Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 24, Phỏng vấn, Song ngữ Email bài này

Phỏng Vấn Nguyễn Thị Minh Ngọc

 

Phỏng Vấn
Nguyễn Thị Minh Ngọc

A Conversation
with Nguyen Thi Minh Ngoc

Nguyễn Thị Minh Ngọc là một nhà văn, nhà soạn kịch, nhà làm phim, và nhà giáo. Cô tốt nghiệp đạo diễn sân khấu, đào tạo diễn viên tại trường Sân Khấu & Điện Ảnh Thành Phố Hồ Chí Minh và Nhà Hát Trần Hữu Trang, dạy Biên Kịch, Lý Luận Kịch và Lịch Sử Sân Khấu Việt Nam tại một số trường Cao Đẳng và Đại Học. Cùng với bút danh Ngọc Minh, cô đã đồng sáng lập CLB Đạo Diễn Thể Nghiệm (1985), dựng khoảng 30 vở truyền thống và đương đại, viết khoảng 70 vở truyền thống và đương đại cho sân khấu và khoảng 30 kịch bản cho điện ảnh, hàng trăm tập phim cho truyền hình, vài công trình nghiên cứu về sân khấu và cải lương. Nguyễn Thị Minh Ngọc đã dự nhiều liên hoan, hội thảo, sáng tác và nghiên cứu về sân khấu và giáo dục trong nước cùng các nước Úc, Anh, Pháp, Đức, Tanzania, Na Uy, Thụy Điển, Philipines, Mỹ, Indonesia. Năm 2004, Truyền hình Việt Nam đã bình chọn cô là nhân vật sân khấu. Cô giải thích lý do cầm bút là để nói giúp những người không có điều kiện để nói được, và cho thế hệ sau có cái nhìn rõ rệt về thời đại của cô. Nhân dịp Đại Hội Điện Ảnh Việt Nam Quốc Tế Năm 2007, Nguyễn Thị Minh Ngọc chia sẽ với độc giả về bộ phim Sống Trong Sợ Hãi, phim cô đã đồng viết kịch bản và sẽ được trình chiếu ở đại hội năm nay.

DLAD: Chị thích những điểm gì về công việc làm phim? Từ lúc nào và tại sao chị bắt đầu viết kịch bản phim?

NTMN: Khi được xem nụ cười đẫm nước mắt của Anthony Quinn trước đàn con nhiều màu da dù anh bị bắt trong ngày cưới chưa kịp động phòng, trong film “Giờ thứ Hai Mươi Lăm” chuyển từ truyện cùng tên của C. Virgil Gheorghiu, tôi thấy điện ảnh có cách riêng để thể hiện phận người mà các loại hình nghệ thuật khác không nói hết và phổ biến rộng bằng.

1975, khi còn là sinh viên phân khoa Ðạo diễn Phim của đại học Tri Hành tại Sài Gòn, tôi đã tập viết kịch bản phim khi học với các thầy Vũ Khắc Khoan, Ðặng Trần Thức, Phú Hữu.. Sau nầy tôi biết, một người bạn cùng lớp của tôi đã không dám ghi tên trường đó vào lý lịch.

DLAD: Xin chị cho độc giả một tóm tắt của Sống Trong Sợ Hãi?

NTMN: Một người lính Việt Nam Cộng Hòa sau khi đi cải tạo về, đối mặt với khó khăn thời hậu chiến, lại đa mang hai vợ khiến anh phải đi tìm sự sống trong đất của tử thần là một bãi mìn.

Cốt truyện dựa trên đời thật của anh Ngô Ðúc Nhật. Anh đã tháo được khoảng 2.000 trái mìn, trong lúc nhiều người gỡ mìn chuyên nghiệp đã phải bỏ mạng ngay trên cánh đồng mìn đó. Anh lại chết ngay sau khi được cấp giấy chứng nhận sở hữu khoảng đất chết đó. Trong trang web chính thức của Ðại Hội Ðiện Ảnh ở Thượng Hải-2006 có ghi: “Sống Trong Sợ Hãi đã khắc hoạ chân dung những vết thương để lại sau chiến tranh trong cuộc sống thường nhật của những người Việt Nam, cuộc sống đó chứa những áp lực khó nói và những mối âu lo.”

DLAD: Sống Trong Sợ Hãi là một sự cộng tác giữa chị và đạo diễn Bùi Thác Chuyên, xin chị cho độc giả biết làm sao mà chị và anh Bùi Thác Chuyên bắt đầu làm việc chung? Từ quá trình nào cho anh chị quyết định về cốt truyện của bộ phim này?

NTMN: Cùng tham gia chương trình ”Thế Giới Nhìn ra Châu Á” với anh Chuyên, được xem film video “Tay Ðào Ðất” có cùng nội dung được kể bằng thể loại film tài liệu, tôi đã rất thích nhân vật nầy. Khi anh Chuyên có ý định chuyển qua làm film nhựa, anh được đạo diễn Trần Mỹ Hà giới thiệu tôi cùng viết.

DLAD: Chị muốn gửi đến khán giả của Sống Trong Sợ Hãi những thông điệp nào?

NTMN: Trong tên film đã có sẵn thông điệp đó: Dù Sợ Hãi đến đâu thì khi là Con Người, cũng phải có Quyền được Sống. Anh Chuyên thích cái tựa “Từ Dưới Lên, Từ Trên Xuống” hơn. Ðó là những từ diễn tả kỹ thuật moi những quả mìn ra từ đất.

DLAD: Bộ phim được dựng lên trong hoàn cảnh một vài tháng sau nội chiến Việt Nam chấm dứt. Nhưng khác với những nhà làm phim trong cộng đồng Việt Nam hải ngoại, Sống Trong Sợ Hãi thăm dò đời sống của những người ở lại Việt Nam. Có phải quyết định này của chị có ảnh hưởng từ kinh nghiệm của một người sống ở Việt Nam một thời gian rất lâu sau chiến tranh chấm dứt?

NTMN: Tôi tin người Việt sống ở đâu cũng không ai muốn sống nghèo, sống khổ, sống trong sự dốt nát, mất tự do. Theo thời gian và với nhiều nỗ lực, thiện chí của nhiều người, tôi tin là Sự Thật cùng với Ðiều Thiện và Vẻ Ðẹp sâu sắc của dân Việt sẽ có điều kiện tỏa sáng như nó đã và vẫn đang hiện hữu. Xem vài tác phẩm của tôi, có người thấy chữ “Nhẫn” khá đậm. Ðó cũng là chữ mà những người nước ngoài khi đến Việt Nam vẫn dặn nhau phải học, đặc biệt trong những hợp tác về văn hóa.

DLAD: Một trong những khía cạnh rất tuyệt vời của Sống Trong Sợ Hãi là sự miêu tả một chân dung vô cùng đẹp nhưng cùng rất thảm thương của miền quê Việt Nam. Tại sao chị quyết định dùng nông thôn Việt Nam để làm bối cảnh cho phim thay vì thành thị Việt Nam?

NTMN: Cám ơn Anh Ðào về cảm nhận một chân dung vô cùng đẹp nhưng cùng rất thảm thương của miền quê Việt Nam. Khi dựng vở hát bội về Thiên Hộ Võ Duy Dương, tôi được biết có những làng quê vùng Mékong bị Pháp giết sạch vì dân cũng là nghĩa quân. Ðó là những người không tên tuổi; và hiện nay con cháu họ không được chăm sóc thỏa đáng về giáo dục, kiến thức, môi trường.. Ai sẽ nói cho họ về những bất công qua khá nhiều kiếp nầy? Ðược đi nhiều về nông thôn miền Nam và Trung, tôi thấy những gì mình làm được quá sức là bé nhỏ.

DLAD: Là một nhà văn, một phần lớn văn chương của chị viết về khía cạnh phụ nữ, thí dụ như bài đọc của chị ở Women Playwrights International, “Ta Tìm Tiếng Ta: Nói Cùng Tiếng Qua Mẫu Tính”. Sống Trong Sự Hãi theo dõi thân phận của một người đàn ông hai vợ vì bởi vì tình cảnh chiến tranh. Chị cho độc giả biết thêm về khía cạnh này của bộ phim được không? Chị có gửi thông điệp gì về số phận phụ nữ Việt nam trong chiến tranh không?

NTMN: Kịch bản nầy được chỉnh sửa có đến chục lần. Một trong những lần chỉnh đó, có lúc cô cán bộ cũng cùng đi sanh luôn vì là gì đi nữa thì cô cũng là phụ nữ, cũng phải sanh đẻ như ai.

Dù chiến tranh hay hoà bình, Ðông hay Tây, Kim hay Cổ thì những người đàn ông đều do các phụ nữ sanh ra. Có lẽ phải nhắc lại chữ “Nhẫn” khi nói về số phận những phụ nữ Việt nam trong chiến tranh. Thời chiến, nhiều người còn phải xử dụng một loại vũ khí mà đàn ông khó có được là Nhan Sắc. Tôi đã gặp nhiều phụ nữ có những đóng góp lớn trong thời chiến bằng loại vũ khí này nhưng lại rất hẩm hiu, cô độc trong thời hậu chiến. Vì bạn đã nhắc bài đọc kia, có lẽ nên mượn ý cuối của bài đó để kết cuộc trò chuyện này. Câu cuối mà chúng tôi, những phụ nữ sáng tạo, luôn muốn gửi tới những người gây khó cho chúng tôi trong việc hoài thai và phổ biến tác phẩm, chính là câu mà người mẹ đã hỏi con sao khi móc trái tim đầy máu lệ của mình ra cho con làm món quà tình yêu: “ Con có đau không con?”

Nguyen Thi Minh Ngoc is a writer, theatre director, playwright, filmmaker, and educator. She graduated with a degree in theatre, specializing in directing and actors’ training from the Film & Theatre College of Ho Chi Minh City. Nguyen has trained traditional acting at the Tran Huu Trang Theatre and has taught acting and drama at the Ho Chi Minh City College of Theatre and & Cinema. Along with the pen name Ngoc Minh, Nguyen co-founded the Experimental Theatre of Ho Chi Minh City. Her prolific body of work contains about 70 traditional and contemporary plays, 30 screenplays (including documentaries and feature films), as well as a few researches about theatre and Vietnamese traditional opera. Nguyen has attended numerous festivals, symposiums to write and research about theatre and education in Australia, England, France, Germany, Tanzania, Indonesia, the Philippines, the U.S., etc. In 2004, Vietnamese television voted her as the face of theatre. Nguyen has expressed her reasons for creating as part of her desire to write in order to help those who cannot express themselves, and to help the later generations have a correct understanding of the present. At the Vietnamese International Film Festival 2007, Nguyen Thi Minh Ngoc will present Living in Fear, a film in which she co-wrote the screenplay.
AD: What interests you about the filmmaking process? When and why did you begin writing films?
NTMN: After watching The 25th Hour (an adaptation of a work of the same name) by C. Virgil Gheorghiu, having seen the tearful smile of Anthony Quinn in front of his children of many colors even though he was arrested on his wedding day without having a chance to consummate the marriage; I saw that film had a unique way of expressing the human condition, a manner that other genres were incapable of telling and releasing.

In 1975, when I was still a student studying film directing at the university Tri Hanh in Saigon, I had tried to produce screenplays when I studied under Vu Khac Khoan, Dang Tran Thuc, Phu Huu… It wasn’t until later on when I discovered that a classmate of mine was afraid to put the college name down in her resume.

AD: Can you give us a short summary for Living in Fear?
NTMN: After a Republic of Vietnam (South Vietnamese) soldier returns from an re-education camp, he’s faced with many difficult challenges of a post-war reality and the complications of having two wives; he’s thus driven to find a livelihood in a land ruled by death also known as a mine field. The screenplay is based on a true story of Ngo Duc That. He had removed 2,000 land mines, although a more professional mine-removing crew had suffered many deaths in the same field. He lost his life right after receiving a certificate of ownership to that field. The Shanghai Film Festival 2006’s web description of this film reads, “Living in Fear has painted a portrait of the wounds left by war in the daily lives of the Vietnamese people, the lives that carried unspoken pressures and many worries.”
AD: Living in Fear was a collaboration between you and the director Bui Thac Chuyen, can you tell us how the two of you started working together? How did you decide on the story line for the movie?
NTMN: I had attended a program called “The World Sees Asia” with Chuyen. I had also seen “Hands Digging Dirt”, which was a documentary of this same story, I had really liked the character. When Chuyen had the idea of making a feature film from this story, he was introduced to me by the director Tran My Ha.
AD: What are the major messages that you are trying to send the audience with Living in Fear?
NTMN: In the title of the film lies the message: Every human being has a right to life, no matter how many fears he/she may be living. Chuyen had really liked the title, “From Bottoms Up, From Tops Down”. Those the vocabularies to describe the technique of removing a land mine.
AD: The film is set during the period of time after the Vietnam civil war ended. Unlike most other Vietnamese filmmakers in the diaspora, Living in Fear explores the lives of the Vietnamese people who remained in Vietnam after the war. I think this is a very refreshing perspective. Does this relate to your experience of living in Vietnam for a long time after the war ended?
NTMN: I believe that it doesn’t matter where Vietnamese people are living, no one wants to live in poverty, misery, ignorance, or without freedom. Along with time, effort, and genuine intentions, I believe that the truth, kindness, and beauty of the Vietnamese people will illuminate as they have and are existing. After seeing a few of my works, some people see a common denominator of the value of patience. That is also a value that foreigners who come to Vietnam should learn, especially in cultural collaborations.

AD: One of the most stunning aspects of Living in Fear was the beautiful yet tragic portrayal of Vietnam’s countryside. Why did you choose to tell your story in the country instead of the city?
NTMN: Thank you for the observation. After writing a traditional opera called “ Thiên Hộ Võ Duy Dương”, I discovered that many villagers along the Mekong River were killed by the French because they were part of the resistance movement. Those were people with no names; and until this day, their children and grandchildren do not have the proper opportunities to education and knowledge. Who will speak on their behalf about this injustice? After my travels in the countryside of South and Central Vietnam, I think that my contributions are still so insignificant.

AD: As a writer, a significant amount of your works focused on women’s perspectives, as seen through your speech at the Women Playwrights International, “Finding our Voices: Speaking a Common Language through Maternal Instincts”. Living in Fear tells the story of a man who has two wives as a result of war conflict. Can you tell us a little more about that? Did you want this story to send a message about the fate of women in war?
NTMN: This screenplay was changed around ten times. In one of the previous versions, there was one where the government official also went to give birth along with the main character’s two wives because she was also a woman and deserved a chance to give birth. Despite times of war or times of peace, the East or the West, Ancient or Modern, men have been created by women. We have to emphasize the value of patience again when we speak of the fate of Vietnamese women in war times. In war, many women are forced to use a weapon that men do not have, the weapon of beauty. I have met many women who had given significant contributions of this weapon but lived lives of loneliness and emptiness after the war. Because you have mentioned the other essay, let’s borrow a final thought of that to end this conversation. The last thought that we, the women who create, often want to send to the people challenging us in our process to beget and distribute works, is a saying that mothers ask their children after they have removed their very own hearts to give as presents of love, “does it hurt, my child?”

bài đã đăng của Đỗ Lê Anhdao


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)