Trang chính » Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 24, Sáng Tác, Trích đoạn tiểu thuyết Email bài này

Theo Chân Những Người Tỵ Nạn – Phần 2

0 bình luận ♦ 18.04.2007

 

LTS: Đẻ Sách là một cuốn tiểu thuyết đang thành hình của nhà văn Đỗ Quyên. Có thể gọi Đẻ sách như một Siêu Tiểu Thuyết, tiểu thuyết về cách viết tiểu thuyết, trong đó những nhà văn ăn thịt đồng loại để cho ra tác phẩm. Có thể nhìn toàn bộ Đẻ sách như một ẩn dụ thông minh và tinh quái về quá trình viết, như cứu cánh và tận cùng ý nghĩa cuộc sống, nếu có, của con người. Cũng có thể thưởng thức Đẻ Sách theo từng trích đoạn, thưởng thức tính văn học cực kỳ cô đọng của từng chương; đồng thời vẫn không thay đổi cái nhìn về một cấu trúc tổng thể của tiểu thuyết, rất quy mô, phức biến, và làm chúng ta kinh ngạc.

Độc giả đã thưởng thức bút pháp tân kỳ của Đẻ Sách qua chương Ăn Tim trên Da màu số 16 (12 tháng 1, 2007), lần này chúng tôi trân trọng giới thiệu cùng độc giả Chương 2 của Đẻ Sách, nhan đề ‘Theo Chân Những Người Tỵ Nạn’. Vì dung lượng khá dài của chương này, được sự chấp thuận của tác giả, chúng tôi sẽ giới thiệu thành 3 kỳ trên suốt tháng 4, nằm trong chủ đề văn chương chiến tranh của damau.org.
Tiếp theo Phần 1 đã giới thiệu trên Da Màu số 23, xin mời độc giả theo dõi Phần 2.

Chương 2
Theo chân những người tỵ nạn

2.7

Minh Rô-lăng như một con quái vật của dân thiết kế xe hơi ở vùng biên giới Pháp – Đức. Công ty nào ở trong vùng anh ta cũng làm vài năm rồi ra đi để lại trong giới chủ sự thèm thuồng và tức tối, lưu trong đồng nghiệp sự thèm muốn và ngưỡng mộ. Tiền kiếm được phải nói là rất bội. Anh nuôi hai người “đàn bà”: xe hơi và đạo phái. Mà không đủ.
Xe hơi là thứ đàn bà không biết mệt trong cuộc làm tình với đàn ông của hai thế kỷ 20 và 21. Nó lấy đi không chỉ tiền bạc, sức lực là hai thứ đàn ông làm chủ. “Mụ đàn bà hồi xuân” – các giấc mơ xe hơi – làm tiêu hủy rất nhiều nhân tài khi mà sự đam mê của họ bị chia trí. Còn các tôn giáo, nhất là đạo phái. Thì cũng là đàn bà. Tôn giáo là loại đàn bà lưỡng tính. Nó hấp dẫn phụ nữ vô cùng nhanh chóng, bởi cùng là đàn bà. Nó thu phục đàn ông dễ dàng như chuyện trai gái ngoài đời.

Minh Rô-lăng, chỉ trong hai lãnh vực xe hơi và đạo phái, thực sự là đàn ông. Không biết ở người trai đó trong hai dòng máu Rồng Tiên và dòng máu Gà Trống Gaulois, dòng nào nuôi nấng lãnh vực nào. Dám máu Rồng Tiên của mẹ làm phù sa cho những nhánh sông mộ đạo lắm? Dân Việt đâu có ham chơi với tốc độ và tử thần nằm khỏa thân trên tay lái? Đích thị là dòng gà trống Gaulois ham rồi! Còn ai trồng khoai đất này nữa? Mà các nhánh đạo ở Minh Rô-lăng sao nó ngắn. Cha theo Tin Lành gốc Hà Lan di dân qua, anh theo đạo của cha cho đến hết trung học. Mẹ theo đạo Ông Bà. Anh cho là nhẹ, không có tư tưởng, kinh sách. Nên anh thành Phật tử khi còn là sinh viên. Anh gặp lại cô gái của thời trai trẻ Tonya trên danh thiếp luật sư Tonya Ziemann trong buổi lần đầu cả hai cùng tới nghe Vô thượng sư Thanh Hải giảng đạo. (Ngày đó, vị nữ luật sư không muốn có văn phòng cố định. Văn phòng là xe hơi. Điện thoại liên lạc là điện thoại công cộng. Luật sư Ziemann như cánh chim bay đến từng thân chủ di dân để tìm mùa xuân cho tâm tưởng và mùa hè cho nghề nghiệp của mình; cô đưa đến cho họ miễn phí những điều tốt lành và nóng bỏng.) Kể từ đó phần hồn trong Minh Rô-lăng rẽ hết nhánh này tới nhánh khác. Anh và Tonya cưới nhau khi cả hai cùng thành tín đồ của Vô thượng sư. Khi họ có chút mâu thuẫn, anh qua Canada hai năm và sinh hoạt trong một bạn nhóm đạo vô vi Thiền sư Lương Sĩ Hằng. Một tờ báo nhờ anh làm bài phỏng vấn, thế là sau khi gặp Ông Tám như một đối tượng đối thoại, anh hết còn muốn đối diện với thiền nữa. Và còn hai giáo phái khác, ở Mỹ và ở Ấn Độ, anh cũng là tham dự viên. Dần dà anh vơ về lý thuyết và kinh sách của các tôn giáo, đạo phái mà anh từng kinh nghiệm. Các giáo phái thì chia nhau phần hồn của anh.

Đúng lúc chưa biết tìm đến nhánh tâm linh nào khác hơn và khá hơn, thì anh gặp Hải! Trước khi thân với Hải, anh đã gặp gỡ, bắt quen nhiều người Việt tỵ nạn ra đi từ Đông Âu, cũng như từng ngao du cùng nhiều người Việt ở các nước đó trong những chuyến du lịch. Muốn hiểu họ lắm, chỉ là vì anh muốn hiểu Việt Nam của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Người Việt thuyền nhân đến từ miền Nam sau 1975 và Việt Kiều lâu năm ở Tây Âu trước 1975 chẳng được Minh Rô-lăng coi là mẫu người Việt cần tìm. Anh hiểu họ rất nhanh, như đi guốc trong bụng họ. Anh biết về Việt Nam cũng đã nhiều, nhưng không sao hệ thống lại được thế nào một cái Việt Nam của riêng Minh Rô-lăng. Cho tới ngày bức tường Berlin vỡ ra và xô đẩy những công nhân, sinh viên Việt ở Đông Âu, Liên Xô sang Tây Đức. Việt Nam lúc đó là tôn giáo mới cho Minh Rô-lăng. Khiến anh xa cách vợ. Khiến anh xao lãng công việc và kiếm tiền. Khiến anh bỏ bê các giáo phái trong những ngăn tủ, trên giá sách hay trong cốp xe hơi. Một Việt Nam mới, qua sự thân thiết cùng Hải và đúng nhất là qua con người Hải, từ đây đã chế ngự cuộc đời anh. Mạnh và sâu nhất. Thưa về Pháp thăm cha mẹ. Không còn du lịch hàng năm (mà cũng chẳng còn tiền!) Hành trình rất trung thành: Đi làm năm ngày ở Stuttgart; Chiều thứ Sáu: phôn cho Hải để hai ngày cuối tuần cùng Hải đi các Trại tỵ nạn, chơi loăng quăng; thường là đến Trại Windsbach, làm phụ gì đó cho báo Cánh Diều thì ít, cãi chày cãi cối với mọi người thì nhiều. Anh em tỵ nạn, vui. Minh Rô-lăng, thú. Nhiều tối, qua Hải – và chỉ có thể qua Hải – có việc nguy gấp người tỵ nạn nhờ, anh bỏ vợ qua đêm mà xách xe đi “vác ngà voi”. Bạn có thể nhờ vả tài, sức và thời gian của anh, miễn là bạn đừng động đến ví tiền. Kể cả Hải Dớ. Hải Dớ là người đầu tiên và duy nhất Minh Rô-lăng hứa cho vay tiền khi gặp SOS. Song thân của Minh Rô-lăng cũng không được vậy. Nói gì đến các em gái, các mợ đàn bà. Thế mà đi với Minh Rô-lăng, Hải Dớ cứ lanh chanh trả tiền trước, và chủ tâm nhớ kỹ xem Minh Rô-lăng thanh toán ra sao, để rồi thầm thán phục bạn mình trí nhớ trong chuyện tiền nong dài như rắn và li ti như kiến.

– Đến chết tôi cũng không vay anh nửa Đê-mác! Nếu như anh không bỏ cái tính chi ly với cha mẹ và vợ mình…

– Họ không nghèo. Họ không khó khăn như các anh. Tôi không giúp đỡ người không nghèo.
– Tôi nghèo bạc vạn bạc ngàn, không nghèo bạc trăm bạc chục. Đấy, anh có bao giờ có tới 50 Đê-mác trong ví đâu! Chúng tôi tiền vứt lung tung khắp người…
– Vì anh hiện tại không có bạc vạn bạc ngàn! Và vì thế anh sẽ không thể có bạc vạn bạc ngàn trong thời tương lai! Các anh chưa biết dùng Konto. Chưa hiểu Konto chính là cuộc đời. Tôi đang, đã và sẽ giúp anh hiểu ra điều này.
– Anh thích chủ nghĩa Cộng sản mà lại cũng thích Công-tô! Anh là Cộng sản nửa mùa, Công-tô nửa mùa!
– Tôi muốn làm ra thứ Cộng sản khác Marx, thực hơn Marx. “Cộng sản” hơn Marx.
– Sao hôm nọ bác Khoa, bác Hộ đến Cánh Diều, anh không nói gì. Hèn. Cộng sản lưỡi.
– Tôi quý và trọng các ông Đệ Tứ Việt Nam ở Pháp. Mà không phục. Tôi rất thương họ. Họ không bằng Bác Hồ trong việc chống Pháp thực dân! Lại đi đòi chống Bác Hồ. Làm loạn cả phe Cộng sản lên. Lấy ai chống Pháp?
– Minh Rô-lăng mà còn nói đến Minh Râu theo cách so sánh bất đối xứng như thế, tôi sẽ nhào khỏi xe ngay!
– Ha ha ha! Hôm nay anh là người nổi giận trước tiên. Anh bị những ba ngày rửa bát đấy!
– Anh thương anh xong đi đã. Các bác ấy chắc không cần người như anh thương hại. Họ hiểu họ. Anh không hiểu anh. Anh chả có gốc chả có ngọn. Hừm! Quả cũng không có nốt! Này, sao anh không đẻ con đi? Hay là anh chỉ có… hoa? Hi hi hi…
– Tôi phải làm việc cái trước khi đẻ con. Anh phải giúp tôi. Từ khi tìm ra được anh, tôi đã biết làm cái Việt Nam cho mình.
– Làm cái con… bòi tôi đây này! Khi nào có “pát-xì-bo tỵ nạn”, tôi đi làm, tôi mua xe, tôi lấy vợ, tôi đẻ con. Rồi tôi bỏ mặc anh với cái Việt Nam của anh.
– Anh sẽ không bao giờ thế đâu. Tôi biết anh là người tốt. Người tốt nhất trong những người tốt, kể cả Tây cả ta.
– Tôi đang xấu, hết tốt rồi. Tôi cần một ít, không, kha khá tiền, rồi sẽ trở về với tốt. Kìa, chạy xe chậm lại! Tôi không phải là vợ anh thích tốc độ cao!
– OK! Xin lỗi. Tôi sắp cần xuống để đi đái, anh nhớ nhắc chừng tôi. Anh vừa nói gì? À, không thể như vậy đâu, nếu anh còn ở Tây phương, lại là Đức. Bằng không, anh nên về lại Bungary của anh nếu như vẫn ghét Việt Nam. Nhưng tôi biết, thế nào anh cũng về Việt Nam. Không, anh không ghét, anh chỉ giận Việt Nam thôi. Anh thương Việt Nam của anh lắm. Hải ơi! Tất cả các anh, đều vậy. Người Việt các anh không chịu dứt khoát khi dời ra một cái cũ. Nên không đến cái mới được. Với tay cũng chưa tới, chứ đừng nói đặt được chân lên cái mới. Câu thơ anh từng nhái đấy: “Người đi xa đầu luôn ngoảnh lại…”
– Ừ, anh khôn ra rồi. Tôi không “phí rượu” khi “dạy” anh. Thế có biết anh cũng là người cần về Việt Nam ngay bây giờ không?
– Tôi chưa có sự chuẩn bị tốt. Tôi cần biết thật rõ một Việt Nam Mới qua anh trước đã.
– Trời ơi! Hải Dớ tôi thằng vô dụng, “ăn hại đái khai đánh rắm vặt”. Không có ích gì cho ai cả.
– Đã làm thật là nhiều việc cho tờ báo anh Đồ Râu, sao anh không là thành viên mà chỉ là cộng tác viên chuyên bàn ngang vòng ngoài.
– Vậy tốt hơn. Anh chưa hiểu hết người Việt mình. Bùng nhùng đã lắm, bầy nhầy cũng lắm! Tôi vào là khối thằng chết nhiều đứa bị thương tất cả rồi cũng đi nhà đòn, là Cánh Diều sẽ có ngày đứt dây, như Nói đãcâm tịt. Người tỵ nạn làm báo chí ở Đức bây giờ khác sinh viên, công nhân chúng tôi làm báo ở Bungary dạo đó. Chúng tôi khi ấy được hồn nhiên lắm, không phải tính toán thiệt hơn. Ngay việc tôi viết loạt bài phiếm sự nổi tiếng đó cũng là từ tâm: Tôi viết cho chúng tôi và cho người trong nước, chứ không phải là “Cộng con” làm “Hoàng Cái trói mình khổ nhục, Hán Trạch đưa thư trá hành” cho các “ông Kiều chống gậy chống Cộng” ở đây. Bác Hồ kính yêu của anh mãi mãi là tuổi trẻ của tôi, cho đến khi tôi chết. Tôi chờ tới ngày ở Việt Nam mọi người sẽ được bàn luận một cách tự nhiên như những người công dân bình thường trước một lãnh tụ dù “phi thường” cỡ nào, sẽ được đánh giá với giọng “hồn nhiên như ré lúa cành cam” xung quanh 101 điều về VIP đó trong lịch sử Việt Nam gần suốt 100 năm qua. Ngày ấy, tôi sẽ dẫn anh đi khắp ba miền Việt Nam Mới của chúng ta. Bao giờ cho đến ngày ấy, Minh Lô-răng ơi? Hu hu hu…


“Ngày thơ Việt Nam lần thứ 5 (2007), báo chí đưa tin: Cuộc thi tuyển chọn 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ XX do Trung tâm Văn hóa Doanh nhân và Nhà xuất bản Giáo dục phối hợp tổ chức trong hai năm đã kết thúc. Danh sách 100 bài thơ được tuyển chọn đã được công bố và in thành sách. (…) Trong 100 bài thơ được chọn thì 99 bài là thơ tiếng Việt, 1 bài là thơ tiếng Hán. Không biết khi tiến hành cuộc thi, ban tổ chức có định nghĩa thơ Việt Nam thế kỷ XX là thơ do người Việt viết bằng tiếng Việt và bằng tiếng nước ngoài hay không. Tôi tin là không có quy định đó vì nếu đề ra như vậy thì bất khả thi. Mà đã không có quy định đó thì sự tuyển chọn một bài này đã là phạm quy, phạm luật thơ. Và là sự bất nhất. Bất nhất giữa tiếng Việt và tiếng ngoại quốc. Bất nhất giữa lãnh tụ và thi nhân. Bất nhất giữa chính trị và thơ ca. Sự bất nhất này còn bị đẩy lên khi bài đó phá trật tự bảng chữ cái tên tác giả để đứng đầu danh sách. Thơ ca đòi hỏi được đối xử với tư cách thơ ca.


