Trang chính » Giữa Người Viết & Người Đọc Email bài này

Đặng Thơ Thơ: Giữa Người Viết và Người Đọc

Quý độc giả thân mến,

Xin cám ơn những nhận định của quý anh chị về truyện ngắn Lý Lịch Hoang Tưởng Của Tôi (http://damau.org/2008/11/l-l%e1%bb%8bch-hoang-t%c6%b0%e1%bb%9fng-c%e1%bb%a7a-ti-2/)  trên Da Màu trong những ngày qua. Tôi rất cảm động và vinh dự được các anh chị đọc thật kỹ và gửi những nhận xét rất chân tình về bài viết.

Đúng như độc giả Thuan nhận xét “Năm 1995, lúc “người ‘Lý lịch Hoang Tưởng’ ra đời, B.O chưa tranh cử tổng thống”. Đây chỉ là một điểm tung hỏa mù, cố tình, của người viết nhằm minh chứng tính thiếu xác thực/bịa đặt/xuyên tạc quanh những lời đồn đãi về lý lịch Obama trong thời gian tranh cử (Hồi giáo, khủng bố, khai sinh ngoài nước Mỹ…) Và cũng rất đúng là sự kỳ thị có thể xảy ra ở bất kỳ môi trường nào. B.O. đã từng bị chính người da đen đặt câu hỏi, liệu ông ta có “quá trắng”, hay có “đủ đen” để đại diện cho người Mỹ gốc Phi tại Hoa Kỳ?

Một độc giả khác đã nhận xét chuyện kỳ thị người da đen “là một sự thật khá đau lòng của một số người Việt Hải ngoại”. Phần này thì hoàn toàn đúng, không hư cấu chút nào. Cũng chính vì điểm then chốt này mà tôi cảm thấy bị thôi thúc, khá bức thiết, để viết Lý Lịch Hoang Tưởng, như một lời nhắn gửi đến cộng đồng / đa số giới truyền thông người Việt vùng Bolsa: nếu quả thật có một Amabo Kcarab Nguyễn, mẹ Việt bố da đen, chúng ta có phản ứng ra sao? Chúng ta đối phó với bản năng kỳ thị trong chúng ta cách nào?

Rất nhiều người đã nói rằng họ không bầu cho Obama không phải vì kỳ thị, mà vì muốn bày tỏ sự biết ơn và lòng trung thành với McCain. Nhưng khi được hỏi nếu đây là cuộc tranh cử giữa Hillary Clinton và John McCain thì họ chọn ai, họ đáp họ chọn Hillary. Vậy thì vấn đề chính hẳn không phải là lòng trung thành với McCain nữa, mà là một uẩn khúc khó nói hơn? Vài người khác có đủ can đảm để nói thẳng những suy nghĩ trong đầu họ (với tôi) về việc không thể ủng hộ Obama như sau:

– Tôi không tin tưởng người da đen (chị họ tôi, sang Mỹ năm 1984).

– Người đa đen không thể làm tổng thống Hoa Kỳ được (bạn tôi, đi du học năm 1968).

– Trong cuộc bầu cử này, chính di dân Mễ và dân da đen đã chiếm đoạt Nhà Trắng (một đồng nghiệp Mỹ trắng sinh trưởng ở miền Đông Hoa Kỳ, nói với một người khác trong sở).

– Barack là dân Hồi Giáo và khi tuyên thệ nhậm chức thượng nghị sĩ tiểu bang Illinois nó đã thề trên kinh Qu’ran chứ không phải Kinh Thánh (cô giáo tôi, giáo sư Anh Văn ở Sài Gòn, đạo Tin Lành, đến Mỹ năm 1990).

– I’m a racist (bác tôi, sang Mỹ năm 1975).

Đây là những sự thật đáng buồn, nhưng dẫu sao họ đã nói lên sự thực. Tôi vẫn muốn nghe những sự thực thô nháp hơn những lời nói dối tinh vi. Điều đau lòng nhất là con trai tôi, người đã điền vào lá phiếu khiếm diện của tôi trong truyện, cũng đã nghe phải một số những lời trên. Vì vậy cháu đã xin tôi được điền vào khung dành cho Barack Obama. Hành động này, ngược với những tị hiềm màu da hay những nỗ lực cứu chuộc quá khứ không cần thiết (chiến tranh Việt Nam); là một bước đi đến tương lai, một cách viết vào lịch sử thế giới dấu ấn của thế hệ trẻ Việt Nam tại Hoa Kỳ.

 

&

 

Tôi cũng xin được viết riêng cho độc giả Phương Nguyễn về truyện ngắn Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối (ĐTBKTC) (http://damau.org/2008/09/di-tm-b%e1%ba%a3n-kinh-thnh-cu%e1%bb%91i-2-2/) trên Da Màu theo như yêu cầu của chị.

Chị Phương Nguyễn thân mến, viết ĐTBKTC là một quá trình sáng tạo và xây dựng, vừa sắp đặt vừa ngẫu nhiên, bằng phương pháp tổng hợp và liên kết những ý tưởng – chủ đề – sứ điệp thành một khối nhuần nhuyễn, một tổng thể phức điệu trong một cấu trúc chặt chẽ; để tạo nên một bầu khí quyển đặc thù cho tác phẩm. Trong khi đó, phân tích văn bản lại là hành trình đi ngược. Từ một khối kết cấu khắng khít, chúng ta lại tách rời từng thành tố, lấy ra từng chất liệu đã tạo nên hợp chất trước đó. Cũng có thể ví như hai hành động nghịch chiều: đi trên một con đường và rải những hạt gạo, rồi đi ngược lại con đường nhặt những hạt gạo lên. Nói về cái viết của mình là việc thật khó khăn cho một người viết (khó khăn hơn chuyện viết thật nhiều) khi phải nhìn lại và mổ xẻ chính văn bản của mình. Tôi sẽ cố gắng trong khả năng để nói thật ngắn gọn và cô đọng.

Chúng ta có thể đọc Đi Tìm Bản Kinh Thánh Cuối như một hành trình của một tu sĩ giữ việc soạn thảo kinh thánh cho giáo hội, đã hứa nguyện trọn đời trung thành với Giáo Hoàng (Giáo Chủ trong truyện) và Tín Giáo (Công Giáo); nhưng cuối cùng lại đi theo một con đường khác mà tôn giáo của ông lên án là tà đạo. Vì vậy ông gọi cuốn kinh ông viết là cuốn Phúc Âm Phản Bội. Đây cũng là một cách nhìn khác về nhân vật Judas trong kinh thánh. Judas là chiếc bóng muôn đời của Jesus. Judas là mặt kia của Jesus. Judas là nền tảng của Thiên Chúa Giáo. Cái chết và sự phản bội của Judas là phần trưng bày ngoài mặt – nhưng bên trong là sự sắp đặt của Jesus. Sự phản bội (Judas) và sự vâng phục (Jesus) đóng vai trò ẩn dụ trong Tân Ước, những cuốn sách mà tôi đọc như  tác phẩm văn chương hơn là những giáo điều khô cứng.

Đây cũng là một cuộc “thánh chiến” giữa hai phe Tín Giáo và Tri Giáo, một bên đặt sự cứu chuộc trên căn bản niềm tin, một bên quan niệm việc giải thoát dựa trên giác ngộ tâm linh. Nếu Phương Nguyễn đọc đoạn nói về Mary Magdelene và Tri Giáo (Gnostic), thì sẽ thấy vai trò của Mary trong giai đoạn sơ khởi của Thiên Chúa Giáo và khuynh hướng của Tri Giáo là dùng lương thức để đạt đến giác ngộ (về điểm này thì Tri Giáo khá gần với Phật học và triết thuyết của Lão Tử, cho thấy khuynh hướng giao thoa giữa Đông và Tây trong cách nhìn tâm linh trong những thế kỷ đầu Công Nguyên).

ĐTBKTC còn có tham vọng muốn soi tỏ lại một chân dung toàn vẹn của Mary Magdelene, người được coi là đứng đầu Tri Giáo, không phải một chân dung phiến diện hay một thân xác nhục thể, mà là một tông đồ của Jesus:

“Mary Mađơlen là người đàn bà có mình mà không đầu, hoặc có đầu mà không mình, và người đời sau chỉ biết một trong hai thứ. Thoạt tiên tôi chỉ biết cái đầu Mary. Cái đầu này chứa những khải thị huyền nhiệm và cả bản đồ chỉ dẫn đường đi của linh hồn. Cái đầu này thông minh xuất chúng và người ta bảo nó đã thu hết mọi lời Giêsu nói. Vì sợ nó gây thêm tổn thương cho niềm tin của chúng tôi, Giáo Chủ đã dùng thanh gươm vô hình lia ngang cổ, chặt phăng cái đầu đi. Từ đó truyền thuyết Mary người đàn bà không đầu đã biến Tri giáo thành một giáo phái huyền bí và ma quái.”

Có thể đọc ĐTBKTC như 1 cách nhìn về giới tính rất phóng khoáng của Jesus, khi chọn Mary Magdelene là người đứng đầu Giáo Hội; ngược lại với hình ảnh người phụ nữ tin kính bị trói buộc bởi quy ước đạo giáo (như phải vâng phục chồng mình theo cách Hội Thánh vâng phục Chúa). Những câu hỏi có thể đưa ra là: Giáo hội có đàn áp vai trò người phụ nữ trong việc truyền bá đạo lý? Giáo hội thời phôi thai có phản-nữ quyền? Việc Giáo Hoàng Gregory trong bài giảng năm 591 kết án Mary Magdelene là gái giang hồ có phải nhằm phục vụ những mục tiêu trên? Tuy đến năm 1969 Vatican đã lần đầu lên tiếng cải chính Mary Madaglene không phải người đàn bà tội lỗi trong sách Luke (Luca), và đến năm 1988 Giáo Hoàng John Paul II tuyên phong Mary Madaglene là “tông đồ của các tông đồ” trong văn bản chính thức của Giáo Hội; nhưng Mary vẫn tiếp tục bị xử dụng như một biểu tượng về tội lỗi và tình dục, như gái điếm trong nhạc kịch Jesus Christ Superstar; hay gần đây cuốn The Da Vinci Code của Dan Brown đã chỉ tiểu thuyết hóa Mary theo khía cạnh giới tính và dục tính.

“Thân hình Mary làm mọi việc đó mà chẳng cần có đầu. Vì cái đầu thật ra không cần thiết. Đầu và thân hình nàng là hai tự thể riêng biệt. Nàng mang thân xác phụ nữ nhưng cái đầu nàng khước từ giới tính.

Vì Giêsu không bị ràng buộc bởi cái nhìn giới tính. Vì giới tính chỉ thuộc về thân xác, nó là ảo ảnh và sẽ tan rữa khi chúng ta ngưng thở về với Chúa.”

Trong một mức độ khác, chúng ta đọc ĐTBKTC như một bản tự vấn của con người về chính niềm tin của mình, về các tín điều, về căn nguyên của một tôn giáo. Những câu hỏi đưa ra là: Kinh Thánh thực sự là gì? Kinh Thánh là lời Chúa phán? Hay Kinh Thánh là do con người tạo ra? Trong chừng mực nào thì cả hai giả thiết/đáp án có thể cùng tồn tại trong đời sống tâm linh của chúng ta?

Giáo Chủ bảo kinh thánh là lời Chúa, vì Chúa đã phán như thế. Những vị thánh ghi lại những gì Chúa nói, những gì Chúa làm. Tôi nói với ngài, các vị thánh cũng có thể ghi lại những điều họ tưởng là họ nghe, họ nghĩ là họ thấy. Cũng có thể những điều họ ghi chép là có thật, nhưng còn rất nhiều sự thật khác mà họ không thấy hoặc không nghe.”(ĐTBKTC)

«  Kinh thánh là một bài toán nhức đầu nát óc. Một bài toán có thể sai đáp số nhưng vẫn phải chấp nhận nó như đáp số duy nhất. Để soạn Kinh Thánh chúng tôi không chọn tính cộng mà làm tính trừ, trừ hết những gì khác biệt. Kinh Thánh không nên là một tập hợp của quá nhiều sự thật, như một phiên tòa là tập hợp của nhiều nhân chứng, như một bài toán là tập hợp của tất cả các phép tính. Kinh Thánh chỉ nên là 27 cuốn sách còn lại sau khi đã loại đi những kinh sách khác.

