguyễn của Nhã Ca cũng không khác chân dung của tác giả năm 19 tuổi, lần đầu tiên đuợc gặp mặt Trần Dạ Từ, người chồng tương lai đã đáp chuyến tàu từ Sàigòn về Huế mùng một Tết năm 1958 để “đối diện” người tình, sau hàng ngàn bài thơ tình qua bưu điện. Người con gái 19 tuổi năm ấy cố tự chủ khi đi bộ trên đường phố Huế, bên một người đàn ông vẫn còn xa lạ, “dấm dẳng nói năng giọng Bắc như ông tướng.” Cô gái có phần ngại ngùng, lo lắng, nhưng cố trấn an mình vì cô biết cô đang dấn thân trên một cuộc hành trình …lịch sử trong đời, và nó sẽ kéo cô đi xa mãi, ra khỏi tuổi nhỏ đang vượt dần tầm tay cô:

Đi nữa. Khuôn mặt anh ta lúc nào cũng như muốn lẩn vào bóng đêm. Mấy lần con bé phải nén tiếng kêu, cố để khỏi bổ nhào vì những con cóc ở đâu ra nhiều quá, nhẩy lon ton bên chân.

“Cóc à?”

“Cóc.”

Cứ dấm dẳng vậy cho tới lúc quay về bên cánh cổng sắt.

“Không nói gì à?”

“Bao giờ anh đi?”

“Không biết.”

Im lặng. Đứng. Gió. Con bé rút cổ lại.

“Em lạnh?”

“Không.”

“Mai làm gì?”

“Sáng, phải theo ba má sang chúc tết bên ngoại.”

“Mình còn gặp lại chứ? Buổi trưa?”

“Ở mô?”

“Anh ở khách sạn Đồng Lợi. Số 47, đường Gia Long, trên lầu, phòng số 4.”

Khách sạn? Con bé mà dám leo lên một khách sạn giữa thành phố Huế? Có mà muốn tự tử.[2]

Trái với nhận định của Võ Phiến, những nhân vật của Nhã Ca không “cực đoan” hay “sôi nổi” hay “bù lu bù loa” vì họ là loại đàn bà thường tình. Họ cũng không coi tự do là quyền người đàn bà đương nhiên được hưởng, mà là cả một cố gắng, chờ đợi, kiên trì. Nếu những quyết định của những nhân vật trong truyện của Nhã Ca có chiều hướng phản lại truyền thống cổ truyền, thì sự “phản bội” ấy cũng tiêu biểu cho nhiều đắn đo, u hoài và thương lượng với những yếu tố đã hiện hữu:

-Con kể cho bố mẹ nghe. Chuyện như thế nào?

-Dạ, chúng con rất mến nhau.

Mẹ:

-Mến nhau. Được đi. Nhưng mến rồi để đi đến đâu?

-Con không nghĩ gì cả. Chuyện còn xa vời. Chúng con chỉ đi quá tình bạn một chút.

Mẹ lắc đầu:

-Không thể như thế được. Yêu để không làm gì hết. Không mục đích. Gia đình cậu ta chẳng biết con, cậu ta cũng chẳng cần biết gia đình mình. Nguyễn, con ngu quá.

Tại sao phải biết tới nhiều thế trong lúc hai đứa chưa biết hết nhau? Nhưng Nguyễn không cãi …. Những lời nói của Mẹ, hẳn có lý, đối với bà và nhiều người, đối với Nguyễn lại xúc phạm nặng nề….

Nguyễn nghĩ ra lối thoát. Quên và học …. Cứ để cho người lớn tính toán. Nguyễn đã có chủ định, đã có con đường để đi. Học cho xong cái đã, rồi xin xuất ngoại. Thời gian còn bao nhiêu đổi thay, lo gì…. [3]

Mặc dù những nhân vật nữ của Nhã Ca có phần thực tế, khôn ngoan, và lô-gích, Nhã Ca không có một cái nhìn “cằn cỗi,” “già trước tuổi” như thế hệ đàn ông của những đồng nghiệp hoặc bạn bè cùng thời: Vũ Khắc Khoan (viết về những “lộng ngôn” mơ hồ), Nguyễn Mạnh Côn (đã “lập thuyết với những trầm tư siêu hình bí hiểm”), Doãn Quốc Sỹ (cay đắng, uất ức giữa hai chặng đường, giữa sự cuồng tín của người cộng sản và “bãi rác thủ đô” của người quốc gia trong Khu Rừng Lau),[4] Dương Nghiễm Mậu (trong lời Bạt cho tập Nhã Ca Mới “chúng tôi thật đau khổ, nhưng chúng tôi không thể làm gì khác”) [5] đã coi nghiệp cầm bút như một chuyến du hành bất đắc dĩ của người khổ hạnh, một cách “trốn thế sự” đầy chán chường và mệt mỏi. Nhã Ca, ngược lại, đã có những tác phẩm rất gần gũi với giới trẻ.

Nhà văn Võ Phiến đã thấy rằng ở chặng cuối thời điểm 1954-1975, văn chương miền Nam đã “trẻ dần trẻ dần, cuối cùng họ sắp thành trẻ nít.”[6] Ông than thở rằng những nhà cầm bút miền Nam, ngoài Nhã Ca có Từ Kế Tường, Hoàng Ngọc Tuấn, Nguyễn thị Hoàng, Đinh Tiến Luyện, Duyên Anh, đã đi theo đòi hỏi của thị trường để các độc giả “thân ái” của mình lôi từ tuổi cao xuống tuổi thấp, từ một tuổi trung niên đầy ưu tư xuống một lứa tuổi ô mai nũng nịu hay toe toét ….”[7] Có lẽ sự chú trọng vào giới trẻ cũng nói lên sự mất tin tưởng của người cầm bút với thời thế của những ”người lớn.” Như nhà văn Lệ Hằng đã chất vấn Mai Thảo:

Tại sao anh và cả nhóm bạn bè trong Sáng Tạo không nắm lấy thời cơ ấy vực dậy một nửa nước cho vững vàng, sao các nhà văn đầy may mắn ấy không làm được chút gì cho mai sau, cho miền Nam rã rời phân hóa ấy, để sự rã rời của Miền Nam đẩy nửa nước vào tay thiên hạ, tức tưởi và nhục nhã như vậy!?[8]

Nhã Ca, trái với lời ”buộc tội” của Lệ Hằng đối với nhóm Sáng Tạo, đã chứng tỏ nỗ lực chia xẻ với thời cuộc và hướng về tương lai giới trẻ học thức của miền Nam. Trên những đặc san cuối năm do Đại Học Y Khoa Huế xuất bản, trong phần tin tức thường có loan báo ”luận án tiến sĩ y khoa đoạt giải thưởng Nhã Ca” hàng năm. Đây là một giải thưởng được Nhã Ca thiết lập năm 1969, cũng chính do bà bảo trợ. Khoản tiền dùng cho giải thưởng này chính là tác quyền cuốn Giải Khăn Sô Cho Huế, bút ký Nhã Ca viết về biến cố Mậu Thân tại Huế. Trước Tết 1967, Nhã Ca đã từ Sàigòn về Huế chịu tang thân phụ. Bẩy ngày sau, cuộc tổng công kích Tết Mậu Thân bùng nổ. Nhã Ca bị kẹt lại ở Huế hơn hai tháng, và những bi thương thảm hại, những điều bà được trực tiếp nhìn và nghe thấy đã tạo thành Giải Khăn Sô Cho Huế. Toàn bộ tác quyền đầu tiên của bút ký nổi tiếng này đã được Nhã Ca dành tặng cho Huế, như một cử chỉ ”chịu tang” chung với đất nước và gia đình.[9]

Nhã Ca cũng đi xa hơn những nhà văn cùng thời khi đã nhận định trách nhiệm và sự ảnh hưởng của bà với thế hệ mới lớn. Vào đầu thập niên 1970s, bà xuất bản những tác phẩm trong loạt sách“Trăng Mười Sáu” viết riêng về tình yêu và tuổi mới lớn trong chiến tranh, như Bầy Phượng Vỹ Khác Thường, Ngày Đôi Ta Mới Lớn, Bé Thơ, Ngày Thơ Tình Thơ, Bước Khẽ Tới Người Thương v.v…. Tủ sách “Trăng Mười Sáu” lấy ý và tên từ hai câu thơ trong bài thơ tình của phu quân Trần Dạ Từ :

Em mười sáu tuổi, trăng mười sáu
Mười sáu trăng chờ, em nhớ không?
[10]

Trong một cuộc phỏng vấn với nhà báo Nguyễn Mai vào mùa hè 1973, Nhã Ca đã cho biết tác phẩm mở đầu loạt sách này là Trưa Áo Trắng, viết về khung cảnh những buổi trưa êm ả quanh trường nữ trung học Gia Long, và một chàng lính trẻ từ mặt trận lạc về rừng áo trắng đó, để thấy rằng “giữa những cặn bã, dơ bẩn của thành phố, vẫn còn những mảnh nhỏ thơ mộng, tinh khiết, đáng yêu….”[11]

Tương tự, trong thơ của bà, Nhã Ca đã nhận thấy cái nhìn của tuổi trẻ–dập dình giữa từng trải và vô tội, giữa quá khứ và biển cả trước mặt (như hình ảnh cuối cùng của Antoine Doinel trong phim Les Quatre Cents Coups của Truffaut), là cái nhìn trung thực nhất trong thời loạn:

Trong khu vườn trẻ thơ của nàng có tất cả
Tất cả những gì mọi người có thể nghĩ ra
Sự giáo dục buông thả thổi lớn cô bé
Bầy ngựa dạy nàng sự hung hãn
Người đàn bà điên dạy nàng những ảo tưởng
Con rắn dạy nàng sự khôn ngoan
Bầy dã tràng dạy nàng sự tan vỡ
Mặt trời dạy nàng sự nhẫn nhục
Và biển dạy cho nàng khóc lóc
…[12]

(Đi Trong Tuổi Nhỏ)

Nhã Ca hiểu được những nghịch lý của thân phận, những vai trò chồng chéo lẫn nhau lên một con người: nghệ sĩ, tình nhân, vợ, mẹ, người của chính trị và thời cuộc. Hình ảnh người đàn bà trong thơ Nhã Ca có thể huy hoàng, diễm lệ, và có tầm thước vũ trụ:

Hỡi các chị, chúng ta đều sáng như mặt trời
tinh khiết như bình minh
vì chúng ta làm ra ái tình
ra hoa lá và sự sống trên trái đất.
[13]

(Đàn Bà Là Mặt Trời)

Hay cũng có thể xôn xao, khắc khoải trong nhiệm vụ nhân chứng trong thời chiến:

Tất cả thở trong đêm nhừ tử
Thở trong đêm và thở trong tôi
Thở trong lịch sử
[14]

(Đêm 1964)

Hoặc là một thiếu phụ nhỏ bé, cô đơn, từ người tình thủa nào giờ đã trở thành bà mẹ. Trước thế hệ con trẻ, người mẹ cảm thấy mình không có đủ quyền lực để chinh phục được hết những bất an trong đời sống của đứa con:

Tôi bây giờ đứng thu thân
Sống cam phận nhỏ chia phần an vui
Cây mang nặng vết thương người
Phố xưa tiếng động đã vùi lấp anh
Cổng rào nhỏ dấu chim xanh
Nỗi bi thương cũ xin dành phút giây
Vết chân con lẫn bóng ngày
Lá bi quan thoắt rơi đầy tuổi thơ
.[15]

(Vết Chân Con)

Trong văn chương thế giới, có lẽ người phụ nữ có diện mạo và di sản văn chương gần nhất với Nhã Ca là Simone Weil, triết gia, nhà hoạt đông chính trị, và nhà văn Pháp (1906-1943). Simone Weil coi thế giới như màn kịch sinh động giữa tâm linh và chính trị, giữa cô đơn và cộng đồng, và văn chương của bà lúc nào cũng là nhịp cầu giữa hoài bão cá nhân và ước mong quần chúng. Nhịp cầu này là cách Simone Weil dung hòa tinh thần tự quyết của cá nhân với nền tảng và ký ức văn hóa, lịch sử và xã hội. Nhã Ca, như họa sĩ Chóe miêu tả bà: nữ thần Công Lý với một tay đong đưa lịch sử quê quán cố đô Huế, một tay mang nặng thuyền Việt Nam, không phải là con người thơ thới. Như Simone Weil, văn chương bà, dù là văn chương viết về tuổi trẻ, vẫn trĩu nặng ưu tư. Nghệ thuật của bà là cuộc đời trước mặt. Ở bà, cá nhân là chính trị, là xã hội. Bà có chân dung đầy góc cạnh nhọn, như những bức tranh của Braque, của Picasso.

Nhã Ca là một nhà văn độc lập và bất khuất, bà cũng là một tiêu biểu rõ rệt nhất cho nền văn chương nhân bản của miền Nam trong thời kỳ 1954-1975.

Chú thích:


[1] Văn Học Miền Nam (quyển thơ) (Văn Nghệ: 1999), tr. 3000.

[2] Mùng Một Tết 1958, trích Hồi Ký Nhã Ca (Thương Yêu: 1990)

[3] Chuyện Đôi Ta, tr.52-53.

[4] Võ Phiến, Văn Hoc Miền Nam Tổng Quan (Văn Nghệ: 2000), tr. 130-134

[5] trích từ tập Nhã Ca Thơ (Vietbook, USA: 1999), tr. 18.

[6] Võ Phiến, Văn Hoc Miền Nam Tổng Quan, tr. 105.

[7] Như trên, tr. 106.

[8]Lệ Hằng, Mea Culpa (về Mai Thảo), trong Nói Thầm Với Đá, tr. 16. (Tân Thư: 1998)

[9] Đặng Tường Vi (Việt Tấn Xã), Nhã Ca: Nhà Văn Nữ có Số Tác Quyền Lớn Nhất, trích từ Phần Phụ Lục của Chuyện Đôi Ta (NXB Xuân Thu, Houston: 1976), tr. 169-170.

[10] Trần Dạ Từ, trong tập Thủa Làm Thơ Yêu Em

[11] Nhã Ca, Phút Nói Thật , phỏng vấn của Nguyễn Mai (tạp chí Văn), trích từ Phần Phụ Lục của Chuyện Đôi Ta, tr. 187-188.

[12] Nhã Ca Thơ, tr. 107-110.

[13] Như Trên, tr. 115-121.

[14] Như Trên, tr. 76-77.

[15] Như Trên, tr. 89.

 

 

 

 

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)