Nhà thơ Hồ Chí Minh có thể có bài được chọn, nhưng không phải là bài chữ Hán, và đứng tên trong danh sách theo đúng thứ tự tên mình. Danh như vậy cũng là không chính.” (1)

– Kìa, anh đừng khóc. Tôi sợ đàn ông khóc. Tôi rất xin lỗi. Để tôi mở nhạc Ly Ly… Hay chúng ta ngừng xe, nghỉ?
– Thôi, không sao… À, khi nãy anh hỏi về buổi chào cờ vàng cờ đỏ mà Cánh Diều bị tẩy chay ở Hamburg tuần trước? Vặn nhỏ nhạc, nghe tôi này: thầy Đồ muốn anh vào làm báo chính thức lắm. Việt Nam Mới đấy chứ đâu xa! Đừng vì 30 Đê-mác nguyệt liễm mà không “làm cái gì đó cho dân tộc”! He he he…
– Anh làm gì, tôi làm theo. Mao Trạch Đông từng nói với Hoa Quốc Phong: “Chú làm việc, tôi yên tâm!”
– Anh ngang như cua cái ấy! Tôi là tôi, anh là anh! Nào, nếu không chịu thế thì bây giờ anh theo tôi: Đi đái! Đoạn trên dừng xe được rồi.
Phải nói Minh Rô-lăng đẹp như một thày tu. (Từ sau khi có Minh Rô-lăng, cách ví von nên ngược lại: Các thày tu đẹp như Minh Rô-lăng.) Chân giò thẳng, không mảnh không bự; thân hình không dây không lẳn. Bụng chỉ hơi gọi là có, để tuyệt vời trong dáng đàn ông với chiếc quần xám quai đeo áo trắng nơ đen, hoặc trong bộ complet chỉnh tề, hoặc dưới chiếc áo dạ dài buông lơi hàng cúc dưới lá mùa thu Paris. Tỷ lệ chân và lưng đáng làm mẫu mực cho các trường hội họa dạy về tính cân xứng. Râu xanh rì vừa phải. Cặp mắt đen. Chúng không đen đuối chìm xuống như nhiều đàn ông Việt đẹp mà mềm. Càng không đen lánh gắt lên – gợi chút ranh mãnh – của nam giới Ấn. Cái đen sang và sáng, nhìn đời tỉnh hơn, nhìn phụ nữ “điếm” hơn. Tóm lại, một cặp mắt tình tứ nhưng không lụy vì tình. Mắt của Minh Rô-lăng không làm đĩ cho cả thân thể. Hai bàn tay vừa phải. Không u lù cứng như ở đàn ông Pháp thứ thiệt. Chúng đủ mảnh để vẽ nên cái đẹp, cái bay của các mẫu mã xe hơi và cũng đủ cứng, dẻo để điều khiến những “con đàn bà hồi xuân” này. Bạn đọc sẽ sốt ruột: “Nói gọn, thế ra chàng lại thành đàn ông Ý lai?” Không, chúng ta lúc này chưa đủ kinh nghiệm ở cái xứ sở quả là thần tiên đó của chuyện nam giới cùng chuyện đàn bà. Hãy khuôn viên Minh Rô-lăng trong vành đai Pháp-Việt và vài quốc gia liên hệ mà thôi. Lần đầu, nhìn Minh Rô-lăng vắt vai chiếc áo da cũ, mở cửa xe hơi, khẽ và nhanh cười mỉm chào – một nụ cười bằng mắt như đã tả rất kỹ ở trên, bằng hàm râu quai nón không đủ rậm nhờ một đêm cố tình chưa cạo – đám trai gái, đàn ông đàn bà người Việt ở Trại Windsbach không một ai không lưu lại tấm hình đẹp trong đầu về một nam giới Việt lai.
Cũng phải nhận thấy rằng, chọn Hải là Việt Nam của mình, Minh Rô-lăng đã khá hiểu về dân tộc Việt đương đại. “Hải là gì? Định nghĩa Hải?” Anh em làm báo hay đùa vậy, mỗi khi hết chuyện tán láo. Chỉ cần nhìn và nghe Hải nói, làm điều gì đó, đứng trong bếp nấu phở chẳng hạn. Không! Hãy quan sát Hải hỏi mua vé rồi bước vào tàu điện U-Bahn, ở đâu cũng được, Nuernberg này hay tận Đông Berlin, sẽ thấy Việt Nam là gì, người Việt là ai. Các nhà làm phim tất sẽ có được một diễn viên không chuyên nghiệp cừ khôi. Cứ theo lời tác giả Trần Trọng Kim viết hồi năm 1920, thì theo ngu ý, tiên sinh đã chọn cụ tổ Hải làm người mẫu. Nguyên văn lời miêu tả người Việt mà anh Đinh Văn Hải là một, nó thế này này…


“Người Việt Nam thuộc về loài da vàng, nhưng mà người nào phải đi làm lụng dầm mưa dãi nắng lắm, thì nước da ngăm ngăm đen, [người nào nhàn hạ phong lưu, ở trong nhà luôn, thì nước da trăng trắng như màu ngà cũ.] Trạc người thì thấp nhỏ hơn người Tàu, mà lăn lẳn con người, chứ không to béo. Mặt thì xương xương, [trông hơi bèn bẹt,] trán thì cao và rộng, mắt thì đen và hơi xếch về đàng đuôi, hai gò má thì cao, mũi hơi tẹt, môi hơi dày, răng thì to [mà lại nhuộm đen.] Râu thì thưa mà ít, tóc thì nhiều và dài, đen và hơi cứng. Dáng điệu đi đứng thì nhẹ nhàng và xem ra bộ vững vàng chắc chắn.”

Hậu bối kính xin mạn phép để trong dấu […] những điểm không trúng lắm so với anh Hải và nối dài ý lớn trên bằng các chi tiết khác có ở anh ấy. Là đàn ông của vùng đồng bằng Bắc Bộ, miền biển Thái Bình, Hải có tấm lưng dài cánh phản tiêu chuẩn khiến anh tự tả là “thẳng cánh ruồi bay”. Nếu đánh giá đàn bà Tây ở hai cặp chân, thì ở tấm lưng có thể biết nhiều điều về nam giới Việt. Lưng đàn ông Việt nó xác quyết dáng đi, cách ngồi, kiểu chạy, rồi đến tư thế làm tình của họ. Nhìn lưng thì biết ông Việt ấy thằng Việt kia làm nghề gì nghiệp nào. Thày giáo trường tỉnh hay dân đục tường cạy cửa? Chân của Hải vào loại ngắn, kể cả so với đồng hương Việt, và lại vòng kiềng. Bàn chân Giao Chỉ như ở anh quả là chữ ký của tộc Việt. Trời đất! Minh Rô-lăng đã nhiều lần kéo bàn chân gân guốc nhằng nhịt các đường nét của Hải lên mà trêu chọc. Năm ngón chân ở đó xòe ra như cánh quạt, ngón cái chĩa ra ngoài muốn bỏ cả bàn chân để đi nơi khác, cái gót chân thì tóp lại. “Giời ơi là giời! Các ngón bay tung tóe thế này thì giày nào cho vừa chân!” – “Anh đúng là mất gốc! Chân thế mới bám đất bùn được. Để giữ lấy nền văn minh lúa nước chứ! Anh phải hiểu là dân Việt ta mấy nghìn lập quốc đến nay, cả nghìn năm người Tàu cai trị mấy lần, cả trăm năm người Tây đô hộ, thế mà vẫn giữ được nền tự chủ. Đó là nhờ hai bàn chân Giao Chỉ xòe mười cánh ngón ra đấy ạ! Không thì tộc Việt đã văng ra ngoài Biển Đông rồi. Này, nhìn tôi đi đây: Hai bàn chân có các ngón chĩa ra, tạo thành cách đi hai hàng vững chắc. Đường sống trâu lầy lội thế nào cũng không ngã.” – “Cho tôi ngắt lời hai anh: Ngón cái anh Hải Dớ mà to như thế, tất con cu của anh ấy cũng to theo! Anh Minh Rô-lăng chẳng tin thì đọ thử, dám không?”
Lại xin tiếp với Trần tiền bối. Tính nết của Đinh Văn Hải là đây, đúng từ dấu phẩy trở đi:


“Về đàng trí tuệ và tính tình, thì người Việt Nam có cả các tính tốt và các tính xấu. Đại khái thì trí tuệ minh mẫn, học chóng hiểu, khéo chân tay, nhiều người sáng dạ, nhớ lâu, lại có tính hiếu học, trọng sự học thức, quý sự lễ phép, mến điều đạo đức: lấy sự nhân, nghĩa, lễ, trí, tín làm 5 đạo thường cho sự ăn ở. Tuy vậy vẫn hay có tính tình vặt, cũng có khi quỷ quyệt, và hay bài bác nhạo chế. Thường thì nhút nhát, hay khiếp sợ và muốn sự hòa bình, nhưng mà đã đi trận mạc thì cũng có can đảm, biết giữ kỹ luật. Tâm địa thì nông nổi, hay làm liều, không kiên nhẫn, hay khoe khoang và ưa trương hoàng bề ngoài, hiếu danh vọng, thích chơi bời, mê cờ bạc. Hay tin ma quỷ, sùng sự lễ bái, nhưng mà vẫn không nhiệt tin tông giáo nào cả. Kiêu ngạo và hay nói khoác, nhưng có lòng nhân, biết thương người và hay nhớ ơn.” (2)

Cứ đọc tờ báo Nói ở Bungary mà Hải là cây bút chính dạo đó thì thấy con người này ra sao! À, tới lúc cần giải thích một chi tiết phụ, cho nó chính danh: Trong Ban biên tập Nói có hai Hải. Hải miền Nam, hỗn danh là Hải “dơ” vì ở ăn ở luộm thuộm dơ bẩn quá xá! Còn Hải miền Bắc, như mọi người nãy tới giờ đã biết, bị gọi là Hải “dớ”. Thôi, khỏi giải thích! Đi trên mặt báo dưới các bài trang trọng, thì là các danh Hải Nam, Hải Bắc, rồi Nam Hải, Bắc Hải. Nghe cũng oách! Còn trong các bài báo tếu táo, các mục phiếm, hay nói năng hàng ngày thì Hải Dơ, Hải Dớ. “Thấy mà ghê!” Các cô gái, các chị già miệng la lên, vẫn thích chí khi réo gọi đến cái tên ấy.
– Minh Rô-lăng ơi, sao anh không đặt họ của mình là “Hồ”. Anh biết tiếng Trung Quốc mà như không hiểu về việc đặt họ tên của người Tàu! Bác Hồ gọi tên mình theo kiểu Tàu đấy chứ!
– Đúng quá! Chả ai ở Việt Nam gọi là Bác Minh cả. Trừ “bọn phản động” như anh Hải mới dám gọi là “Minh Râu.”
– Tôi không thể hỗn mà lấy họ của Ông Cụ đặt tên cho mình.
– Nhưng anh vẫn hỗn đó. Ở Việt Nam ngày xưa người ta còn tránh tên vua. Này, sao anh không đổi tên thật trên giấy tờ: bát-xì-bo của anh có theo tên Bác chưa?
– Chưa! Không cần thiết!
– Anh nói có đủ các sách, tư liệu hiếm quý về Ông Cụ. Sao anh không viết đi? Thày Đồ Râu đăng cho.
– Đeo bài của anh ấy Cánh Diều chắc bay không lên nổi.
– Đúng! Báo tiếng Việt bây giờ chưa có tờ nào đăng nổi bài của tôi về Hồ Chủ Tịch. Cả trong nước lẫn hải ngoại.
– Anh viết một bài báo bằng những năm thứ tiếng hả anh Minh Rô-lăng? Anh Hải Dớ sửa lỗi chính tả những câu tiếng Việt à? Thôi thôi, em nói đùa thôi đấy…
– Em Phương hỏi ác đấy! Em ấy muốn tranh phần biên tập các chữ “lờ nờ” chứ gì?
– Tôi nói nghiêm chỉnh này: Sao anh không viết bài đăng ở các báo Pháp Cánh tả?
– Các anh các chị không hiểu chính trị nước Pháp. Nó nát như bánh phở của anh Hải Dớ khi anh ấy mải xem phim “con heo” ấy. Nhưng nó có mùi thơm bay ra nhà bên cạnh. Người Cộng sản Pháp bây giờ chỉ thích nằm trong viện bảo tàng và hô khẩu hiệu thôi.
– Minh Rô-lăng ơi, bây giờ thì hỏi thật anh một cái này?
– Hỏi thì hỏi đi. Trừ anh Hải và thầy Râu ra, có bao giờ các anh các chị “thật” với tôi đâu!
– Á à, Minh Rô-lăng lại đá đểu rồi. Thì hỏi này: Thế trong các nước Cộng sản còn lại, ngoài Việt Nam ra, anh thích nước nào? Nước “Nào” à?
– Không! “Nào” nghèo “nắm.” Lại “nười.”
– Hí hí hí! Thua anh Minh Rô-lăng luôn!
– Thế Tàu hay Bắc Triều Tiên?
– Tàu không bao giờ là Cộng sản! Tôi sẽ trở lại đề tài này trong một bữa phở khác của anh Hải. Tất cả các anh nhầm. Cả thế giới nhầm. Trừ Cụ Hồ: Trung Quốc không khi nào là Cộng sản cả! Gì cơ, Bắc Triều Tiên? Không! Tôi thích Cu Ba.
– Nhưng này, Phi-đen Cộng sản đến cùng vì có râu rậm dài, còn Minh Rô-lăng thì Cộng sản lớt phớt râu chưa đen đã cạo. Phí cả cái Cộng sản Minh Rô-lăng đi!
– Các anh có biết không: Nếu Bác Hồ mà vẫn còn, tôi sẽ về Việt Nam sinh sống: “Sông có thể cạn núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi!”
– Ha ha ha! Bờ-ra-vồ cháu ngoan Bác Hồ Minh Rô-lăng!
– Hí hí hí!
– Chân lý mà có Nếu thì là chân lý què, chân lý cùn! Minh Rô-lăng đã xuyên tạc lời Bác!
– Hớ hớ hớ!
– Lúc đó Minh Rô-lăng về Việt Nam xin tỵ nạn à? Anh tính vào Trại tỵ nạn nào nộp đơn? Trại Cầu Giấy Hà Nội, hay Trại Ngã Sáu Hải Phòng? Thôi, vô Trại Lăng Ông Bà Chiểu ở thành phố Hồ Chí Minh đi cho kế nhà em Phương!
– Anh ấy “tỵ nạn phở” thì có!
– Các anh mới là tỵ nạn giả, trừ thầy Đồ bây giờ làm tờ Cánh Diều và anh Hải trước kia làm tờ Nói.
– Thôi! Cho phở tôi được bình yên! Xì-tốp chuyện đại sự! Còn cãi nhau nữa là xơi tái cả tình bạn lẫn tình đồng hương. Mời cả nhà ra xơi phở tái nào. E hèm… Phở là sợi dây lòng thòng nối kết người Việt khắp nơi. Phèng phèng phèng! Cộng sản. Chống Cộng đến trưa hoặc đến chiều. Việt Kiều Yêu Nước. Việt Kiều không yêu nước mà yêu con gái Đông Âu tỵ nạn. Trung lập. Tỵ nạn kinh tế. Tỵ nạn chính trị thật. Tỵ nạn chính trị dởm. Tỵ nạn gái. Tỵ nạn chồng… Phèng phèng phèng! Tất cả đều yêu phở! Mời mang tô ra đây nếu là Nam, mang bát ra đây nếu là Bắc! Mang thìa, nếu Bắc! Muỗng nếu Nam! Phèng phèng phèng! Phở hôm nay được Hải Dớ nấu bằng đuôi bò đực chưa đi tơ đây!
– Hoan hô anh Hải! Bờ-ra-vô Hải Dớ. Cho em và bà xã bác sĩ nói mới có bầu hai tô đầy không hành.
– Vô duyên thế không biết! Người đâu mà hỗn! Để anh ấy chan cho thầy Đồ trước đã nào. Kia kìa! Mắt cứ dớn cả lên! Cái bát to có chữ Cánh Diều sâu trong góc trạn ấy. Đấy… đấy… Cái tô sành ấy! Chỉ nhìn gái là giỏi!
– Ối! Cái chậu này mà gọi nó là bát! Đồ Râu cũng tỵ nạn phở rồi!
– Cứ phở đuôi bò đực tơ vào là em Phương hết thắc mắc!
– Không! Phở xong xuôi rồi là em ấy chỉ còn hỏi “Tối nay anh Minh Rô-lăng nghỉ ở đâu?”
– Các anh các chị đừng đùa quá trán, à quá trớn. Tôi không ly dị vợ, còn cô Phương đang chờ chồng ở Tiệp qua.
– Minh Rô-lăng kẹo lắm! Không yêu nổi gái Sài Gòn đâu!
– Vâng! Tôi khó yêu được con gái Việt ở Đức, vì không thể nào biết họ thích tôi hay thích DM! Ối! Phở ấm quá…
– Có về Việt Nam anh cũng ế! Cho giá vào đi, Minh Rô-lăng! Vì anh không hào phóng. Hôm nọ anh không dám đốt tờ 10 Đê-mác tìm cặp tóc cho em Phương. Anh là đàn ông Pháp trừ đi tính ga-lăng bao gái. Anh lấy vợ người Đức là đúng. Nhưng thôi, đừng! Anh mà ly dị là vợ anh sẽ lấy tiền thuê luật sư đắt như các luật sư khác mất!
– Anh Hải nói gì cũng phải! Vì Hải Dớ nấu phở ngon nhất trần gian nhì địa ngục!

2.8
“[Hallo! Chưa được tra tấn ai thú như thế này! Mới màn hâm nóng mà đã bỏng! 101 lần cám ơn Ta! Không dám nói leo nhiều e hỏng đại sự. – To (nickname của tôi với Ta đấy. OK?]


Câu hỏi 2:


“Tôi nghĩ rằng độc giả đã nhận ra nơi bà Ziemann sự thông minh một cách rành mạch, đầy nữ Đức tính! Quả là chúng tôi đã chọn… lưỡi gửi phỏng vấn. Nên đây là phỏng vấn vàng. Dạ vâng, thưa bà, vậy tại sao bà chọn (sự ăn) chân (người di dân, tỵ nạn, kẻ ngụ cư) là phương tiện thể hiện cuốn sách của mình?”

“[Eh! Chớ lạm dụng, hỡi nhà văn lớn! Tôi thây kệ ba cái To cái Ta nhà ông. Tonya này vẫn là Tonya. Nói (leo) mà duyên (như ông) thì cứ nên. Đừng có “quân tử Tàu” như ông chồng ly thân kia! Hãy nhớ mình là một gã đàn ông da trắng! Cây đại thụ nào cũng có giống cây bám leo vào đó, thưa ông đại thụ.]


Trả lời 2:

“Vâng, câu hỏi trên đâu chỉ ông và The Kangaroo nêu ra! Đó là một đề tài thân thuộc trong bất cứ một thảo luận, một phỏng vấn, một nghiên cứu nào về vấn đề của hai thập niên cuối thế 20 và nhiều thập niên đầu thế kỷ 21- Thời đại của người di dân. Tôi được phép trích dẫn một phần trong nghiên cứu của mình làm cho Học bổng Quỹ Khoa học Nhân văn Thockfeller năm ngoái về Chương trình Diaspora được tiến hành bởi Viện Đại học Mosdong.
Dù hơi khô khan, song tôi tin là Quý vị sẽ không chán bởi cách dẫn chuyện mềm mại của vị MC, ngài Thomas Stone.


“Trong thế giới của người di dân, luật không còn là của kẻ mạnh một cách trừu tượng; mà phải gọi thẳng tên: Luật pháp của dân bản xứ. Dù kỷ nguyên chúng ta là toàn cầu hóa, gọi theo kiểu người Việt, làng thế giới. Tôi nói vậy vì ông chồng người Việt nhà tôi luôn miệng rằng đã gợi tới chữ “Việt” mà không kèm chữ “làng” theo thì coi như chả hiểu một tí gì về Việt, cũng như chẳng biết nửa tẹo gì về làng! Xin tiếp tục, tôi không, đúng ra là chưa, tin rằng con người ta lúc này vừa đủ vị tha và vừa đủ khách quan nhìn về nan đề lưu vong, di dân, tỵ nạn, du mục, ngụ cư. (Lại cũng người Việt, từ xa xưa đã có cái quan niệm đau lắm, ác lắm: bỏ làng!) Thế nên, vấn đề luật pháp ở các nước giàu (giàu thì dân mới di đến!) cũng nằm trên cái phông chung của nan đề di dân, lưu vong. Khác với vài quốc gia giàu khác, nước Đức mang một vấn đề kép: vừa là một thể chế của pháp quyền, vừa là xứ sở phát triển trên (lưng) sự di dân.


Nedim Guersel là một nhà văn Thổ Nhĩ Kỳ, cư ngụ ở Pháp 26 năm, rời bỏ đất Thổ sau một đảo chính quân sự để trốn thoát khỏi một vụ án báo chí. Tôi chưa biết ông là ai trước ngày đọc được ở Guersel thành ngữ mới “Chữ nghĩa của lưu đầy, lưu đầy của chữ nghĩa” khi ông coi việc sống, làm việc giữa hai ngôn ngữ giống như ngồi giữa hai cái ghế, và khi ông tâm đắc với định nghĩa văn sĩ lưu vong của Joseph Brodsky, nhà thơ nổi tiếng người Nga lưu vong ở Mỹ: “Đối với những người trong nghề chúng ta, tình trạng lưu vong trước hết là một biến cố ngôn ngữ. Bị phóng vào một nơi khác, nhà văn ẩn náu trong ngôn ngữ mẹ đẻ của mình. Có thể nói, ngôn ngữ của nhà văn, trước kia là thanh gươm, trở thành cái mộc”. Dẫn chứng này cho thấy tôi phần nào ủng hộ Guersel, ủng hộ Brodsky khi phi chính trị hóa, phi kinh tế hóa, phi tâm lý hóa các lý do lưu vong ở người cầm bút. Vẫn Guersel: “Lưu vong, theo nghĩa rộng, là một trong những định mệnh khả hữu cho nhà văn thời chúng ta.” Viết đến đây, không khéo thanh minh thanh nga ắt tôi sẽ lãnh búa bút hoặc cà chua trứng thối của các nhà văn luôn khẳng định tư cách tỵ nạn chính trị của họ ngang dọc các trang văn của họ. Có khối vị còn nhảy cả lên lề trang lên gáy sách khẳng định điều này. (3)

Thế còn người không viết văn thì sao? Đây là chìa khóa của vấn đề: Đôi chân của lưu đầy, lưu đầy của đôi chân.”


Câu hỏi 3:


“Một lối dẫn dắt đầy kịch tính. Và mang cả sự tương phản lẫn so sánh. Cho tôi – lại nói theo kiểu của các thân chủ của bà, người Việt – “cầm đèn chạy trước ô tô” khi đoán rằng ý của bà là – nói theo cách diễn đạt của dân Pháp – hãy cho tôi biết đôi chân anh ra sao, tôi sẽ nói cho biết anh di dân như thế nào?”

[Này, thành ngữ Úc nên bổ sung câu “Đừng nhiều chuyện như đàn ông Pháp và đàn ông Việt!]


Trả lời 3:

“Ông MC của chúng ta, đã mềm mại lại mẫn cán. Thế là hợp với chuyện của một người đàn bà với một tạp chí dành cho đàn bà. Cám ơn!
Thưa Quý độc giả! Nhiều thế kỷ nay nhân loại chúng ta chung sống với một sự nhầm lẫn. Không, không phải não bộ (như người Đức quan niệm), hay màu da (người Mỹ cho là vậy). Mà chính là đôi chân. Tôi cho rằng tỷ lệ đôi chân trên cơ thể người mới là yếu tố nhân chủng học quyết định dân tộc tính của một sắc tộc khi họ sống trên xứ người khác. Y học hiện đại ngày càng chứng tỏ rằng não bộ không phải là vô hạn tới mức có một số di truyền siêu nhân, rằng huyền thoại suốt một thế kỷ nay về việc chúng ta chỉ mới sử dụng 10 phần trăm não bộ đã bị lật tẩy qua các ảnh chụp MRI cho thấy con người xài hầu hết vỏ não vào trạng thái hoạt động hữu ích, ngay cả khi đang chợp mắt. Sự phát triển của khoa học và công nghệ computer với các đường biên của trí tuệ công cộng ngày càng bỏ xa trí tuệ cá nhân mà internet và các website là hai dẫn chứng. Nghệ thuật đương đại đang càng xóa nhòa sự phân loại của các sắc màu. Thế thì trong ba tiêu chí thẩm định cái Đẹp ở một con người Dáng, Da, Nét (mặt – thể hiện ra ngoài của não bộ), tôi thấy người Việt đã có lý khi xếp thứ tự “nhất dáng, nhìn da, thứ ba là nét.” Dáng vận của một người là do đôi chân quyết định. Lưng và vai rồi đầu cũng có phần của nó. Tóm lại, tôi đã chọn đôi chân của người (Việt) di dân làm thực đơn cho cuốn sách bình luận luật pháp nước Đức hiện đại, và qua đó gợi ý các thay đổi trong quan niệm về mục đích và phương tiện của pháp luật trong thời đại di dân.
May thay cho cuốn sách ăn chân của tôi! Các quan sát của tôi về phong dáng các thân chủ người Việt Nam, khi họ ra Tòa, khi họ vào văn phòng luật sư, nhất là khi họ ở các tư thế thoải mái (bồi bàn trong các quán Tàu, chủ các sạp quần áo hay rau quả), khi họ ngồi xổm (trên nền nhà, bên mâm cơm, trên ghế salon!) vừa được soi sáng bằng kết quả khảo cứu của giáo sư Nguyễn (đồng hương Úc châu của các vị) cùng các đồng nghiệp Nhật, Trung Hoa, Việt Nam (M. Iki, C. Pongchaiyakul, J. Woo, V.T. Thuy):


“Trong một nghiên cứu gần 2,500 phụ nữ Nhật trong độ tuổi trưởng thành (từ 18 đến 79 tuổi), chiều cao trung bình được ghi nhận là 153,4 cm. Một nghiên cứu trên 1,400 phụ nữ Việt Nam trong cùng độ tuổi (do chúng tôi tiến hành ở Việt Nam) cho thấy chiều cao trung bình là 153,9 cm. Trong nam giới, chiều cao trung bình của người Nhật là 164,5 cm. Nghiên cứu trên gần 700 đàn ông Việt Nam của chúng tôi cho thấy chiều cao trung bình là 164,3 cm. (…) chiều cao người Việt Nam hiện nay cũng tương đương với chiều cao người Thái Lan (165 cm ở nam giới và 155 ở nữ giới), và người Trung Quốc (164 ở nam giới và 155 ở nữ giới). Rõ ràng yếu tố di truyền đóng vai trò rất quan trọng trong việc quyết định chiều dài của một cặp giò.


Chúng ta có lí do để tin rằng chiều dài chân người Việt Nam, người Trung Quốc, ngay cả người Nhật, sẽ còn tăng trong tương lai, nhưng chúng ta không kì vọng đạt cho bằng chiều dài như ở đôi chân của người Tây phương hay Phi châu. Vì cấu trúc di truyền của khác nhau.” (4)

Mặc nhiên, giáo sư Nguyễn đã quan niệm theo quan niệm của cơ thể học: chiều cao của thân thể do chân quyết định. Chiều dài của lưng như một hằng số đối với các dân tộc. Tôi đồng ý, dù chưa đọc được ở đâu lời lý giải. Quan sát những người di dân và người bản xứ ngồi, tôi khó có các cảm hứng luật lệ, pháp chế. Những lúc đó, tôi chỉ mong mình có thể ăn được màu da, hay ánh mắt hoặc tiếng nói, thậm chí mùi mồ hôi, của họ.
Đây là cuốn sách này tôi dành tặng cho người chồng ly thân của mình, một người Việt lai Pháp (hay gọi là Pháp lai Việt, ông ấy cũng đồng ý!) Từ khi có cao trào người Việt du học và làm việc ở các quốc gia Cộng sản Đông Âu qua Tây Đức xin tỵ nạn cùng với sự sụp rã của bức tường Berlin, ông ấy và tôi ly thân. Không phải vì mối quan hệ vợ chồng bị đổ sụp theo bức tường lịch sử đó đâu! Hạnh phúc của hai chúng tôi là tự chúng tôi xây nên. Liên Xô đâu có đặt bàn tay lông lá của họ vào đấy! Ông ấy không đi tìm vợ ở các Trại tỵ nạn, như nhiều người (tưởng). Mà vì vấn đề, như người Việt hay nói, về với cội nguồn. Và theo chữ của chương trình Diaspora là ông ấy đi tìm “Identity and Place” – tạm dịch Bản sắc và Vị trí (tôi thì dịch là Chỗ đứng, vì quan tâm đến hai chân) – của ông ấy. Người chồng ly thân của tôi thực ra đã là một cuốn sách ở trong cuốn sách đang nói tới của tôi. Có điều – lại như ông ấy hay nói, dao sắc không gọt nổi chuôi – tôi không sao chuyển hóa được nội dung của cuốn sách cơ sở mà ông ấy làm nhân vật ra thành ngôn ngữ. Nó mãi mãi là cuốn sách ảo, trong tôi. Trừ khi làm tình (với tôi), còn thì đôi chân của ông ấy tuyệt đẹp. Nhưng tôi không hề ăn đôi chân ấy khi viết sách. Dù ông ấy với Đức quốc cũng là một kẻ ngụ cư.
Khi làm dịch vụ luật sư, tôi lấy tiền của thân chủ vì lý do hành nghề. Khi viết sách phê bình luật, tôi ăn chân họ vì đeo đuổi cái nghiệp. Các vị có thể nghĩ rằng tôi đi tìm lại bản sắc người Do Thái của chúng tôi qua các công việc này? Có thể vậy. Không một người Do Thái nào đếm tiền bằng cả hai tay cả. Tại sao phải phí như thế nhỉ! Chúng tôi có một tay để sáng tạo, một tay để máy móc. Và cả hai tay đều được điều hành bởi cái đầu. Trái tim không dự phần vào nhiều. Nếu là Do Thái chính hiệu con nai vàng. Chúng tôi chỉ coi người Tàu là địch thủ của tay đếm tiền. Chưa có dân xứ nào là địch thủ của chúng tôi ở tay kia. Dân tộc Đức? Các vị sẽ nhao lên mà hỏi. Tôi công nhận người Đức – nam cũng như nữ – giỏi giữ tiền. Nhưng đếm và giữ là hai hành vi khác nhau. Động và tĩnh. Như nước và đất vậy. Người Đức là đất, người Tàu là nước. Tôi nói vậy và các vị liên tưởng ngay đến các vòi, bình nước phong thủy ở nhà, nơi cửa tiệm, hay bất kỳ nơi nào người Tàu sống và làm. Xin lỗi, đoạn trên tôi đi hơi xa chủ đề mà The Kangaroo quan tâm. Ấy là tôi muốn nói rằng có lẽ vì bản sắc này mà Đức quốc xã đã muốn xóa số dân Do chúng tôi. Nhưng họ suy nghĩ nhầm cho một hành động đúng. Tiếc lắm ru! (Nói theo kiểu Tàu!)

Tôi sẽ bàn trở lại món ăn nuôi chữ nghĩa của mình ở phần tiếp. Chúng ta tạm ngưng để quý vị có thời gian đồng hóa mớ thông tin và lý lẽ trên. Cám ơn.”

2.9
“Anh cứ ngủ đi… Tôi sẽ ru anh bằng triết thuyết, không, bằng thuật lý giải chủ nghĩa Cộng sản mang bảng hiệu Minh Rô-lăng, với nhạc Tịnh Đông Sơn phụ họa. ‘Bố Hải Dớ cũng phải lịm đi mà ngủ!’ như anh thường nói. Trời, nhìn dáng anh ngủ gục ngủ ngồi mà tôi biết vận mạng anh. Hay là cái cặp chân cong ăn cong thẳng ăn thẳng của anh nó cũng quyết định cả dáng ngủ? Đêm nay tôi lại có một điều mới làm quà cho chứng mất ngủ ở bà vợ ăn chân dân tỵ nạn của tôi, thay vì vài trăm, không chắc cũng được đến cả ngàn, con tinh trùng lãng xẹt này. Ngủ ngoan nghe anh Hải, yên tâm là bên cái đầu đã ngả gục kia của anh, có một “người cầm lái” tuy không vĩ đại nhưng vô cùng an toàn. Tôi không muốn như người Pháp của tôi, như người Việt của chúng ta. Tôi muốn – như người Đức của bà xã tôi – không cần sự vĩ đại. Tôi cần sự an toàn. Lần trước anh gầm lên đòi tông ra khỏi xe ở “thời kỳ” nào trong “cuộc cách mạng trên ôtô” của tôi? Ô là la… Thời kỳ Đệ Tứ-Đệ Tam. Giỏi và tài! Anh nấu phở đã giỏi, so sánh cũng tài. Phải! Tôi không xứng danh làm cách mạng salon, cách mạng của tôi chỉ được tiến hành một cách “thường trực” trên xe hơi theo xa lộ đường dài. Trang sử đấu tranh giai cấp không phải là cái túi rộng thênh thang và ấm cúng như ở con đại thử mẹ để đám chuột túi con chạy tới chạy lui mà thực tập sự trưởng thành. Nếu Trotsky, nếu Tạ Thu Thâu lên thay Lenine, thay Hồ Chí Minh mà lại không sử dụng bạo lực cách mạng như một giải pháp bất khả kháng với bất kỳ ai thì họ phải chịu số phận lịch sử như đã từng để đảng Cộng sản tồn tại. Còn nếu họ vẫn tiếp tục sử dụng bạo lực cách mạng thì họ cũng phải chịu số phận lịch sử như đã từng để Lenine, để Hồ Chí Minh tồn tại. Cũng như vậy với thủ lãnh “Đệ Tứ văn nghệ” Việt Nam Nguyễn Hữu Đang trước các lãnh tụ “Đệ Tam” Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi… Hải ơi, anh đang ngủ say rồi. Tôi mới có thể tranh luận với anh… Nhưng kìa, anh bắt đầu nói, tỉnh lắm, có gì là mớ đâu. Vậy đây là cuộc tranh luận giữa một người tỉnh có tư tưởng trong mơ với một người trong mơ có tư tưởng tỉnh. Chúng ta đúng là hai ý trung nhân của thể xác lẫn tinh thần, dù không giao hợp bằng các cơ quan sinh dục, bằng tình tứ.”
“Anh khôn bỏ bu ra mà cứ giả nai. Được đấy! Chúng tôi làm báo cũng không đến nỗi phí gỗ rừng cho độc giả Minh Rô-lăng. Ừ, sự đánh giá vấn đề Nhân văn – Giai phẩm của anh kể ra cũng độc đáo, dù có phần khắt khe với Nguyễn Hữu Đang, đồng hương Thái Bình “thái lọ” nhà tôi. Không sao, ông già đã ăn được thịt cóc mà nằm dịch chơi hàng trăm lần Tuyên ngôn Đảng cộng sản khi bị lưu đầy ở quê nhà – tôi nghe nói vậy – thì cũng dám sống chờ tới ngày cóc mở miệng. Mấy “trự” Trần, Lê, Hoàng, Phùng kia ai nấy đều có tác phẩm, không thơ thì văn. Người ta công nhận tác phẩm, thậm chí có ngày trao các Giải thưởng to đùng bát điếu cho các bài thơ, pho tiểu thuyết từng bị vùi dập, chứ không hẳn công nhận những vấn đề bị vùi dập. Ở chuyện này, thuyết tác giả đã chết của nhóm các ông Lang Bạt bên Tây nhà anh lại hóa đúng. Văn nghệ sĩ sướng là ở chỗ đó! Còn Nguyễn “thái lọ” không là văn sĩ, cụ lãnh đạo văn sĩ. Thành ra, chắc tới chết cụ cũng bị dập vùi. Lãnh tụ khổ là ở chỗ đó! Ớ ớ… Đ. bu thằng nào bịt mồm tao nhé! Ngạt quá, chết mất! Ái đau, đau… Thôi đừng đùa! Đứa nào ngoạm chân tao đấy! Tiên nhân cả lò nhà mày! U ơi, đi tỵ nạn chưa kiếm được đồng Đê-mác nào cho u mà con bị chúng cắn mất cả hai chân rồi u ơi! Hụ hụ hụ! Thà ở quê làm con cóc cậu ông trời với cụ Đang, vui hơn… Ái… Ối…”
“Chủ nghĩa cộng sản giải quyết tức là tạo dựng và thanh toán vấn đề Con người trên một trường tổng thể vĩ mô với việc coi Người Vật Việc cùng là ba biểu hiện của một đối tượng mà cao trào Tiểu thuyết Mới của Pháp với những Roland Barthes này kia như là một ví dụ nho nhỏ cuối cùng trên lãnh vực văn học vì trước đó và cả sau này người ta hiểu sai câu nói văn học là nhân học nên cứ coi con người như đối tượng duy nhất của chữ nghĩa mà đồ vật chỉ là cô vú em còn sự việc chỉ là anh phu xe cho lâu đài văn chương ở đó con người tót lên ghế trên một cách sỗ sàng suốt mấy ngàn năm thế nhưng Tiểu thuyết Mới ngắn hơi quá viết vài trang văn mà không chấm phết không xuống hàng không có ý tưởng chủ đạo thì có mấy độc giả làm thày tu đọc được kinh Tiểu thuyết Mới thành thử khi chủ nghĩa Cộng sản còn sống hùng còn tạo ra Chiến tranh Lạnh nóng rực trái đất thì Tiểu thuyết Mới đã lạnh cẳng thoi thóp vì sao dễ ợt vì à anh Hải ngủ say rồi hết nói mớ rồi nên tôi bắt đầu có thể nói những quan điểm của kỹ thuật lý giải chủ nghĩa Cộng sản mang bảng hiệu Minh Rô-lăng để tôi dừng xe làm ly café đặc và đi tiểu cái đã xong nhẹ cả bụng nở cả tinh thần rồi bây giờ tôi giải thích một nan đề mà ít người hiểu ra tại sao chủ nghĩa Cộng sản không cần phân biệt Người Vật Việc ở tầm vĩ mô mà vẫn rành rẽ cái nào là Người là Vật và là Việc ở mức vi mô dễ ợt vì chủ nghĩa này coi Tư tưởng mới là mẹ của Người Vật Việc khi cần Tư tưởng đẻ ra Người khi muốn Tư tưởng hóa thành Vật khi có thể Tư tưởng làm Việc ha ha ha mấy chú phê bình gia văn học tưởng làm cha thiên hạ bằng ba bài tranh luận văn đàn tâng bốc Vật lên thành vua trong Tiểu thuyết Mới mà không hiểu ông vua con trẻ này còn phải có thái hậu Tư tưởng chỉ bảo từng tí một đó chính là nội dung cuộc tranh luận vô tiền khoáng hậu bất phân thắng bại khiến người ta ví nó như một ngọn tháp Eiffel trong tư tưởng văn hóa thế kỷ 20 giữa chủ soái Tiểu thuyết Mới Roland Barthes và lý thuyết gia chủ nghĩa Cộng sản người Việt Nam Trần Đức Tốt Vấn đề đồ vật và vấn đề lý luận không đồ vật là cuốn sách chôn Tiểu thuyết Mới Pháp bằng ngôn ngữ Việt mà thôi dẹp chuyện tiểu thuyết đi Minh Rô-lăng đang giải thích chủ nghĩa Cộng sản cơ mà nghe đây anh Hải Dớ với tôi vấn đề không phải là chinh phục thế giới chủ nghĩa Cộng sản mà chỉ là giải thích thế giới chủ nghĩa Cộng sản vì với chủ nghĩa Cộng sản giải thích tức là chinh phục rồi ô là la điều này mấy vị chống Cộng sản không làm sao hiểu được nói tiếp này chủ nghĩa Cộng sản có một ngữ pháp riêng văn phong riêng hình tượng riêng cấu trúc riêng nên chỉ cần vốn từ vựng Người Vật Việc đã có thể tạo nên văn hóa văn minh của mình mà không một thứ văn hóa văn minh nào trước hoặc sau nó so sánh được về mọi mặt hay dở xấu tốt anh Hải đang ngủ mà mở mắt ra thế kia à đừng tôi sợ lắm nhắm mắt lại đi nào để tôi nói tiếp tôi lý giải chủ nghĩa Cộng sản chứ không bênh vực hay phê phán chủ nghĩa Cộng sản thì cũng như các nhà khoa học giải thích thiên tai chớ họ không làm công việc của mấy già làng là bình bàn bão lụt núi lửa động đất hạn hán dịch bệnh chiến tranh nhưng nếu ai chụp mũ tôi rằng tôi ví chủ nghĩa Cộng sản giống thiên tai tôi cũng không gây cổ cò lên cãi khi mà tôi hiểu chính thiên tai đã làm cho xã hội loài người tiến hóa trưởng thành lên văn minh hơn thậm chí có thể nói chính thiên tai đã làm nên con người hiện đại ví dụ nha cấm ví dụ thì làm sao giải thích được ok ví dụ này không có thiên tai sẽ không có tôn giáo có đúng không nào mà không có tôn giáo sẽ không có văn hóa văn minh à lại có người hay ví chủ nghĩa Cộng sản là tôn giáo tôi không bàn kỹ điều này hôm nay nhưng có thể nói trước rằng nếu như vậy thì chủ nghĩa Cộng sản vừa là kết quả vừa là nguyên nhân trong vấn đề tôn giáo và thiên tai nhưng thôi anh Hải sắp tỉnh ngủ rồi mà các băng nhạc Tịnh Đông Sơn cũng đã hết cuối cùng tôi có một kết luận làm vui ý trung nhân của tôi đó là chủ nghĩa Cộng sản là thiên tai chí mạng cho chủ nghĩa Tư bản chú ý toàn bộ các lý giải trên là với chủ nghĩa Cộng sản chứ không phải với người Cộng sản hoặc với vật Cộng sản hay sự việc Cộng sản tức là tôi chỉ bàn ở phương diện chủ nghĩa với một anh Hải Dớ trong mơ chấm hết”
“Mọi ý thức hệ và tất cả các thánh kinh đạo thuyết của xã hội loài người đều thua chủ nghĩa Cộng sản ở sức quyến rũ ban đầu: Chủ nghĩa này có cốt tủy trí tình là vấn đề Yêu và Ghét. Minh Rô-lăng chắc không thủng điều này đâu, nghe Hải Dớ biện luận trong mê mà tỉnh tỉnh mà mê này. Hải không bàn luận, tranh cãi với anh. Ở trong nước thì còn có kỳ phùng địch thủ. Đến Bun, không ai cãi nổi lại Hải. Qua Đức, trong gần 30 ngàn tường nhân và hơn 100 ngàn thuyền nhân, chỉ với một ông Đồ Râu là Hải không dám rút lưỡi ra. Hải áp đặt anh, trấn áp anh bằng lề thói của một vùng đất phải có “năm tấn tóc để góp phần thắng” cái danh “tay bị tay gậy khắp nơi tung hoành.” Vậy, thế nào là Yêu và Ghét với học thuyết Cộng sản?
Dạo làm tờ Nói anh chị em chúng nó nói về tôi, “Hải Dớ chỉ võ mồm thôi, không biết đánh ai bao giờ. Yên tâm cãi nhau với ông ấy.” Tôi bảo: “Cha ông tao, chú anh tao học đánh suốt mấy ngàn năm, mới nhất là hai cuộc kháng chiến trường kỳ với ba đế quốc to. Thế là đủ. Đố chúng mày biết bây giờ chúng ta cần học gì, thay cho tiền bối?” – “Xây dựng đất nước đã được thống nhất?” – “Làm kinh tế chứ gì? À không, bắt tay với Mỹ trước đã?” – “Không! Đi… tỵ nạn chứ?“ – “Sai bét! Thày cho cả ba em ‘Không’ điểm! Và bây giờ là cô Hoài Nam, Thơ ký Tòa soạn bán nguyệt san Nói, bày tỏ ý kiến của mình?” – “Hoài Nam thua! Quỷ cũng hổng biết trong lưỡi anh Hải Dớ sắp nói điều chi?” – “Vậy nghe đây: Học… đ.’!” Cả phòng nhao nhao, la hét ầm ĩ. Này Minh Rô-lăng, hôm đó tôi nói ‘đ’.’ là theo kiểu nhà quê miền Bắc. Bây giờ kể lại cho anh, tôi dùng kiểu miền Nam nhé, tức là ‘đụ’. Vì đối với chúng tôi, chữ ‘đụ’ chẳng xấu xa gì. Như chúng tôi chửi nhau bằng tiếng Bun, tiếng Đức vậy. Nói ‘đụ’ cho đỡ bẩn miệng vì sắp tới tôi còn ‘đụ’ nhiều lắm! Đang kể tới đoạn nào? À, cả căn phòng làm báo hét hò inh ỏi. Các phòng bên tưởng Tòa soạn Nói bị bọn Đầu Trọc tấn công cũng nháo nhác lên. Khu ký túc xá như ong vỡ tổ. Mấy em mấy chị bịt tai thỏ lại. Bọn đàn ông con trai giương mắt ếch ra. Ong, thỏ hay ếch gì thì cũng đang chờ đợi. Họ luôn biết sau các câu tục tĩu của một thằng như tôi con nhà nông ba đời chân chữ bát đầu gối củ lạc bắp củ chuối thế nào cũng mở ra những đại lộ thâm thúy mà đi tới một chân trời chân lý. “Đánh nhau giỏi rồi. Giỏi đánh người ta, giỏi cả đánh người mình. Dân tộc Việt, từ nay trở đi, cần học đụ cho giỏi. Các bạn cũng biết có một sắc dân lớn nhất nhì thế giới là Ấn Độ, họ ngược lại với chúng ta: Làm tình thì giỏi mà chiến đấu lại kém. Sách dạy thuật nghệ thuật chăn gối cổ xưa nhất tên là Ca… xu … xu..…a.. ha ta ma… gì đó là của họ đấy! Còn lịch sử chiến trường cổ kim chả mấy ai nhắc đến xứ này. Trong số báo tới Hải sẽ có bài cho mục ‘Bàn loạn thiên địa’, nhấn mạnh việc Ấn Độ có hai sản phẩm vô giá đáng kiêu hãnh với văn minh loài người là thuật tình dục và lò Phật giáo. Niềm tự hào thứ ba thuộc về thời hiện đại là có một cái ông thi sĩ Tagore. Hết. Sẽ có bạn đọc cãi Thuyết Bất bạo động của me-xừ Ganhdi thì sao. Cãi sao lại với Hải Dớ: ‘Vấn đề này vượt quá khuôn khổ của tờ báo. Xin hẹn số báo năm sau.’ Về cái kém của dân Ấn, nhiều lắm: Ăn mày tha phương cầu thực được nâng lên thành giai cấp riêng này. (Chắc dân Thái Bình nhà tôi có cụ tổ bên đó?) Nữ quyền thì bê bết. Đàn ông lại bụng to. Làm việc ở đâu cũng chúa là hay nịnh chủ. Lại còn can tội giỏi bắt chước, như thấy người ta có Hollywood thì mình Bollywood, mà trăm bộ phim như một. (Quả đáng tội được cái diễn viên đẹp!)” – “Em xin ngắt lời: Anh Hải đang nói về chủ điểm đụ cơ mà?” – “Thằng này còn ‘trinh’ hay sao mà ‘máu’ thế! Từ từ, đụ gì thì đụ cũng phải có màn giáo đầu chứ mày. Thì quay về đụ… E hèm, thưa độc giả Nói, bạn có biết người xứ sở nào oánh nhau – ngoại xâm cũng như nội xâm – đã tài mà đụ nhau cũng cừ? Tôi không cho bạn một giây suy nghĩ vì quá dễ: Trung Quốc. Hải Dớ không thể coi thường kiến thức Trung Hoa học của người Việt chúng ta mà giải thích lòng vòng như với vấn đề Ấn Độ học. Chỉ nói gọn trong một câu ba mệnh đề liên hoàn (không phải Tam đoạn luận rắc rối đâu, đơn giản lắm): 5,000 năm lịch sử Tàu là 5,000 năm đánh nhau là 5000 năm đụ nhau.”

Đó là một chân lý điền dã mà tôi thấy khoái nhất trong bút danh Hải Dớ của mình. Sông Hồng, cái thằng Tổng biên tập Nói ấy sau này thất tình thất tính chi đó nhảy xuống sông Danub xanh chết uổng đời trai, hôm đó phán: “Chỉ với một câu ba mệnh đề liên hoàn, anh Hải cũng đã trả thù cho cuộc chiến tranh Biên giới Trung-Việt tháng Hai năm 1979.” Nói cho sướng cái lỗ miệng, chứ nhát như tôi thì dám đụ đ’. ai. Đụ mình còn không xong! Kìa, anh chú ý tay lái! Đoạn Hoechstadt này lại mới thêm hai nấm mồ bên đường trong quý I vừa qua. Nhưng tôi đang mở thao láo con mắt trong mơ không phải vì sợ chết. Tôi mở mắt. Tôi đang nhìn lại những năm tháng ánh rực của đời mình khi làm báo với sự tự do ngôn luận đúng nghĩa của nó ở Bun ngày đó. Khổ thế đấy, nhìn về quá khứ – dù quá khứ đẹp – người Việt chúng tôi vẫn phải lặn vào giấc ngủ để nhìn. Kém thế đấy! Người Việt Nam không đủ khách quan để quay lại với quá khứ trong sự tỉnh táo bình thường. Nông dân như tôi, chui vào cơn mê. Tỉnh lẻ như nữ sĩ họ Lương thì dùng tiểu thuyết. Mà lại tiểu thuyết vô đề nữa chứ! A, ý chừng nữ sĩ nhắn nhe cố văn hào Nhất Thiêng rằng tiểu thuyết hữu đề luận đề luận điểm xưa rồi; chui vào mớ đề điểm đó nhìn về quá khứ thì lại phải phiền đến ông lão lịch sử thong manh phán xét dùm. Cánh thủ đô Hà Nội luôn có sẵn rượu, nước mắt và nước Hồ Gươm. Tóm lại toàn là chất lỏng, tưởng thế là dễ bề trôi về dòng sông của hôm qua. Dân Nam mạnh bạo hơn, song cũng không hiệu quả là bao: hoặc rủ rê cái cột điện vượt biên giới của thời gian hoặc chửi thề dưới gậm bàn quán cà-phê bất kể thời gian nào hoặc coi kiếm tiền là cách ứng xử với thời gian. Thôi, tôi nhắm mắt lại đây…

“Dân Ý thì sao anh Hải Dớ? Em nghĩ rằng cũng so được với người Trung Quốc trong ‘chuyện ấy’ và trong chiến tranh.” – “Đúng! Cậu không sai. Văn minh thời La Mã, Hy Lạp cổ nghe nói là bị lụi tàn vì đàn ông đàn bà Ý đa tình dâm tính quá. Chiến đấu với kẻ thù xong, về làm tình ngay với người yêu. Chưa hết, họ còn đụ rất bừa bãi. Khoa học có các tài liệu cho thấy nhiều nam giới La Mã, Hy Lạp chết bị kiệt sức sau các trận mây mưa trong những nhà tắm hơi công cộng.” – “Vậy đề nghị tác giả ‘Bàn loạn thiên địa’ phân tích luôn việc Đánh và Đụ của ba đế quốc to là Nhật, Pháp và Mỹ?” – “Cám ơn gợi ý. Đã chuẩn bị sẵn đề tài này, tôi có thể ‘mở đài’ luôn. Trước hết là Nhật, thú thật, tôi chưa đủ kinh nghiệm và hiểu biết về con người và xứ sở này trong chuyện ta đang bàn. Tôi chỉ có lòng căm thù truyền từ cha ông rằng, đó là kẻ gây ra hai triệu người Việt chết đói hồi 1945 (mà dân Thái Bình chắc phải dự phần tới nửa triệu, vì riêng họ Đinh tôi mất cả thảy 333 người!) Chậc! Thì cũng biết là Nhật họ lùn. Lùn là lùn so với Tây, chứ không lùn so với ta. Thế mà ta cứ bảo họ lùn. Cứ làm như hễ gây ra hai triệu người đói thì lùn sao? Đủ thấy dân mình đã không khách quan lại kém về môn cơ thể học. Uýnh nhau thì dân Nhật rành rồi. Võ Nhật võ sĩ Nhật. Hết phải bàn. Chuyện giao hợp giao cấu của họ, theo tôi được biết, với khoa học thế giới còn là bí ẩn. Bí ẩn không phải vì các khoa học gia lười biếng, mà vì các nghiên cứu hàng đầu lãnh vực này nằm cả trong tay người Nhật, dù ở Nhật hay Mỹ, Anh, Pháp… Nên dại gì họ “vạch áo cho người xem” cu ngó bướm của họ! Một điều Hải Dớ nhấn rất mạnh ở đề tài này: Thảm họa tình dục mà các nam quân nhân Nhật Hoàng gây ra cho các nữ nạn nhân Triều Tiên, Trung Hoa hồi giữa thế kỷ trước không thuộc về lãnh vực làm tình. Đấy đâu phải là đụ, giữa đàn ông với đàn bà, giữa hai con người. Đấy cũng không phải là đụ, giữa bọn đực của phe chiến thắng với giống cái của xứ bại trận, như một loại chiến lợi phẩm. Khi Hải nói vậy với một số người học ít và đụ nhiều, họ cãi: ‘Ông nói thế chó cái nó cũng không nghe nổi! Cả một tập thể đàn ông dùng vũ lực và đực tính để huỷ hoại danh dự và nữ tính của một cộng đồng phái yếu, thì gọi là gì? Nói thẳng là chúng nó rút cu ra quất vào chỗ nhậy cảm nhất của một nửa dân tộc, thì gọi là gì?’ A, đấy, đấy! Họ rơi vào bẫy của Hải Dớ: “Đúng! Nếu bạn muốn gọi đó cũng là đụ thì đó là cái đụ của cả dân tộc Nhật vào cả dân tộc Hán, dân tộc Hàn. Khái quát hơn, ở tầm văn minh loài người, đó là cái đụ của võ lực dương tính vào phần âm tính yên hòa. Nó báo hiệu một mâu thuẫn ghê gớm nội tại trong tập thể giống người. Dương diệt Âm. Thế thì bỏ mẹ loài người rồi! Âm mà suy thì người bị hủy diệt, hết sinh sản, nảy nở. Có sinh nở cũng ra quái thai dị nhân. Quả nhiên, thế kỷ 20 với hai cuộc đại chiến tanh tưởi mà từ thân thể mỗi người Việt chúng ta ngồi đây – các Biên tập viên Nói – đang còn tỏa mùi. Tôi xin khép lại màn một của kịch bản Nhật-Mỹ-Pháp với nhát dao buồn đâm vào tim chúng ta: Hôm qua, các bạn ạ, tôi – Đinh Văn Hải – đọc báo bạn, tờ Cánh Diều của tường nhân ở Tây Đức. Và tôi đã đẫm lệ trước đoạn tin về một nữ tường nhân người Hoa phải nhảy từ toa-lét tầng bốn xuống, rồi cô chết. Chết, để tránh sự tấn công tình dục của ba nam tường nhân khác, người xứ nào đó từ Phi châu. Đau đớn ở chỗ cô sinh viên năm cuối Đại học Dresden – một trung tâm văn hóa của Đông Đức – từ bỏ trường lớp đi tỵ nạn vì một ý muốn cụ thể: sang Tây Đức để in cuốn truyện đầu tay mang tên “Cưỡng hiếp Thượng Hải”. Bà ngoại của cô là một nạn nhân trong tai nạn tình dục tập thể Nhật-Hoa và sinh ra mẹ cô mang dòng Nhật. Thương lắm thay!

“Yasuji Kaneko, 87 tuổi, vẫn nhớ như in tiếng thét của vô số phụ nữ bị ông hãm hiếp khi còn là lính Nhật Hoàng thời Thế chiến II. Một số nạn nhân là các thiếu nữ Triều Tiên, làm nô lệ tình dục trong những nhà thổ quân đội. Một số khác là những phụ nữ sống trong các làng mạc Trung Quốc, nơi Kaneko cùng quân đội Nhật càn quét qua. ‘Họ khóc thét lên, nhưng chúng tôi chẳng bận tâm họ sống hay chết’, Kaneko nói trong một cuộc phỏng vấn ở nhà của ông. ‘Khi đó chúng tôi là lính Thiên Hoàng. Cho dù là trong nhà thổ hay ở ngoài làng, chúng tôi hãm hiếp họ không một chút ngần ngại’. Bà Lee Yoong-soo (Ảnh: Reuters) 78 tuổi, người Hàn Quốc, kể lại rằng bà chỉ mới 14 tuổi khi bị các binh sĩ Nhật lôi ra khỏi nhà vào năm 1944, và rồi bị đưa đi làm nô lệ tình dục ở Đài Loan.

Các nhà sử học ước tính khoảng 200,000 phụ nữ – hầu hết là người Triều Tiên, Trung Quốc – đã phải phục vụ trong các nhà chứa của quân đội Nhật trên khắp châu Á trong những năm 1930-1940. Năm 1993, Chánh văn phòng nội các chính phủ Nhật khi đó là Yohei Kono đã tuyên bố xin lỗi về việc phụ nữ nước ngoài phải làm nô lệ tình dục, và thừa nhận giới chức quân đội Nhật Hoàng đóng vai trò trực tiếp thuê mướn các nhà thầu để họ buộc phụ nữ vào làm ở đấy. Hai năm sau đó, Tokyo lập một quỹ bồi thường, nhưng lại dựa trên các nguồn đóng góp tư nhân chứ không phải tiền chính phủ. Việc này bị chỉ trích là cách để chính phủ tránh trách nhiệm. Nhưng giờ đây một số quan chức Nhật lại đặt câu hỏi: liệu việc xin lỗi có cần thiết không? Thủ tướng Nhật Shinzo Abe trong một bài phát biểu hôm qua đã bác bỏ việc phụ nữ Trung Quốc, Triều Tiên bị bắt làm nô lệ tình dục. Nhận xét của ông Abe được đưa ra chỉ ít giờ sau khi Tổng thống Hàn Quốc Roh Moo-hyun tổ chức quốc lễ kỷ niệm cuộc nổi dậy kháng Nhật của người Hàn năm 1919. Ông Roh yêu cầu Tokyo làm rõ quá khứ thực dân của mình. (5)

Cho Hải xin lỗi, vì đã làm các bạn nữ trong tờ báo của chúng ta phải khóc theo Hải. Khóc theo đàn ông là nước mắt của người đàn bà mặn gấp đôi. Hình như người Nga hoặc người Tiệp, không thì người Ba Lan, nói vậy. Thôi, bây giờ sang chuyện Mỹ. Vui hơn! Chú Sam nhiều tiền, nhiều súng đạn thật đấy. Nhưng tiền không phải tinh trùng, súng và đạn đâu phải là buồng trứng và trứng. Người xứ này quen thói quân tử cao bồi không dấu quanh co như người Nhật: Chiến tranh gia và tình dục gia Hoa Kỳ nói thẳng ra cho dân chúng đóng thuế ở Mỹ rằng “Cả make war và make love chúng ta đều theo ý Chúa, tức là thực dụng. Đánh nhanh đụ nhanh, kiểu fastfood.” Cuối cùng, ông đế quốc to thứ ba mà người Việt đánh thắng là Pháp…”

Minh Rô-lăng, để tôn trọng anh – một dân Pháp – tôi tạm ngừng ở đây. Này, anh không cần phải ngừng lời. Nghe tôi thì tai anh cứ nghe. Miệng anh cứ việc lý giải chủ nghĩa Cộng sản theo cái thứ ngữ pháp của anh đi. Cứ để nhạc Tịnh ru hai ta theo cái cung la thứ đau đáu của nó đi. ‘Chaque l’homme a son job’. Anh hay dạy tôi vậy. Chúng ta không tranh luận. Chúng ta cũng không độc thoại. Song thoại, chúng ta không đối thoại. Đó là một hình thức mới của diễn đàn tự do mà chỉ những người đi tìm tự do, đi tìm Đê-mác, như người Việt, như người 24 sắc dân khác đến nước Đức này, cần sử dụng khi mà tự do và Đê-mác còn chưa ở tầm chân và tầm tay mình. Theo ngu ý, dân Đức chính hiệu không khi nào cho chúng ta – kể cả anh – có được đồng thời tự do và Đê-mác của họ. Hoặc là họ cho ta tự do, ta lại không đủ thế lực dùng cái tự do đó; hoặc là họ để ta có Đê-mác, thì ta không đủ tinh thần làm chủ thứ Đê-mác này. Người Việt tỵ nạn, nhất là các bác thuyền nhân, même các bác Việt Kiều Yêu Nước, cứ tưởng bở rằng đít đặt vào đất tự do là lưỡi tự do theo. Cứ muốn đối thoại với nhau trong tinh thần tự do dân chủ đa nguyên đa đảng. Nực cười nhất là đòi đối thoại với đồng bào quốc nội, với chính quyền và đảng Cộng sản nữa chứ! Sai! Ba lần sai. Thôi thì hai lẫn rưỡi sai. Nhưng Hải Dớ lo cãi nhau với Minh Lô-răng cũng hết đời tỵ nạn. Mâu thuẫn Trong-Ngoài, Bắc-Nam, Quốc-Cộng, Phật-Chúa, Tỵ nạn mới-cũ đã có Cánh Diều chuyên chở. Mà này, anh là nửa Pháp thật đấy, nhưng kiến thức về sự Đánh và Đụ của Gà Gô-loa anh cũng chả bằng tôi. Để tôi kể tiếp…

“Thưa các bạn Nói, dân Phú Lang Sa – với biểu tượng Nã Phá Luân bách chiến bách thắng trong phòng the và sa trường – hiển nhiên là lãng mạn và điệu nghệ với hai cuộc chơi này của tạo hóa. Xứ này hơi ít ánh mặt trời – so với xứ Địa Trung Hải – nên có thể vì thế họ ‘lạnh’ hơn với sự mần tình bằng bộ phận sinh dục theo lối chính thống. Không biết về số lượng tinh trùng và trứng ở người Pháp so với người Mỹ ra sao, song vì không nhiều đôla như người Mỹ, nên – để là một cường quốc – dân Pháp phải nhiều nước bọt hơn. Tức là họ faire l’amour faire la guerre bằng lưỡi và ngôn ngữ. Hôn kiểu Pháp: Nhất thế giới! Tán gái kiểu Pháp: Cũng nhất! Mà ngoại giao Pháp: Càng nhất! Tôi ngờ rằng chính là giới y học và tình dục học Pháp đã làm phong phú thêm khái niệm oral ở vấn đề chính thức hóa việc làm tình Miệng và chiến tranh Miệng.” – “Hấp dẫn và bổ ích như thế này thì Hoài Nam có thể nghe anh Hải Dớ song thoại hết đêm. Dù biết anh không bao giờ bỏ rơi cái đích dễ thương của mình, nhưng là phụ nữ, Nam tò mò muốn biết sớm màn Đụ và Đánh của anh đã sắp dẫn tới màn Yêu và Ghét của chủ nghĩa Cộng sản chưa. Anh cứ Đánh cứ Đụ lâu thế, Nam chỉ sợ anh mệt thôi.” – “Hải Dớ, hãy để chị giả nhời cho Hoài Nam câu này. Đằng nào chị đây cũng đang ê-đít Hải, ồ xin lỗi ê-đít bài của Hải. Trước tiên, chị đề nghị Hải Dớ chuyển khái niệm chủ nghĩa Cộng sản sang thành chủ nghĩa Xã hội. Giữa chúng ta là người hiểu biết và ăn nằm cùng nhau, ối xin lỗi, sinh hoạt cùng nhau trong một tờ báo như thế này rồi, nói ra không phải phân biệt Nam-Bắc nhưng quả là các bạn ra đi từ các tỉnh thành phía Nam của tổ quốc không hình dung được chủ nghĩa Cộng sản đâu. Đến như chị đây, mang tiếng đảng viên 20 năm, bí thư Chi bộ 10 năm rồi Thường trực Đảng ủy 5 năm mà cũng chả biết chủ nghĩa Cộng sản cao bao nhiêu, vòng eo thế nào, mông ngực ra sao. Cái mà chúng ta chứng kiến, đó chỉ là chủ nghĩa Xã hội của Việt Nam, của Bun – những đứa con không giá thú của chủ nghĩa Cộng sản. Cả tờ Nói này và cả nước Bun, rồi nửa nước Việt Nam, đều biết chuyện chị có con hoang. Chị không tự hào vì điều này, như từng tự hào về 12 năm Thanh niên xung phong của mình. Nói vậy chỉ để Hoài Nam và mọi người thấy rằng nhận xét trên đây về chủ nghĩa Xã hội của Việt Nam – đứa con không giá thú của chủ nghĩa Cộng sản – là ra từ máu thịt chị. Theo các thày ở trường Đảng – nói với nhau ngoài lớp học mà bọn chị nghe lỏm được – thì chả có quốc gia nào trong 13 nước xã hội chủ nghĩa là con chính thức của chủ nghĩa Cộng sản. Vấn đề là ở chỗ chủ nghĩa Cộng sản không hề có con chính thức! Hoặc là nó giống cụ Ăng-ghen, không có vợ và chả có con. Hoặc nó giống ông Lê Nin, có vợ mà không có con. Hoặc nó giống Bác Hồ không vợ mà có con đồn thổi. Để giải thích chủ nghĩa Cộng sản, hoàn toàn không dễ. Và chị luôn đi tìm người nào làm được điều đó, để chị tôn thờ. Linh cảm của một người nữ chiến binh từng trải qua chiến trường ác liệt và có khao khát tình ái – tất nhiên cả tình dục – chị cho rằng chủ nghĩa Cộng sản là một người đàn ông tuyệt đẹp, một người lính được huấn luyện tốt và không mang khả năng sinh đẻ cũng như không có năng lực tác chiến. Đó là một người tình trăm năm, một người lính kiểng bốn mùa. Vậy thôi. Kế đến, về cái thắc mắc sốt ruột rất dễ thương và đáng trách của em Hoài Nam. Này nghe đây, chị bảo cho mà biết: Em ăn gì mà em chậm lụt vậy? Ghét tức là Đánh, là chiến tranh, là diệt nội (chiến), là chống ngoại (xâm). Trước khi qua đây xuất khẩu lao động, ở miền Nam em học lịch sử được mấy điểm, trường nào lớp nào, thày cô nào dạy? Yêu là cái ‘vụ ấy’ đấy. Qua Bun mấy năm rồi Hoài Nam của chị vẫn hiền như ma sơ thế ư? Xin lỗi, phải nói là đụ mới hay. Tức là phải gọi con mèo là con mèo thì mới ra bản chất. Ngôn ngữ lúc này trở thành sự vật. Thế nào Hải Dớ nhỉ? Đoạn này khó quá! Khó về logic chứ không vì từ vựng. Chị sợ lời chảy không trôi ra nghĩa…” – “Cám ơn chị đã minh họa lời ý của Hải bằng cả hạnh phúc và bất hạnh của chính cuộc đời mình, qua chính thân thể mình. Hải đã khóc hơn một lần về chị rồi. Nay không khóc nữa, xin tiếp lời… Nói chung, khoa học hiện đại đã đi tới thống nhất, động tác giao hợp ở loài người thường có ba chức năng: sinh sản, tình ái và tình dục. Cả ba chức này đều có chữ Yêu bao trùm. Yêu con cái; Yêu người thương; Yêu “cái ấy”. Riêng chức cuối thì khá phức tạp: Tình dục nếu không tự nguyện thì có nằm dưới bóng râm của cây Yêu không? Những cú đụ trong các vụ lạm dụng tình dục, tấn công, cưỡng hiếp thì sao? Khi đó Đụ có thể coi là Đánh không? Không. Suy diễn vậy là thô thiển, là không hiểu một li tấc gì về cơ chế và hành trình của sự đụ! Đụ vô cùng phức tạp và tinh tế. Nó còn phức tạp và tinh tế hơn nhiều lần sự sinh đẻ ở người nữ. Hải Dớ cho rằng, không khi nào con người giải thích nổi hành vi giao hợp, nếu như người nam còn đeo cái cà lủng cà lẳng giữa thân mình và đi giữa trần gian. Dù có lớp quần áo, các bài giảng đạo đức hay cái còng số 8 che phủ. (Có lẽ vì thế việc xẻo dương vật của chồng hay người yêu liệng vào toilet ở cuối thế kỷ trước và đầu thế kỷ này không còn trở nên ác mộng nữa. Đó là hiện thực.) Hải thấy thế này: Xét về tính tương hỗ, thằng đực đê tiện đó nó đê tiện về đạo lý, pháp lý, song về mặt cơ thể nó và cái cu của nó vẫn “yêu” người đàn bà kia và bướm của người đàn bà. Nên luận điệu Đánh và Đụ cũng vẫn tạm dùng để làm nhịp cầu đi đến sự lý giải, minh họa cho bản chất của chủ nghĩa Cộng sản là giải quyết vấn đề Yêu và Ghét, Bạn và Thù, Ta và Địch. Nói luôn mà không sợ mất lòng: Chưa đến kỳ họp Ban biên tập, nhưng Hải cũng khẳng định dưới ngọn đèn kia rằng vẫn bảo lưu các chữ chủ nghĩa Cộng sản, chứ không hiện thực hóa, “con hoang” hóa nó thành chủ nghĩa Xã hội. Không kiêu ngạo gì, nhưng Đinh Văn Hải Dớ không cần Nói, màchỉ cần hắt xì hơi cũng xong ba bẩy hai mươi mốt cái thành tựu và chuyện ruồi bu cóc cắn của chủ nghĩa Xã hội. Cách mạng tháng Mười vĩ đại ư? Chính quyền đẻ ra từng nòng súng ư? Đệ Tứ Đệ Tam ư? Cách mạng Văn hóa ư? Liên minh Công-Nông ư? Xóa bỏ bóc lột ư? Trại cải tạo và lưu đày Chiến tranh Lạnh ư? Bức tường Berlin ư? Cải cách điền địa ư? Người cày có ruộng ư? Xét lại chống Đảng ư? Đàn áp trí thức và nghệ sĩ, Nhân văn-Giai phẩm ư? Và còn nữa ư? Nếu Nói chỉ được nói đến chủ nghĩa Xã hội thôi, Hải Dớ sẽ không nói ở Nói nữa.”

“Anh đúng là hung hăng con bọ xít. Cái miệng làm hỏng cái tay. Thế rồi vụ Đánh và Đụ có thành bài được không? Tôi đâu thấy Nói đăng?” – “Bà ấy đúng là đàn bà… có con ngoài giá thú, khi cố tình hủy mất bài báo đó của tôi. Nhưng thôi, không có chuyện Đánh và Đụ bất hậu tôi đã không gặp anh.” – “A, thế ra anh bỏ Bun qua Đức vì thế? Ha ha ha, Hải Dớ tỵ nạn Đánh và Đụ! Ly kỳ thật! Như chưa ai biết việc này. Nhưng, qua nguồn tin em Phương, tôi suy ra lý do không phải vì tranh chấp khái niệm Cộng sản hay Xã hội gì hết. Mà vì, nhìn vào mắt tôi này: Vì em Hoài Nam, bà chị ghen! Đúng chửa?” – “Anh thì biết cái cóc khô gì! Của em Phương, bằng lá tre hay lá đa, rô ron hay diếc trắng? Nói tôi nghe? Nếu không khám phá điều sơ đẳng đó, anh không thể cậy lưỡi em điều gì?” – “Ừ nhỉ, chả ai cãi lại cậu ông trời. Nữ chiến binh có con ngoài giá thú còn phải chào thua anh. Đùa thôi, tôi tôn trọng quyền tự cá nhân nơi bạn mình. Này Hải Dớ, về văn bản học – môn này có lâu rồi, Pháp quốc là lò sinh ra nó – và âm thanh học văn bản – môn này chưa có, vì Minh Rô-lăng còn ngồi đây, là lá la – tôi thú vị ở việc anh sử dụng chữ đụ và chữ đ’ trong diễn thuyết và trong bài viết. Dù vô tình, dù bản năng.” – “Tôi không biết trong tiếng Tây, tiếng Đức nhà anh thế nào, còn trong tiếng Việt đã nhiều người đi trước tôi và văn chương hơn tôi. Tôi chỉ là thằng nhà báo tay mơ thời thế xúi dục. Bõ bèn gì! Không kể văn học dân gian là tổ sư của vấn đề ngôn ngữ tục dâm, không kể các dòng văn học Việt trước 1975 có các nhánh xứng danh ba má, ta chỉ nói về văn học đương đại: Ở Hòa Lan có nhà thơ Đỗ Ca Hát (hành nghề bác sĩ phụ khoa gần khu Đèn Đỏ) là sư phụ trong vụ này. Đại diện xứ Pháp: kịch tác gia Đinh Tinh. Miệt Dưới Úc xa xăm là của ký giả Lê Thị Thấu Mây. Bên Mỹ thì bắn cũng không hết: này là nhà văn Đỗ Lê Em Táo, kia là tiểu thuyết gia Trần Minh Lính, kia nữa nhà thơ Nguyễn Đăng Giường và cuối bảng là cái tên to đùng kịch bản gia điện ảnh Nguyễn Hưng Nước từng có hẳn một bài mang tít gọn mà chắc “Luận về Cặc”. Chả kém cạnh, quê hương Đức quốc chúng ta góp tục với dịch giả Kiệt Tạ nổi trội ở bài phóng tác rất báng bổ ‘Vọc buồi trong lăng miếu’. Trong nước, thi sĩ Nguyễn Đức Sơn với câu thơ kim chỉ nam ‘Đụ mẹ cây bông! Mầy không lao động…’ từ mấy thập niên trước hẳn đã làm khá nhiều cây bút hăng say lao động sáng tạo trên cánh đồng thẳng cánh chim bay tha hồ bướm lượn. Như tùy bút gia Nguyễn Quốc Phụ với các đoản thiên đụ cát, vì ảnh cùng quan niệm với ông Tây Derrida ‘Văn chương là một cái dái cửng’ (Ảnh nói là nói vậy thôi giữa đàn ông với nhau ta nên hiểu cái dái Tây khác dái ta, sự cửng Tây cũng khác cửng ta; vậy dù cùng một quan niệm văn chương vẫn có thể sinh ra hai sản phẩm văn chương dái cửng Tây ta.) Như nhà trường ca Phạm Thị Nhớ gần đây đề nghị một phép thử: ‘Cứ viết 250 chữ l`. bằng mực đen trên giấy trắng thì sẽ thấy chữ l`. hết là tục.’ Dân tình vỗ tay đôm đốp với phác thảo trường ca l`. đó! Tờ tập san ra mỗi hai tháng Ai Là Ta ở Úc và tạp chí Tiến Về có tòa soạn ở Pháp là hai lò của bài vở loại này. Ai Là Ta có mục thường xuyên biếm hài Ai Là Cu. Tiến Về thì trao giải thưởng bài hay trong quý bằng hiện vật là 50 cái bao cao su loại mỏng dai thơm dùng xong giặt lại. Trước khi quen anh, tôi có lần trúng thưởng (cho bài phiếm bênh Tiến Về bị báo chí khắp nơi trong ngoài Việt Nam chửi rủa), mang về phát cho cả Trại đi ‘đèn đỏ’ Frankfurt vừa chơi vừa thổi bóng không hết. Tôi thật có lỗi, lâu nay mải dạy anh về Việt Nam Mới mà xao lãng phần Việt Nam Sex của văn nghệ và báo chí Việt hải ngoại. Dừng xe, cho Hải Dớ đi tiểu cái đã. Không thì lại nứng lên ứa ra bẩn cái xe đẹp của anh… OK! Tiếp tục. Anh biết không? Hai tờ Ai Là TaTiến Về này cũng chả ưa gì nhau như trăm tờ báo hải ngoại khác, lại tranh giành ngôi hàng đầu tiên phong tiến lên trẻ hóa nền văn học hải ngoại đang lão hóa (dù từ 1975 đến giờ, mới mấy chục tuổi bọ!) Nhưng – y như các cụ Đệ Tứ chơi với kẻ thù mỗi khi cần đồng minh – hai tờ liên minh lại làm chung chủ đề “Văn chương Tình dục và Dâm dục Và Tình dục và Dâm dục Văn chương Và Dâm dục và Tình dục Văn chương”. Các cậu các mợ văn sĩ tôi kể trên là các chim các bướm chính trong vườn hoa này. Ối giời ơi, văn đàn Việt được một phen động bút. Chưa khi nào chữ nghĩa tiếng Việt được làm tình và làm tội sướng và khổ như thế! Tôi không để ý cánh hải ngoại, chỉ lo để động bút với mảng Trong nước. Họ chửi Ai Là TaTiến Về từ chuyện tình dục cho đến phi tình dục. Tên chủ đề thì bị chê là “Đã ăn sái hai theo tựa bài Triết lý Ảo tưởng và Ảo tưởng Triết lý’ là một bài từ báo chí Sài Gòn phản động lại còn bày đặt sáng tạo rắm rối. Nghe đã muốn đục!’ Đố anh biết còn cái tựa ‘phản động’ ấy nhái từ đâu? Đúng rồi, anh giỏi: ‘Philosophie de la misère et misère de la Philosophie’, một tựa của Marx (6). Cái này thì thằng nông dân chân Giao Chỉ đau mắt hột bốn mùa như tôi chịu thua, cãi sao nổi. Mà ông bà nào đưa ra tựa đề rắm rối ấy chắc chỉ nói chuyện văn vẻ đú đởn, nhớ gì đến Mác với Lê! Tên báo Ai Là Ta bị bắn tin là ‘thân nhân của thi sĩ Nhạo Lan Liên dọa sẽ kiện hai tội: tội xuyên tạc thơ và tội cọp-pi raicâu thơ ‘Ta là ai? Là ngọn gió siêu hình…’. Còn tên Tiến Về, bị họ chửi cho là phải rồi! Hải Dớ không bênh: Bạn đọc trong nước làm sao đủ dâm tình để hiểu đó là tiến về cu về hĩm – cội nguồn của dân tộc và loài người? Người ta nghĩ ngay đến câu ca ‘Tiến về Sài Gòn ta quét sạch giặc thù…’ Thế là hỏng! Sái-xờ! Việc Đụ đầy yêu thương và nhân đạo bị xuyên tạc ra sự Đánh hận thù gợi lại chuyện xưa trong khi Việt Nam đang muốn làm bạn với thế giới. Bút danh Hoàng Ngọc-Hành, họa sĩ chăm sóc tờ Tiến Về, bị hành hạ khổ nhất. Họ bảo nào là đã tục lại còn láo, dám mang của quý của vua ra mà diễu. Phải công nhận tay Ngọc-Hành chịu chơi nhất làng báo Việt, vì báo mà vợ bỏ nhà tan, tê liệt tứ chi đến hai-ba lần. May cái chi giữa nghe nói vẫn khỏe! Đúng là Dương Vật Vua của văn nghệ sĩ Việt Nam hiện đại. À, tay này chân cũng vòng kiềng thê thảm luôn, người cũng một mẩu như Hải Dớ mà nghe đồn ‘vua’ của chàng to tướng. Anh Minh Rô-lăng nên nhắc bà vợ ly thân ăn chân tỵ nạn đẻ sách luật pháp của anh cần khảo sát Hoàng Ngọc-Hành như một nhân vật điển hình. Họa sĩ Ngọc-Hành, Chủ nhiệm tạp chí văn nghệ tiên phong Tiến Về trong một lần về Việt Nam chơi, nhân buổi tụ tập của đám văn sĩ Hà Thành thết đãi mình, đã thuyết về cái gì anh biết không:Kéo dài thời gian giao hợp bằng kỹ thuật nín tiểu. Còn chuyện này nữa, tôi từng có nhiều bài bênh kịch liệt. Nó không những là chuyện văn học mà là cuộc đời, cuộc đời nông dân chúng tôi. Này, đứa nào động đến nông thôn Việt Nam, bố kéo cả làng bố đến đánh cho lên bờ xuống ruộng! Cái chất chân quê Việt quan trọng lắm, kể cả trong Việt Nam Mới. Anh cố mà nhớ lấy điều này. Số là về cái tên Nguyễn Hưng Nước. Tôi đã phôn hai lần, tốn gần 30 Đê-mác bằng nửa tiền trợ cấp Xã hội hàng tháng, nhờ thằng em họ làm công an huyện về quê điều tra tận gốc: Đúng là tên khai sinh, tên cúng cơm của ông này. Ông ấy người bên Hưng Yên. Nơi có đại thủy nông Bắc-Hưng-Hải lừng danh thời 1960. Hưng đây là Hưng Yên đấy! Có bài thơ này – trở thành đồng dao cho tuổi trẻ chúng tôi – làm chứng. Đọc một lèo cho anh nghe, mấy chục năm thuộc hơn cả thuộc kinh thánh:

Thủy nông Bắc-Hưng-Hải

Một công trình vĩ đại

Sáng mồng Một khởi công

Thủ tướng Phạm Văn Đồng

Bổ nhát cuốc đầu tiên

Công trường đất bừng lên

Lá cờ thi đua mới

Hàng vạn người phấn khởi
Cán bộ và nông dân

Nào tay mai tay cuốc

Nào khiêng vác gánh gồng

Mai này nước sông về

Tưới khắp ruộng đồng quê

Lúa ngô khoai phấn khởi

Nỗi vui sướng tràn trề.” (7)

Đừng hỏi tôi bài thơ đó ai làm! Chúng tôi dạo đó đọc văn thơ đâu cần nhớ tác giả. Thực ra, thơ ca xã hội chủ nghĩa là công trình tập thể béng nó rồi. Từa tựa trong trò Tiểu Thuyết Mới của cái ông Lang Bạt nhà anh, các tác giả coi như chết. Chết chìm chết trôi đâu đó, để cho những câu thơ sống mãi trong lòng quần chúng lao động. Tôi cũng không nhớ tựa đề bài thơ trên. Cứ kéo câu thơ đầu tiên lên thành tên bài. Chúng tôi dạo đó là thế đấy! Ông thi sĩ Gamzatov rõ lắm chuyện, ví von tên bài thơ quan yếu này kia, như cái mũ lông thú trên đầu người miền núi Daghestan nhìn xa là đã nhận diện. Cần gì, cứ đầu trần đội trời dân quê tôi vẫn đạt năm tấn thóc trên một héc-ta gieo trồng. Trở lại chuyện tên tuổi. Có lẽ đận đó bố ông ấy đang phục vụ công trình thủy nông, tranh thủ được về phép, bú tí bu ông ấy thế nào mà đẻ ra ông ấy, nên tên ông ấy là Nước, Nguyễn Hưng Nước. Thế mà các bác Trong nước tệ bạc quá, đi xuyên tạc tên con người ta ra thế này: Nước tức là Quốc. Hưng Quốc là Phục Quốc! Thôi, trôi đời con mẹ hàng lươn rồi! Từ chuyện khai thông dẫn nước nhà nông về cày cấy ruộng đồng mà chính Thủ tướng Phạm Văn Đồng bổ nhát cuốc đầu tiên đã bịhóa thành chuyện chính trị phản động lật đổ! Sái-xờ! Hải Dớ tôi điên lên, khuỳnh chân chữ bát ra, quỳ xuống giường sắt trong Trại tỵ nạn viết liền loạt bài “Phiếm loạn: Danh đếch chính ngôn đíu thuận!” Thì mình cũng xếch-xì hóa vấn đề cho bạn đọc cười toe và đánh lạc hướng đối phương: ‘Chữ Nước trong họ tên của kịch bản gia điện ảnh Hollywood gốc Việt này là nước tình, là dâm thủy đấy, bớ làng nước ơi!” Thế nhưng bác này bị con đỉa cầm tinh hay sao ấy mà bị các bác Trong nước thù dai. Trước kịch bản ‘Luận về Cặc’, Hollywood có đặt bài làm phim nhi đồng, bác Nước bèn chọn con cóc làm nhân vật, lấy lời thơ con cóc nhảy ra con cóc nhảy vào làm nền. Khẩu khí nhà quê chúng tôi. Đọc thấy vui lắm! Vui ‘như có Bác Hồ trong ngày vui đại thắng.’ Kịch bản này thì không tục tằn (Cóc thì xếch-xi cái cóc gì!) Thế nhưng chúng tôi không hiểu sao Nguyễn Hưng Nước bị Trong nước đặt hỗn danh là ‘nhà văn Cóc’. Rồi sang ‘nhà văn Cặc’. Thì cũng vui thôi. Dân làm báo làm văn cứ thế mà réo tên ‘ông Cặc Cóc’. Nghe nói bọn Mỹ làm cùng xưởng phim thích lắm. Mấy em gái tài tử, cứ líu lô ‘Cạc Cọ… Cọ Cạc…’ mà túm lấy ‘thằng nhỏ’ của ông ấy. Hồi kết mới thật là vui. Chuyện hay thế này đời nào anh ngủ gật! Nghe đây này: Tại sân bay Tân Sơn Nhất. Khi bác Hưng Nước theo nhóm làm phim về Việt Nam công cán, mọi người khác Mỹ, Việt, Tây, Tàu, Ấn, Mễ vào êm ru, riêng bác lại không được vào. ‘Rất khách quan và khoa học, chúng con được lệnh cấp trên chỉ cần check theo mạng Google’, – Cô an ninh cửa khẩu giải thích ngoan ngoãn và nhà nghề, ‘Ai có tên họ, tác phẩm, sáng tác dính các chữ taboo thì tự động hệ thống điện toán sẽ có tín hiệu cấm vào. Check rất kỹ, chúng con thấy file của chú kẹt ở hai từ vựng là Cóc và… C. Xin lỗi cho con nói đầy đủ chữ thứ hai: Cặc. Đó là vì công vụ chớ con đâu ham gì chữ này! Ủa, chú ngạc nhiên, không tin con sao? Đúng là Việt Kiều các chú về nước nhìn người Trong nước nào cũng thấy lừa. Con đành thú thiệt: Con là nữ, nhưng là người chuyển hệ đấy chú ạ! Chú lại ngạc nhiên hơn, cũng không tin! Thiệt tình! Thôi, ta trở lại với Cặc của chú, í lộn, Cặc trong file của chú: Chữ này ở dạng báo động xanh. Anh thiếu tá trưởng phòng chúng con có thể để chú qua cửa khẩu với một đơn cam kết. Còn chữ Cóc thì bị báo động đỏ, chú ơi. Dù thượng cấp có quân hàm cao đến mấy tới can thiệp, software cũng không nhân nhượng. Trừ khi Liên Bộ An ninh và Tin học ngồi xuống làm lại hệ thống báo động với software mới. Bây giờ chú mà lọt qua cửa khẩu, máy móc sẽ kêu toáng cả lên. Vâng, xin chú đừng nóng tánh. Chú bảo dùm các anh chị và các bạn Mỹ ở ngoài cứ bình tĩnh. Không có hạn hán thì làm sao có cóc! Cái gì cũng có lý do của nó. Chúng con được phép giải thích như sau: Chữ Cóc là taboo vì liên đới tới cụ Nguyễn Hữu Đang. Chú làm về văn nghệ không thể không biết vấn đề gì xảy ra với cụ Đang. Thôi nha, bái bai! Mời chú ra phòng ngoài để làm thủ tục quay lại Mỹ trong chuyến sớm nhất. Con xin lỗi, phải làm việc tiếp… Next, please!’ Sao? Minh Rô-lăng thủng chưa? Cụ Nguyễn Hữu Đang ăn thịt cóc dịch lai rai Tuyên ngôn Đảng Cộng sản chờ ngày cóc mở miệng ở quê Thái Bình ‘thái lọ’ nhà tôi đấy! Thú thật, tôi tự nhận là hài nhân cỡ thượng đẳng, nghĩ chỉ thua danh họa Chéo. Mà phải ngậm cười bằng hai hàng lệ. Tôi không thương xót nhiều cho ông Nước. Mà là cho cụ Đang. Chuyện chưa thể hết đâu. Cái đuôi mới làm nên con voi. Đố anh biết Nguyễn Hưng Nước có quay về Mỹ không? Sai! Anh đoán vậy vì anh chưa hiểu Việt Nam, chưa hiểu cả Mỹ. Cũng như chưa biết gì về vai trò và ý nghĩa của Cặc. ‘Nhà văn Cóc’ thì có thể thua ông Trời trong vụ này, nhưng ‘nhà văn Cặc’ đã thắng. Hưng Nước và đám tài tử đạo diễn Hollywood đã phone ngay cho Tổng thống Mỹ Bill Kingston. Vị này từng là cựu tài tử điện ảnh nên với đám Hollywood là chỗ toa-moa. Tổng thống Mỹ khi đó lại sắp là người lãnh đạo cao nhất Hợp Chủng Quốc sang thăm Việt Nam kể từ sau 1975. Chàng Bill President đương nhiên phải thắng chàng Bill Software! Lại là thứ sofware xài ở xứ Việt! Năm tiếng đồng hồ sau, Việt Kiều Nguyễn Hưng Nước bước vào cửa Exit với nụ cười toe như con bò kéo xe chào “cô cháu chuyển hệ” ngoan ngoãn và nhà nghề đang bận liến láu ‘Next! Please.’ Bác Hưng Nước khẳng định với bạn văn rằng ngài Tổng thống – người từng mắc vụ tai tiếng và ngoạn mục là bị một em tài tử mỹ miều nhất Hollywood ‘thổi kèn’ trong chính văn phòng của ngài thuở còn làm Thống đốc bang – từng rất thích bài ‘Luận về Cặc’. Hải Dớ có ‘giốp’ sau vụ này, như anh thấy bọn trẻ chúng nó vẫn đọc ở các Trại tỵ nạn. ‘Câu thách đối cho độc giả Ai Là TaTiến Về (kèm tấm hình nhà biên kịch điện ảnh Nguyễn Hưng Nước ngồi chờ ở phi trường Tân Sơn Nhất): ‘Cặc cóc cóc được về nước.’ Khà khà khà! Cụ Hanh Tịnh sống lại may ra vế đối mới được giải tỏa. Anh thấy khiếp chưa? À, cái à cuối cùng trong vụ văn nghệ xếch-xì hải ngoại. Cho đến nay, trong các lời đáp đối gửi về không có câu nào hay và chỉnh. Kể cả câu từ danh thủ làng đối hiện đại Hà Sĩ Nông ở trong nước. Nhưng có một chi tiết ướt át này. Tòa soạn Ai Là Ta nhận được và chuyển cho tôi lời đề nghị chỉnh lại của một độc giả ẩn danh. Người này xin sửa ‘về’ thành ‘vào’ với lý giải: ‘Chữ ‘vào’ mang hành vi giao hợp hơn xét về nghĩa bóng, và càng đúng cho nghĩa đen. Nhân vật của câu đối vào xong lại ra, trở về Mỹ quốc, chứ có ở lại ăn nằm lâu dài với ‘nước’, với dâm thủy Việt đâu: ‘Cặc cóc cóc được vào nước.’ Hay! Hay đến thế là cùng! Tiên sư bác Hưng Nước! Hải Dớ tôi đọc mà ngã ngửa từ hai cái chân cong của mình xuống mặt đất! Ai là đây? Chính nàng! Tờ Nói tan rã ngay sau khi tôi hết nói, chạy qua Đức tán láo với Thầy Đồ, rồi với anh. Nàng của tôi giờ này lang bạt nơi nao mà dõi theo chân tôi trên từng câu từng chữ?”

“Ối giời ơi! Khiếp đến thế cơ mà. Nghe chuyện anh, tôi mỏi cả… con chim! Tục thô quá! Lâm ly quá! Lãng mạn quá! Đau đời quá! Tôi sẽ tiêu thụ các info này dần dần. Hỏi luôn: Các nhà văn hậu bối của Vũ Trọng Phụng dâm hơn nhà văn Tây rồi chăng? Hình như các tác giả anh vừa kể không viết ‘văn con heo’?’ – “Không! Heo lợn gì! Họ viết văn… con người đấy! Thế bên Tây nó phân biệt các dòng văn riêng, sách truyện riêng, ‘văn heo’ ‘văn người’ à? Người văn minh có khác. Vẽ! Người An Nam chúng tôi, súc vật người ngợm dùng chung các sản phẩm văn hóa, văn học. Mà có chết thằng An Nam nào đâu!” – “Chết chứ! Như nữ trường ca gia họ Phạm đó, không biết ‘bất chi lao’ thế nào, nhưng nội việc cho ra cả trăm chữ l`. thì quả là trường bút. Anh đừng có ngu mà bắt chước. Đàn bà họ dai sức. Hai-ba trăm chữ không sao. Hải Dớ chỉ cần tăng gấp rưỡi số chữ đụ trong câu chuyện trên, chắc chắn anh sẽ đổ, nát gối củ lạc gục chân vòng kiềng! Sức anh ngần ấy chữ đụ đã là quá. Xin lỗi nha, chỗ bạn trai thiết với nhau tôi chẳng giấu: Bà vợ ly thân của tôi tiên lượng anh leo lên trèo xuống đám đồi cao vực sâu ấy không quá được thời gian vô địch chạy 100 mét mà chân chạy đến từ xứ Etiopia xác lập cho Olympic vừa rồi. Anh không giận chứ? Ừ, không bao giờ được thiết tha yêu vợ của bạn, càng không khi nào buồn giận hờn vợ của bạn – đó mới là một người bạn trai chân chính. Đây, thưởng cho ông bạn chân chính của tôi một kỹ năng căn bản của thuật ái ân Kama Sutra: Nhấp lơ lửng ‘Một, hai, ba, bốn, năm, sáu…’, vừa đến cái thứ bảy mới nhấn mạnh ấn sâu. Tùy người đối chim mà mạnh sâu hết cỡ hay không. Tính ra, chỉ có một lần chính thức với sáu lần bán chính thức, thậm chí một phần ba chính thức. À, còn phải theo tư thế nữ cẩu chi (nữ gác chân giữ tay như chó) nam thân phục (nam quỳ quặp như khỉ), chứ đâu thể nào trai trên gái dưới nằm thẳng ngay cu đơ nín thở chào cờ dưới bàn thờ ông bà ông vải Việt. Như thế, đàn ông và đàn bà Ấn có thể ấn và nhận năm ba chục cú sâu nông trong một khoảng thời gian dài. Nói vậy là tôi muốn bổ sung vào thuyết Đánh và Đụ – Chiến tranh và Giao hợp – của anh. Cả hai đều là bài toán của thời gian. Không gian trong bài toán này không quan trọng lắm đâu. Chiến tranh theo chiến lược ‘Kháng chiến trường kỳ’ của Cụ Hồ là vậy. Đánh bằng chiến thuật du kích chính là kiểu dứ ‘sáu nông một sâu’ như thế, Pháp, Mỹ nào chịu nổi!” – “Ừ, Cụ Hồ của anh ở đây quả là giỏi! Tếu nhỉ? Hớ hớ hớ…” – “Sao? Anh chê Bác thì chê cho đàng hoàng. Sao đang khen dở dang thì lại…” – “Không! Tôi hớ hớ hớ đâu vì chuyện nhỏ như con thỏ ấy. Mâu thuẫn Hồ Chí Minh giữa tôi và anh chỉ có tính ‘thường trực’ như chuyện Đệ Tứ-Đệ Tam mà thôi. Bản chất hai ta là một. Hải Dớ hớ hớ hớ vì vừa phát hiện ra văn hóa Ấn ở việc đụ trùng với văn hóa Việt trong sự nói! Các cụ nhà mình chả dạy ‘Uốn lưỡi bảy lần trước khi nói’ là gì? Hớ hớ hớ!” – “Hớ hớ! Anh Hải nói gì cũng phải, vì anh nấu phở ngon nhất trần gian nhì địa ngục! Hớ hớ! Nhưng Hải Dớ đụ gì cũng sai! Merde! Hớ hớ… ” – “Tôi thì đụ bu vào cái hớ hớ nhà anh!”

Melbourne

Viết xong 13/6/2006

Sửa lại 18/8/2006 – 2/4/2007

(Với lời cám ơn Nguyễn Văn Thọ, Đặng Thơ Thơ và Vũ Huy Quang)

 


Chú thích:

(1) Phạm Xuân Nguyên, “Năm Điều Bất Cập”, báo “Phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh”, 9/3/2007; www.talawas.org, 10/3/2007

(2) Trần Trọng Kim, “Việt Nam Sử Lược”, www.dactrung.net

(3) Phỏng theo Đỗ Quyên, “Cộng Đồng Người Việt Ở Nước Ngoài Qua Phương Pháp Phỏng Vấn”, Chương trình Diaspora; Rockefeller 2001-2002 (WJC, Ðại học Massachusetts-Boston)

(4) Nguyễn Văn Tuấn, “Chiều Cao Của Người Việt”, www.chuyenluan.net, 04/2006

(5) Tin AP 3/3/2007, www.vnexpress.net

(6) Phỏng theo Quán Như, “Ê Cha Lan, Trên Đó Có Gì Vui Không?”, www.chuyenluan.com

(7) Sách giáo khoa cấp 1 những năm 1960 ở Việt Nam, viết theo trí nhớ.

 

 

 

bài đã đăng của Đỗ Quyên


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)