(…) Nếu chúng ta có những định nghĩa khác nhau về niềm tin, thì mẫu số chung của niềm tin là gì? Chẳng lẽ không thể có mẫu số chung mà chỉ có hiệu số của một bài toán trừ bất tận, niềm tin này trừ khử niềm tin kia? Niềm tin nào giá trị hơn niềm tin nào? Niềm tin thắng thế của kẻ mạnh chăng? »

Kinh thánh không phải từ trên trời rớt xuống, do bàn tay Chúa ném ra cho nhân loại, mà là sản phẩm của loài người, do con người viết trong khoảng thời gian hơn 1,500 năm, với hơn 40 tác giả Cựu Ước và Tân Ước, viết bằng nhiều ngôn ngữ trên ba châu lục khác nhau. Khi viết ĐTBKTC, trong đầu tôi nảy sinh một loạt những câu hỏi khác: Các cuốn kinh Tân Ước được thiết lập nhằm phục vụ một agenda nào đó cho Giáo Hội chăng? Tại sao chỉ có 4 cuốn Phúc Âm của Mathew, Luke, Mark và John được tuyển chọn vào kinh thánh? Và tại sao những cuốn Phúc Âm khác của các tông đồ còn lại: của Thomas, của Philip, của Judas và của Mary Magdelene bị loại ra, bị truy lùng và bị hủy diệt – dẫn đến sự mất tích những văn bản này hằng nhiều thế kỷ?

Đoạn cuối cùng của ĐTBKTC:

“Chỉ còn lại một bản kinh thánh cuối rách nát nằm chờ lửa liếm trên sàn gỗ. Để cứu vãn nó khỏi chu trình tàn hủy tôi phải học thuộc lòng hết cuốn kinh, tôi phải đọc lui từng chữ một, đọc từ cuối lên đầu, đọc từ sau về trước. Hành trình đọc hết thánh kinh để tìm ra chân lý là sáu ngàn năm đi ngược.

Cuối cùng tôi cũng vượt qua được thử thách này.”

Niềm tin đòi hỏi một hành trình đi ngược, truy nguyên về tận nguồn gốc. Chỉ có niềm tin thông qua tư duy mới cứu chuộc được tín lý. Mỗi người chúng ta đều phải tự viết lên một bản kinh thánh cho riêng mình. Đó sẽ là bản kinh thánh cuối. Đây cũng là một lời nhắc nhở cho mọi niềm tin, không chỉ riêng niềm tin tôn giáo. Mọi niềm tin về các chủ nghĩa, các triết thuyết, các khẩu hiệu, các giá trị, các thần tượng … luôn luôn cần kiểm chứng. Tất cả những câu hỏi đưa ra không nhằm phủ nhận niềm tin mà để xác tín lại niềm tin. Một niềm tin cần được thử lửa, để không là một niềm tin mù quáng.

Sau hết, và trên hết, tôi mong ĐTBKTC sẽ được đọc như một tác phẩm hư cấu, nhiều tầng ngữ nghĩa, xuyên thời gian, đa không gian, dựa vào những yếu tính văn chương trong đó. Tôi cũng mong mỗi độc giả sẽ tìm ra cho họ, và sẽ đem đến cho tác phẩm này, những góc nhìn mới, những góc độ mở, nằm ngoài dự tính của người viết.

 

Đặng Thơ Thơ

bài đã đăng của Đặng Thơ Thơ


1 bình luận »

  • Ly viết:

    You are amazing! :)
    Thanks for all explanations. They are even more fascinating than the short story itself.

    Cheers,
    Ly

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch