Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 23, Phỏng vấn Email bài này

Nhà văn Hoàng Chính: Tôi thèm được đưa kẻ nào đó ra tòa

0 bình luận ♦ 27.01.2007

 

phỏng vấn
Lưu Diệu Vân thực hiện

Hoàng Chính sinh ngày 14 tháng 5, năm 1954 tại Hải Phòng. Tốt nghiệp y khoa Sài Gòn năm 1979. Định cư tại Canada từ năm 1983. Đã cộng tác với nhiều tạp chí văn học trước cũng như sau 1975. Dù thành thạo cả hai thứ tiếng nhưng tác giả nói: “Rằng mai này nếu như Việt Nam dùng tiếng Anh làm quốc ngữ (sắp rồi đấy) tôi vẫn viết tiếng Việt như thường. Viết để đọc, một mình.” Với lối hành văn giản dị, đề tài trẻ trung và tràn ngập cảm xúc, Hoàng Chính chinh phục độc giả bằng lối dùng ngôn từ gần gũi trong những câu chuyện của anh. Xin mời quý độc giả cùng khám phá nội tâm của một nhà văn, thi sĩ, nồng nàn trong ý tưởng và năng động trong sáng tác.


LDV: Trong 7 vòng bảy chữ, Hoàng Chính nhà văn/nhà thơ là người như thế nào?

HC: “Vậy mà cứ tưởng rằng ta giỏi.” (Trần tế Xương).

LDV: Một số không ít tác giả của chúng ta khởi nghiệp văn chương bằng thi ca nhưng sau đó lại sáng tác nhiều bằng văn xuôi. Tác phẩm đầu tay của anh là thi phẩm và 9 tác phẩm sau này (đa số đã xuất bản, một số đang in) đều là truyện ngắn và tiểu thuyết. Duyên nợ thi ca của Hoàng Chính đã sắp trả xong?
HC: Cuốn sách đầu tiên: “Nửa đêm nghe mẹ thở dài” là tổng hợp những bài văn vần tôi viết thời còn đi học. Sau này, tài năng cọc còi mà đời sống lại có quá nhiều điều phải nói ra, tôi đành níu lấy hình thức đơn giản nhất: văn xuôi.
Nhìn thế giới văn học (chợ búa) quanh mình, tôi dần mất niềm tin vào văn chương. Và tôi tin rằng mình chẳng có duyên nợ với thứ nào (hoặc với ai.)

LDV: Ai có thể lấp đầy được khoảng trống của nhà văn nói chung và của nhà văn Hoàng Chính nói riêng?
HC: Nhà văn nói chung: tôi không biết. Riêng tôi: không một ai.

LDV: Hình như đa số các nhà văn của chúng ta chỉ thích nói về nỗi đau, còn hạnh phúc thì sao? Không lẽ sáng tạo luôn phải đi chung với căn bệnh trầm uất?
HC: Nỗi buồn dễ được thông cảm hơn niềm vui. Tôi thường đi qua nỗi buồn để nhắc mình quý trọng niềm vui. Vậy thôi. Chọn thảm kịch để gợi chút từ tâm ít nhiều nói lên khả năng hạn hẹp của người sáng tạo. Ý kiến rất riêng. Cũng có thể còn quá nhiều điều u ám, buồn thảm và bất công cần được nói ra. Nhà văn nỡ lòng nào nhảy múa rộn ràng trong đám tang.

Nhưng hãy cảnh giác với những nỗi buồn ngụy tạo.

LDV: Biến cố 30 tháng 4 ảnh hưởng thế nào đến tâm trạng/ đề tài/ đường hướng sáng tác của anh?
HC: Đầu 1975, một vị cao niên tôi quý trọng đăm chiêu bên ly trà đá, gật gù với tôi, “Mỹ không bao giờ bỏ Việt Nam. Cậu còn trẻ nên cậu không hiểu được ngoài cái tình, người ta còn cái nghĩa với nhau!”
Chiến tranh làm xáo trộn nếp suy nghĩ thời trẻ; nhưng biến cố 30 tháng tư và chính hoà bình mới làm đảo lộn mọi giá trị Bố Mẹ, các thầy cô và chính tôi khổ công gầy dựng cho chính mình từ thuở nhỏ. Tôi tìm ra một loạt những định nghĩa mới; ví dụ: “lương thiện là làm cho người ta tin rằng mình lương thiện.” Đời sống đầy ắp bọn giả hình. Nhìn đâu cũng thấy toàn một đám “phoney” như cậu thiếu niên Holden Caulfield trong “The Catcher in the Rye” nhận định. Người ta lừa lọc trong tình yêu, người ta gian dối cả trong những điều người ta đặt bút viết ra. Thuở ấy, tôi còn non dại, đã biết gì ngoài những câu thơ hụt hẫng viết về tình yêu và quê hương để có thể nói là thay đổi đường hướng sáng tác.
Có điều bạn cảm thấy gì nếu bạn là người mê lắm cái nghề xoa dịu nỗi đau của đồng loại nhưng bạn lại đang là kẻ rụt rè ôm cuốn Bệnh Lý Học Nội Khoa (sách Mỹ, được giá lắm) dầy cộm ra chợ trời, đổi lấy vài chục đồng mua gạo?

LDV: Nếu cuộc chiến không xảy ra, chắc bây giờ anh vẫn đang còn là bác sỹ. Có thể nói chiến tranh việt nam cũng đã lấy đi không ít từ nơi anh. Nhưng trong quan niệm sống được bộc lộ qua nhiều tác phẩm, người ta không hề thấy anh phẫn nộ quá khứ, chua xót hiện tại, hay chán chường tương lai. Anh vẫn muốn giữ tấm lòng bao dung thanh thản khi phải dối diện với quá nhiều mất mát?
HC: Khi trở thành nạn nhân của một điều bất công, phi lý (như cái chuyện nhỏ nhen: bị nhà xuất bản chơi ép chẳng hạn), tôi mỉm cười tự nhủ, ừ, thì cứ để xem người ta còn bất công, phi lý được tới mức nào!
Tháng Tư 1975, tôi chưa tròn 21 tuổi. Rất nhiều khi tôi giật mình tự hỏi, có thật mình đã có lần hai mươi lăm tuổi; có đúng không mình đã có lần ba mươi; có ai minh chứng giùm tôi rằng tôi đã thực sự có lần ba mươi lăm, bốn mươi, bốn mươi lăm tuổi. Nếu có, lúc ấy tôi ở đâu, làm gì. Hay là tôi đang từ gã thanh niên hai mươi mốt tuổi đột nhiên thành lão già tóc muối tiêu tội nghiệp. Tôi ngậm ngùi lắm câu trong một bài hát của Phan Văn Hưng, “Hai mươi năm, bầy trẻ thơ nay đã lớn và chàng trai nay đã già.”
Tôi thèm được đưa kẻ nào đó ra tòa; kẻ đã lấy đi của tôi (và vô số bạn bè tôi) cái thời trai trẻ.

LDV: Anh vượt biên và tạm trú ở trại tị nạn một thời gian không ngắn trước khi định cư tại Canada. Xin anh chia sẻ một vài trải nghiệm khó quên trong quãng đời lưu lạc đó.
HC: Đảo Bidong và trại tị nạn Sungai Besi của Mã Lai tương đối “nhân đạo” với đám người lưu lạc, nhưng tới bây giờ tôi vẫn không quên được hình ảnh đám phụ nữ xốc xếch xếp thành hàng dài đi diễu hành quanh trại theo lệnh viên giám thị người Hoa. Cô gái đi đầu đưa cao miếng băng vệ sinh ai đó quăng bừa trong nhà tắm. Tôi cũng còn thấy rất rõ khuôn mặt xanh xám người thanh niên Việt Nam da bọc xương, tóc tai ướt nhẹp, ngồi co ro, run như đang lên cơn động kinh giữa ba chiếc quạt máy quay với vận tốc tối đa. Sô nước đã vơi đặt bên cạnh. Nước đọng vũng chung quanh. Viên giám thị trại muốn chắc ăn là hắn ta không chết vì cái tội đánh nhau để dành một chỗ nằm tốt trong trại tị nạn.
Và tôi không bao giờ quên hình ảnh người đàn ông trẻ một tay ôm đứa con còn đỏ au, một tay xách cái bọc đựng tro thiêu xác vợ. Đứa bé ấy bây giờ đã là chàng trai hai mươi lăm tuổi. Có chỗ nào trong ký ức chàng trai về cái thời khốn khó ấy không nhỉ.

LDV: Hoàng Chính viết để níu kéo quá khứ, định hướng hiện tại, hay sắp đặt tương lai?
HC: Văn phạm thời gian của tôi chỉ có hai thì: quá khứ và hiện tại. Đôi khi hai thứ ấy trộn lẫn vào nhau. Trải quá khứ ra trước mặt như bức tranh, tôi vẽ thêm những gì mình mơ ước và xóa đi những phiến mầu vô vọng.
Tương lai là gì nếu chút nữa đây tôi lăn ra chết.

LDV: Hoàng Chính viết cho những ai?
HC: “Nhưng hắn biết chắc những người đã đặt bút xuống viết bất cứ một điều gì chân thật, bao giờ cũng là viết cho một người nào đó. Như Nguyễn Tất Nhiên đã gửi vào Khám Lớn cho hắn câu thơ bùa phép; như Thôi Hộ ngàn năm trước đã gửi qua không gian và thời gian biền biệt đến cho hắn và ông già Tầu, một dung nhan mặn mà người con gái có đôi má hoa đào.
Và hắn tin, nếu mình viết với cả tấm lòng thì hôm nay, ngày mai, hay cả ngàn năm sau nữa, thế nào cũng có ít là một người ở đâu đó, nói một ngôn ngữ nào đó, đón nhận với cả tấm lòng.

Và hắn viết, là viết cho những cõi người xa xôi ấy.”
Trích “Gửi riêng chốn nào.”

LDV: Một câu thơ anh đã viết mà tôi rất thích “nỡ lòng nào tính tuổi kẻ làm thơ.” Tuổi tác ảnh hưởng như thế nào đến công việc sáng tạo của người cầm bút?
HC: Viết đòi hỏi kinh nghiệm sống. Tuổi tác chưa hẳn đem lại kinh nghiệm (hãy cứ nhìn quanh ta). Sự nghiệp nào cũng có một đỉnh cao. Văn chương cũng thế. Thiên tài tới đỉnh cao ngay những trang viết đầu. Điều quan trọng là có nhận ra được không rằng mình đang ở đoạn đường đi xuống.
Nói gì thì nói, tôi vẫn tin rằng khi viết những điều nghiêm trang, những thứ cần chứng nghiệm của cuộc sống thì kinh nghiệm (tích lũy qua trường học, trường đời; thâu lượm qua tuổi tác) là thứ không thể thiếu.

LDV: Bí quyết tích tụ và phát huy năng lượng sáng tạo của Hoàng Chính?
HC: Biết chờ đợi, biết lắng nghe và biết lặng im (cho tới hôm nay).

LDV: Nên đọc Hoàng Chính bằng một tấm lòng ra sao và trong một bối cảnh như thế nào?
HC: Thế hệ chúng tôi có không ít những người viết lạc loài. Cũng ăn ngủ với văn chương nhưng mãi mãi là những hồn ma không được đầu thai. Lúc bắt đầu làm quen với văn chương thì văn chương không còn đất đứng hoặc văn chương đã lết đi trên hai đầu gối. Xa quê hương, vui thì cười bằng tiếng nước người nhưng buồn thì vẫn khóc bằng tiếng nước mình; thế nhưng những hồn ma không biết bon chen nên những hồn ma vất vưởng.
Chúng tôi không hiện hữu với người đọc trong nước, chúng tôi không lưu lại dấu vết gì trong trí nhớ người đọc bên ngoài, bởi ký ức của đám đông chập chùng thù tạc đã không còn chỗ cho những điều không vui.
Sống trong khung cảnh ấy nên tôi và những người viết lạc loài thế hệ chúng tôi cần lắm một tấm lòng (dẫu hẹp hòi) và sự công bằng vốn hiếm hoi.

LDV: Yếu tố tình dục ngày càng dữ dội trong văn học Việt Nam hiện đại trong và ngoài nước, cảm nhận của anh như thế nào?
HC: Thấy (cũng) hay hay nhưng đa số thì tầm thường và nhàm chán (tại giàu ẩn ức mà nghèo kinh nghiệm chăng?)

LDV: Nhận xét riêng của Hoàng Chính về những người viết trẻ trong nước hiện nay.
HC: Họ may mắn sống trên đất nước mình. Họ có 80 triệu người nói tiếng Việt trong nước và gần một triệu người còn nhớ tiếng Việt ở nước ngoài tìm đọc (cứ giả sử lạc quan như vậy). Họ sống trong dòng chảy (tôi ghét cụm từ này quá) của dân tộc; họ đối mặt hàng đêm với những bức xúc (tôi cũng ghét hai chữ quá bị lạm dụng này). Cả báo trong nước lẫn báo hải ngoại nhắc đến họ và đăng truyện của họ (có báo nào trong nước dám nhắc đến tên hoặc đăng bài của những người viết ở ngoài nước?) Họ có tuổi trẻ (và lắm khi – nhan sắc – dẫu nhan sắc chẳng ăn nhằm gì đến văn chương). Tóm lại, họ có tài năng và có điều kiện phổ biến những gì họ viết. Tôi khao khát trước khi nằm xuống, được thấy một người Việt Nam (trong số họ) đọc diễn văn nhận giải Nobel văn chương trước Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Tôi mong họ đứng ngoài tầm ảnh hưởng bùa mê của đám phù thủy lúc nào cũng hân hoan dùng cây đũa thần phê bình văn học xây bàn thờ cho họ (quá sớm); ru họ ngủ quên trên những đài vinh quang ngắn hạn; hoặc khắt khe vùi dập họ chỉ vì những thứ hẹp hòi nhỏ nhen không dính líu gì đến văn chương.
Tôi mong họ đi thật xa, vươn thật cao. Tôi cầu chúc họ làm được những gì đám người viết trước họ đã không làm được.

LDV: Nhà thơ Khế Iêm cho rằng,“nền văn học [hiện nay] đã hết sinh khí của nó và đang đi vào thời suy tàn.” Riêng anh nghĩ sao? Chúng ta phải làm gì để “hồi sinh” nó?
HC: Nền văn học nào cũng vậy (cách mạng hay tư sản, trong hay ngoài nước, già hay trẻ, cổ điển hay hậu hiện đại), sẽ suy tàn khi triều đình của nó có quá nhiều (hay còn lại toàn) quan ngự sử văn học, đầy rẫy bọn điếu đóm, rộn ràng những lễ phong thánh cho lũ ma trơi.
Để hồi sinh nền văn học suy tàn ư: phải xử trảm đám ngự sử văn học – Trời ơi, sao mà nhiều! – (cả bọn có ấn vua ban lẫn đám tự phong), phải hạ ngục đám bầy tôi dua nịnh. Và thôi cúng cô hồn cho lũ ma trơi.

LDV: Xin anh giới thiệu đôi lời về các tác phẩm mới nhất sắp được phát hành. Chúng ta sẽ gặp gỡ lại một Hoàng Chính thuần túy hay một Hoàng Chính phá cách? Sẽ có sự thay đổi nào trong văn phong không thưa anh?
HC: Tôi cứ nghĩ thôi thì phải in cho xong bốn tập bản thảo đã lên nước trước khi ra khỏi sân chơi (tôi cũng ghét hai chữ bị dùng quá nhiều này) chữ nghĩa. Đó là các tập truyện “Một Đoạn Trong Thánh Kinh” vừa mới in xong, tập “Khi Loài Chim thôi Hót” (nghe nhà xuất bản nói) đang in. “Tình Ở Đài Bắc” hy vọng in xong đầu năm 2007. Còn lại là cuốn truyện vừa tôi viết trong những giờ ngồi chờ dài người ở hành lang tòa án, cuốn sách mỏng tôi cưng chiều như đứa con út: “Thư Tình Viết Muộn”.
Đời sống còn quá nhiều điều phải nói ra. Tôi thà hy sinh cách nói cho cái điều được nói. Văn vẻ mà làm gì, phá cách mà làm gì khi không nói nên được điều cần nói.
Đứa trẻ tình cờ nói được câu ngộ nghĩnh, chúng ta vỗ tay reo mừng. Những trang viết phá cách nhiều khi cũng chẳng hơn gì câu nói bi bô của đứa bé: hay đấy, lạ đấy, mới đấy, nhưng chẳng chuyên chở một điều gì.
“Thư Tình Viết Muộn” là cố gắng mô tả tình yêu trong một góc khuất của đời sống.

LDV: Một nguyện vọng anh muốn gởi gấm đặc biệt qua tác phẩm này.
HC: Tôi cũng muốn biết lắm, cái điều mình gửi gấm trong cuốn truyện vừa ấy. Có điều những gì mình không gửi gấm lại hay được người đọc tìm ra. Điều thích thú lớn nhất khi tác phẩm đã ra khỏi tầm tay mình là được nghe những dẫn giải về những điều mình không hề nghĩ tới khi đặt bút viết lên nó.

LDV: Xin cám ơn anh Hoàng Chính đã dành cho cuộc phỏng vấn hôm nay!
HC: Tất cả những tác giả tôi ưa chuộng (và không ưa chuộng) đều trở nên khó ưa sau khi họ được cơ hội nói nên ý nghĩ (nghiêng trời lệch đất) của mình trong các bài phỏng vấn. Tôi không là ngoại lệ. Dường như tôi đang gay gắt bốc ra cái mùi ngự sử.

bài đã đăng của Hoàng Chính


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch