Trang chính » Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Tháng chạp, chợ rằm

 

Một tuần trước rằm tháng chạp, đêm nào Nha cũng nôn nao khó ngủ. Nó biết, như vậy có nghĩa sắp tới Tết. Đặc biệt năm nay Nha được má cho phép theo chị Thập đi chợ rằm. Chợ cách nhà khoảng nửa buổi chèo, nhóm từ sớm tới xế ngọ. Muốn đi, phải khởi dầm từ tinh mơ. Miệt nầy giáp ranh nhiều xóm Thổ dân mộ Phật, nên chợ rằm không hẳn chỉ là một phiên chợ Tết.

Tối trước, Nha được chị Thập cho ngủ chung. Buồng ngủ chị ở gian sau, cạnh chái bếp ám khói. Giường ván lót chiếu trơn, kê xéo cửa sổ chấn song, thường để mở. Dù vậy, vẫn không ngăn được không khí u tịch, thứ u tịch sậm sệt cám dỗ và khơi động cảnh sắc thần thoại trong trí Nha. Má kêu Nha đi ngủ sớm. Nó còn lần chần, chị Thập đã hiểu ý, cầm đèn dầu dẫn vào tận giường. Chị xua muỗi, buông mùng, dợm xoay lưng thì Nha đã rụt rè cất tiếng:

- Chị để đèn cho em.

Chị Thập nhoẻn cười:

- Được rồi.

Và đặt đèn xuống bàn con cạnh đầu giường. Đêm đứng gió, văng vẳng nhạc côn trùng vườn sau. Chỗ nằm của chị Thập toả hương lạ, pha trộn giữa hoa trái đồng nội và mồ hôi thiếu nữ. Thêm vào là nỗi rạo rực chờ sáng khiến Nha khó chợp mắt. Vừa thiêm thiếp, nó đã choàng tỉnh vì tiếng động khẽ. Hé mắt, Nha thấy chị Thập đang đứng chải tóc bên khung cửa. Không biết có phải vì mơ tưởng mà sao Nha thấy như thể chị đang chiếu sáng. Vai áo trắng rực lên. Ngấn cổ và gương mặt chị khẽ ngấc, hứng lấy sắc xanh huyễn hoặc ngoài đêm len vào. Lúc chị Thập thổi đèn, vén mùng vào nằm, ánh sắc ấy bừng lên chói loà. Gian phòng sật sừ mộng mị, ướp tẩm giấc ngủ Nha hương vị tươi mới. Nha thấy mình mớ máy gọi tiếng chợ rằm, chợ rằm…

Không chờ chị Thập lay thức, Nha bật dậy ngay khi đốm lửa đầu ngày loé lên. Nó dụi mắt, ngó quanh quất. Gương mặt chị Thập mơn mởn như lá non nhìn Nha, giọng dịu dàng:

- Em đi rửa mặt, thay quần áo, chị sửa soạn bữa lót lòng, rồi mình đi.

Ngoài đêm còn say giấc. Mái trời trong vắt tinh tú. Nguyệt rằm ẩn sau vòm cây thưa, sung mãn một khay bạc giát. Chưa bao giờ Nha thấy trăng sao linh diệu, đẹp đẽ vậy. Nha mặc áo sơ-mi ngắn tay màu mỡ gà, quần cụt xanh dương đậm, chân mang dép da quai tréo. Chị Thập tóc giắt kẹp đồi mồi, áo bà ba màu cánh gián, quần mỹ a đen, mang guốc trơn, tay cắp rổ đựng nhang trầm và bó hoa trang trắng còn đẫm sương. Chị bảo để cúng Phật. Chó ngủng ngoẳng vẫy đuôi đòi theo, chị Thập phải giậm chân đuổi, mới thôi. Ngồi trong lườn ghe, ngoảnh lại, Nha thấy cặp mắt chó thèm thuồng trông theo, sáng quắc. Mũi ghe, cây đèn bão vàng lờ. Lòng sông có đoạn đan kín lục bình, lá cào sột soạt lưng ghe. Trăng nhởn nhơ bám theo chị em Nha. Nha ngửng mặt đếm sao, không biết đâu là chòm Gấu Lớn, Gấu Nhỏ; đâu là chòm Bọ Cạp hay Cân Trời? Có lúc gặp người lúi cúi bên cầu ván, chị Thập cất tiếng chào. Rồi hỏi nhau, có phải đi chợ rằm sắm Tết? Chị Thập ‘‘dạ’’ lớn. Một người ghẹo vói, nhớ sắm thêm khay trầu cau. Chị Thập cười đáp, giọng cười trong như tiếng khánh.

Từ phương đông, hửng sáng một vầng tươi tắn như nhóm lửa. Ngày hối hả xua bóng tối. Mới đó mà khung trăng nhạt hẳn, chỉ còn một chén màu lam trong khe, gợn vân trắng. Tinh tú ai thổi mất biến. Trời như tuồng hát đổi phông, thoắt cái đã thấy mênh mông một vòm thiên thanh. Mặt trời loé màu, rẩy lên mặt sông đục lờ bùn non những ngấn vàng. Nha hân hoan vươn tay vọc nước, quay mặt nhìn chị Thập, cười khoe răng sún. Không biết từ lúc nào, chị Thập đã đội nón lá, thắt quai rũ chấm ngực.

Tới chợ, nắng đã rực rỡ. Bến sông rộng vậy mà hôm nay hoá chật, ghe xuồng chen chúc như cá phơi. Người, không hiểu từ ngóc ngách nào, đổ về như gò mối vỡ. Cầu ván đôi gấp khúc dài ngoằng, ngang chỉ vài gang tay, bên lên bên xuống nhấp nhô, mà chẳng ai trượt chân.

Đập vào mắt Nha, trước tiên, là cổng chợ bện lá dừa nước cong vòm, kết bông dâm bụp đỏ loé, ngày thường không thấy. Nha còn ngẩn ngơ trước cảnh hỗn độn thì chị Thập đã cắm sào, tay cắp rổ, tay ghịt vai Nha đẩy ra đằng mũi. Phải bước nhờ qua ba lườn ghe khác, chị em Nha mới lên được cầu ván. Chị Thập chẳng cần lên tiếng, đã có gã trai trẻ xốc nách Nha mang vào tận bờ. Nha không để ý diện mạo người thanh niên, chỉ váng vất bắt lấy mùi mồ hôi ngọt găn gắt và hương long não the thái dùng ướp quần áo. Chị Thập mỉm cười thay lời cám ơn.

Chợ nhóm ven sông, hai gian đóng gỗ tạp, gian che mái vải, gian không. Người đi chạm vai, không khe trống. Nha bé thấp, muốn coi hàng, phải vạch lưng người. Nhưng chưa thể vì chị Thập đã ghé xuống tai Nha, thều thào:

- Vào chùa trước đã.

Lối rẽ vào chùa làng, càng thêm đông, đa số người già và phụ nữ. Ai cũng áo quần tươm tất. Dân đàng Thổ vận áo chẽn, quấn xà-rông, màu sắc diêm dúa, cổ đeo vòng vàng choé, đầu đội quà cúng tế lắc lư. Gần tới cổng chùa, đã nghe tiếng người ăn xin thê thiết. Những cánh tay chìa khẳng khiu, đen mốc. Lời gợi tâm từ bi lẫn tiếng chuông mõ vang vẳng, nghe như bài kệ. Khứu giác Nha đã bắt được mùi nhang đèn. Vào được vườn chùa, dòng người tách ra như rẽ quạt. Nha ngước thấy cờ phướn ngũ sắc phất phơ. Tàn si già ngót mấy thế kỷ, thân nứt thành lối, trẻ con chui lọt; rễ nổi vồng như trăn uốn; không biết do ai khi nào treo đầy lá nhiễu đỏ, thảo chữ kim nhũ, không rõ nghĩa gì. Chị Thập giải thích, cây treo ‘‘lá bói’’. Ai muốn bói quẻ đầu năm, cúng tiền, ông từ sẽ khều cho một lá, cầm đưa người lý giải.

Đi hết cách vườn rộng, gặp cái lư đất bằng gạch nung, rộng ba người ôm. Mọi khi chỉ thấy loe ngoe chục chân nhang, hôm nay đầy kín, khói bốc cay xè, tàn tro muốn ngập. Chị Thập dừng chân, lấy ba cọng nhang, đưa rổ cho Nha cầm, bật quẹt châm lửa. Chị tụt nón, kính cẩn chụm tay lên vầng trán lóng lánh mồ hôi, khoé môi mấp máy. Gương mặt chị rực hồng phấn nắng.

Mái chùa dỡ lá, lợp ngói úp ngửa, nền cẩn gạch bông đâu được hơn năm. Tam cấp tráng xi-măng, dọc ngang giày dép khách thập phương. Nghe kể, tài sự tân trang chùa làng do bà Lớn cúng dường. Bà là vợ cả bá hộ Bạch, người có nhà gạch, ghe máy và xe hơi đầu tiên tại miền quê hiu quạnh nầy. Bà hiếm muộn, bèn cưới vợ bé cho ông, được mọi người gọi là bà Nhỏ. Đột nhiên sau đó, bà Lớn cấn thai, sinh một trai. Bà cảm tạ trời Phật bằng cách cho sửa sang chùa làng. Từ đó chùa còn có tên chùa Bà Lớn.

Chánh điện không đủ chỗ chứa, người cúng bái quì lan ra tận bậc thềm. Nha thấy có kẻ đi bằng hai đầu gối, mỗi bước mỗi lạy từ ngõ vào tới tam cấp.

Chị em Nha không lấn vào được chánh điện, chỉ đứng lớ ngớ ngoài thềm. Nha không thấy gì ngoài mớ phướn lộng nhũ sắc mờ nhang khói, cùng tiếng mõ gióng trong suốt, nhịp nhàng lời kinh lê thê. Mùi nhang quấn hơi người ngộp ngụa. Thoang thoảng quanh quất là chút hương quen. Cái mùi long não khi nãy. Nha lén nhìn quanh. Chị Thập đứng sát sau lưng, hai tay chị ghì lên vai Nha. Chỉ thấy những lưng áo sẫm mồ hôi. Và vạt áo ai hớ hênh khoảnh da trắng.

Chị Thập không dâng được hoa cúng Phật. Trước khi rời chùa, chị đặt bó hoa dưới chân tượng Quán Thế Âm trong vườn cây. Rồi chị lắc vai Nha, vui vẻ:

- Mình kiếm cái gì ăn!

Nha như người tỉnh ngủ, líu lo:

- Ăn bánh canh nghe chị! Thôi, em muốn ăn bánh tằm bì. Không, em khát nước, chị mua cho em ly nước đá.

Trời, trưa nóng bức như vầy, có được viên đá lạnh ngậm chơi, sướng biết mấy. Người Nha run lên phấn chấn, ngước mặt ngó chị Thập, chờ đợi. Chị tươi cười:

- Chỉ được một thứ thôi, còn phải mua sắm.

Hàng gánh bán thức ăn tụ riêng một góc chợ. Món ngọt, món mặn, ngợp cả mắt. Đạm bạc có khoai luộc, bánh tráng phồng, xôi bắp, chuối nướng. Gánh chè khoai đặt cạnh xe sâm-bửu-lượng ngoài chợ tỉnh kéo vô. Bà già bán bánh cam, bánh vòng, miệng nhai trầu nhỏm nhẻm, tay quạt ruồi như múa. Sạp bày bánh tét, bánh ích, chất như núi. Đòn mẫu cắt đôi; nhưn mặn đậu xanh vàng lườm, thịt mỡ trong khe; nhưn ngọt chuối xứ đỏ mật. Mỗi đòn bánh buộc thoi giấy điều thảo chữ Nho phác vội. Sát cạnh, gánh bún thịt nướng khói tuôn mù, thơm điếc mũi. Bà bán xẻ việc không ngơi tay, mặt tươm mồ hôi mà miệng không ngớt cười nụ, hé chéo răng vàng choé. Thằng nhỏ trạc sáu, bảy; ốm choắt, độc cái quần xà lỏn, loăng quăng phụ việc. Không đủ ghế con cho khách, có người phải đứng hay ngồi chồm hổm xúm xít. Hàng bán bánh xèo nhộn nhịp không thua. Có tới hai đứa chạy việc, chừng như chị em, chưa ai tới mười. Thức ăn bày điệu nghệ trên khay mây lót lá chuối. Có dúm rau thơm, chén nước mắm pha và hai gấp bánh vàng nghệ còn tươm khói. Xe mì quảng đông sang trọng gấp mấy bậc. Ghế xếp kê quanh kệ ăn, có mái vải che nắng. Kiếng ngăn hoạ cảnh sơn thuỷ và phụng hoàng lộng lẫy. Chú chệt ‘‘hẩu, lớ’’ luôn miệng, tay múc tay chan liên tục. Đứa tả chạp cũng là chân chạy bàn, lăng xăng như thoi đưa, không quên lâu lâu tróc vài nhịp phách tre chiêu khách.

Cuối cùng chị em Nha mới tìm ra chỗ bán bánh tằm bì. Một gánh khiêm tốn thôi. Thiếu nữ bán hàng ngó được mắt, tóc kẹp buông sau gáy, vai quàng khăn lau tay. Không thấy trẻ con phụ bán, mà khách ăn cũng đông không kém. Chờ một đỗi, chị em Nha mới có chỗ trống. Chẳng cần tìm, đã có người chìa cho hai ghế thấp, không biết ai. Món ăn đựng trong tô sành đáy thắt, lót một ít giá sống trộn rau thơm xắt mỏng, lớp bánh tằm sợi lớn trắng muốt, bì trải mặt, chan nước cốt dừa và nước mắm pha. Nha ngốn một tô chưa đã thèm, nhưng không dám đòi thêm. Vừa sạch tô, có ai đưa ngay cho chị em Nha mỗi người một chung trà ấm. Nha ngước lên. Một trang thanh niên lạ hoắc, miệng tủm tỉm. Quay sang, Nha thấy đôi gò má chị Thập đỏ lơ đỏ lưởng như cảm nắng. Rõ ràng người đàn ông không phải tay giúp việc cho cô bán hàng. Ai vậy? Nha muốn mở miệng hỏi chị Thập, nhưng chị đã ngoảnh lưng, tay luống cuống lần túi áo lấy tiền ra trả. Nha ngẩng đầu, gã thanh niên đã lẩn đâu mắt, để sót lại chút hương long não the thắt đầu mũi Nha.

Lúc chị Thập dắt Nha ngang qua xe bán chè lạnh, Nha thèm lắm, nhưng chỉ biết trố mắt nhìn. Cạnh đó là hàng trái cây và kẹo mứt. Dưa hấu chợ Cầu xanh rợn gân, chất tháp, mỗi quả cũng dán một thoi giấy đỏ in chữ Nho kim nhũ mà chị Thập nói có nghĩa ‘‘phước,’’ ‘‘lộc’’ hay ‘‘thọ.’’ Một sạp của người Thổ bán hồng giòn, quả lớn gần bằng chén ăn cơm. Chị Thập dừng lại hỏi giá một chục mười ba, rồi lựa từng trái một. Cụ bà người Thổ bổ một phần tám, đưa cho chị Thập. Chị cắn miếng nhỏ, nhấm nhí, rồi trao cho Nha. Vỏ hồng mỏng như cánh ve, thịt đỏ gạch cua, thơm phớt. Hồng Thổ vị ngọt như mật, không chát, giữa trong giòn xừng xực. Bà còn bán thêm chà là, đường và mứt thốt nốt. Đường thốt nốt đúc bánh hình bầu dục, màu vàng khế, ngọt dịu, dùng nấu chè thơm hơn đường mía. Hột thốt nốt cỡ đầu ngón út, xên thành mứt trong veo như cùi dừa nước. Chị Thập hỏi giá nhưng không mua. Cụ bà bốc đưa chị em Nha mỗi người một hột ăn thử, tia mắt kèo nài. Ngon ngây ngất! Lần đầu tiên Nha được ăn thứ mứt lạ miệng như vậy. Vị ngọt đằm, giòn khấu. Nha buột miệng:

- Mua về cho ba uống trà đi chị!

Chị Thập ngập ngừng:

- Má không dặn… không biết có nên mua?

Rồi chị đưa mắt nhìn cụ già đang nhoẻn miệng chờ. Nụ cười tháng chạp chợ rằm hiền từ xiết bao! Chị trả giá bảo cụ già cân cho nửa ký, xong quày quả kéo tay Nha sang hàng hồng khô, hột dưa của chú chệt mắt híp chỉ.

Hồng tươi xứ Vân Nam chẳng biết có sánh bằng hồng Thổ, nhưng phơi khô ép dẹp, ngon có tiếng. Nha thấy, trước khi ăn ba trụng nước sôi, rửa sạch lớp phấn trắng bám ngoài, xong lấy dao cau cứa múi bày lên dĩa men lam. Không làm thì thôi, nhưng đã nhúng tay thì việc gì ba cũng cầu kỳ như một nghi lễ: lúc uống trà Tàu, khi đánh bóng bộ lư đồng bàn thờ gia tiên. Trừ phi uống trà, những chuyện khác mỗi năm ba làm chỉ một lần trước Nguyên Ðán. Vì vậy, Nha nhớ khư khắc dấu. Cử chỉ ba lúc xát chanh lên mặt kim loại đục lờ thời gian, hay khi xoa xà-bông đá lên lưng độc bình cổ ngoạn, đều dịu dàng từ ái như nhau. Nha có cảm tưởng như ba không muốn lay thức giấc ngủ linh thiêng dai dẳng của tĩnh vật. Vì lẽ đó, Nha luôn tin rằng mọi thứ đều có linh giác. Chúng là những người bạn đồng hành dễ mến nhất của Nha. Mỗi thứ, từng chặng đời.

Hồng khô thịt màu nâu trà, sớ dẻo và ngọt tự nhiên, không như những thứ quả hột khác, phải xên đường mới ra vị. Chị Thập chỉ nấu ăn ngon chớ làm bánh mứt không khéo. Tuy nhiên, những loại mứt tầm thường như mứt dừa, mứt mẵng cầu xiêm, mứt bí, chị đã làm từ trước tháng chạp, cất vào thẩu sứ để dành.

Có tới vài sạp bánh mứt, chị Thập tới lui so giá rồi mua mỗi thứ một ít mứt hột sen, mứt me, mứt khoai lang. Nha thấy còn có vài loại mứt lạ mắt như mứt chanh, mứt ớt, nhưng chị Thập không mua vì giá cao và ‘‘không ngon đâu.’’

Trưa đã chếch bóng. Cái nắng tháng chạp nóng nhưng không oi. Nha than mỏi chân và khát nước. Chị Thập tắp vào xe bán nước ngọt, mua một chai xá xị Con Cọp ướp đá lạnh, chị em uống chung. Cạnh đó có gánh sơn đông mãi võ bán thuốc tễ, thuốc dán, khua chập choã đinh tai, Nha đòi tới coi. Chị Thập hớp vài ngụm nước rồi đưa cho Nha cả chai, dặn dò:

- Em cứ tới coi, chị đứng đây chờ.

Nha hớn hở sấn vào vòng người vây quanh đám hát. Người diễn một già một trẻ, đoán là cha con, vẽ mặt vận y làm hề. Có con khỉ mặc áo cánh, quần đùi làm xiệc. Nó ngồi trên vai hề cha, hai mắt láo liên. Khi hề con trổ tài lộn nhào dưới đất, nó cũng lộn theo, thiên hạ cười ngắt ngoẻo, vỗ tay rần rộ. Hề con đổi trò, chổng ngược đi bằng hai tay, hề khỉ theo lệnh hề cha, gõ trống tiểu cổ võ. Có người quăng tiền thưởng xuống chiếu. Sau đó khỉ cũng được thưởng cho một trái chuối. Người cha bắt đầu hát vè quảng cáo bán thuốc, đứa con cổ quàng khay bày thuốc chai thuốc tễ, tay cầm rổ đựng tiền, rảo quanh mời hàng. Nha thụt đầu, trở lại chỗ chị Thập đứng chờ, nhác thấy một trang thanh niên tóc tém ngược, cột đuôi như dân thương hồ lãng tử, áo nâu, quần ú đen xoắn ngang bắp chuối, chân lấm khô dấu bùn. Không biết hai người nói gì mà chị Thập thỉnh thoảng lại lắc đầu, rồi gật, có lúc ngoảnh nhìn chỗ khác mà vành tai tóc giắt kẹp ngấc lên như hứng lời, để sau đó chị hất tóc che má, cúi mặt xuống rổ mây mân mê tay cầm ngang thắt lưng. Nha cảm nhận nỗi gì khác lạ trong từng cử chỉ chị, như bông xoè nụ, như cành đâm lộc. Và Nha sực nhớ dáng điệu chị khuya qua bên song trăng. Người Nha thoáng rợn thứ xúc cảm thanh tân như thức giấc sáng đầu năm.

Lúc Nha cách chị Thập chỉ còn vài bước, chị mới thấy ra, luống cuống xô tới, chụp vai Nha, giọng dồn dập hụt hơi:

- Em lẻn đâu.. mà… mà lâu lắc? Thôi… mình đi!

Nha trân mắt ngó chị Thập, lúng búng:

- Em tới coi… coi hát xiệc. Chị cho phép mà!

Rồi xoay mặt dáo dác. Người thanh niên biến đâu mất, như bóng quế. Một thoáng thôi mà dường như đằng đẵng, Nha và chị Thập trơ trơ nhìn nhau, bất động giữa dòng người lúc nhúc như mọt vỡ. Chợt, tiếng tù và từ xa vọng lại, gióng giả lê thê. Dòng mọt người nhộn lên. Trẻ con chạy luồn dưới chân người lớn như rắn, bắn tiếng ới ả:

- Ghe rước lễ, bà con ơi, ghe rước lễ!

Chị Thập xoắn lấy bàn tay Nha. Cả hai bị đám đông đẩy giạt ra hướng bờ sông. Trưa nước ròng, ghe bên bờ mắc cạn trên đáy bùn đen xỉn. Lòng sông hẹp lại còn chừng vài sải tay bơi. Tù và nối tiếng nhau từng tràng giao âm tưng bừng.

Thuyền vàng xứ đàng Thổ về dâng lễ Phật rằm tháng chạp, Nha nghe tiếng từ lâu, hôm nay lần đầu tiên tận mắt chứng kiến. Nha lách miết mới nhú được đầu ra phía trước. Xô lấn nghiêng ngả thêm một chặp thì thấy từ rặng dừa châu nhau nơi rẽ sông, cội thuyền rước lễ dềnh dàng trườn tới như một con thuỷ quái. Thuyền sơn vàng choé, nặng khẳm, giữa có mái cong, trong bày lễ vật cổ truyền của người đàng Thổ. Nam ngồi chèo hai bên, mình nâu trần, phơi bắp thịt săn sắt. Nữ áo chẽn ngắn tay, váy quấn chéo, khăn vấn đầu, vải vóc toàn bằng tơ lụa nhuộm vàng, khác nhau ở màu thắt lưng hay sổ váy. Trên tay mỗi cô là một mâm vật cúng, không biết thứ gì, vì được đậy tấm nhiễu đỏ loét. Đầu thuyền, thấy đứng hai người đàn ông ngực trần nung núc, đầu cạo láng thín, vận quần rộng đen, thắt lưng to bản đỏ kiểu lính hầu Tích-lan hay Ấn-độ. Mỗi người cầm một chiếc tù và sừng trâu, thổi liên huờn không dứt.

Nối đuôi thuyền vàng là một dãy ghe con thêu hoa kết tuội sặc sỡ. Tới cầu ván dẫn lên chùa, thuyền dừng lại. Đoàn người dâng hương lúc thúc nối chân nhau lên bờ theo nghi thức định sẵn. Đi đầu là sư ông áo vàng ốm quắt, tay chắp tràng hạt nâu. Theo sau là bốn người nam chật vật khuân cán tre bày lễ vật, và đám tín nữ dâng mâm đủng đỉnh nối bước. Tù và ngưng thổi không biết khi nào. Lúc ấy mới bật ra tiếng người hỗn độn. Bỗng đâu điệu kèn eo ẻo trỗi lên, âm thanh dị thường, trầm bổng thườn thượt quấn nhau thành chuỗi vô hình vút lên thinh không.

Nha ngẩn ngơ thẩm nhận những ảnh sắc cùng âm thanh lạ kỳ như nhúm bông tẩm nước. Đợi tới khi chị Thập lắc vai hối, đi em, Nha mới rút đầu khỏi hàng rào người, cùng chị tiếp tục chuyện mua sắm.

Chợ thưa hẳn, vì nhiều người đổ xô nhập theo đám rước tuôn về hướng chùa. Chị Thập có lẽ cũng thấm mệt, hấp tấp tạt qua khu bán vàng hương mua nửa chục đèn cầy ướp trầm. Lúc chị em đi ngang mấy sạp bày vải vóc, Nha tưởng thế nào chị cũng ghé lại rờ rẫm ngắm nghía, nhưng không, chị Thập tỉnh khô bước thẳng, nói bâng quơ:

- Tuần tới chị với má ra chợ tỉnh mua vải, có nhiều thứ đẹp hơn.

Từ đó cho tới lúc lui ghe ra về, chị Thập lặng thinh, vẻ mặt đắn đo khiến Nha không dám khơi chuyện. Nắng tưới chan hoà, loe loé theo mỗi nhịp dầm chị Thập khoắng xuống nước. Quãng về xa không ngờ. Tới khúc sông có nhiều rặng bần xoã bóng ven sông, chị Thập lơi tay tắp vào. Nha quay mặt, thấy chị buông dầm gác lên lườn ghe, cởi nón quạt phanh phách. Hai gò má chị đỏ au. Nha rướn lưng, vốc nước khoả mặt, nhác thấy thoi giấy điều nhạt thếch nhấp nhô bên đám cỏ nước. Nha vói tay vớt. Còn lờ mờ nét chữ Nho mực tàu. Không ‘‘phước’’ thì cũng ‘‘lộc’’ hay ‘‘thọ,’’ Nha đoán. Nhưng chẳng hiểu sao, nó dấy động trong Nha một cảm giác lạ lùng, không thể diễn tả.

- Cái gì vậy Nha?

Giọng chị Thập làm Nha thót người, xoay lại, đáp:

- Tấm giấy điều không biết ai bốc bỏ đó.

Chị Thập ngưng tay quạt, thấp giọng:

- Nha nè, mấy chuyện lúc nãy, đừng nói cho ai biết, nghe không?

Nha giả bộ không hiểu, rắn mắt hỏi:

- Chị muốn nói chuyện gì?

Mặt chị Thập đỏ lưởng, bối rối:

- Chuyện… chuyện với… cái người chỗ chị em mình uống nước đó.

- Ai vậy chị?

- Thì… thì người ta muốn làm quen đó mà. Nhớ nghe em, làm ơn đừng kể cho má nghe, má đánh chết!

Nha gật đầu:

- Em không kể đâu.

Chị Thập tươi mặt hứa hẹn:

- Tết năm nay chị lì xì cho em nhiều hơn năm ngoái.

Nha toét miệng cười. Nhịp chèo của chị Thập, sau đó, như được bồi thêm sức, đẩy ghe lướt thoăn thoắt. Gặp ai, chị cũng chào hỏi bông lơn, nói cười giòn giã. Giọng chị trong trẻo, tươi mát như giọt nắng tháng chạp chợ rằm long lanh mãi trong tâm tư Nha.

Nhiều, thật nhiều năm sau, tại một nơi cách biệt quê nhà xa tắp, mỗi lần cận Tết, Nha lại nhớ tới chuyện cũ. Những cái Tết thuở đất nước thanh bình vẫn đậm màu rộn tiếng như vừa trôi qua, năm trước, với Nha tuổi nhỏ là chứng nhân buổi hò hẹn của chị Thập ngoài chợ rằm. Một khoảng thời gian sau, có người mai mối tới hỏi. Tiếp đó là lễ hỏi lễ cưới rình rang. Chàng rể không ai khác ngoài trang thanh niên cứ luẩn quẩn bên chị em Nha suốt phiên chợ năm nào. Hương long não tẩm quần áo và mùi mồ hôi đàn ông ngọt đằm còn vướng víu trong khứu giác Nha.

Nhưng điều làm Nha mỗi lần nhớ tới lại bâng khuâng là cảm xúc lúc nó vói tay vớt thoi giấy bấp bênh trên mặt nước loé nắng. Sắc phẩm đỏ lờn lợt như máu loang ra nước, nét cọ lông nhạt nhoè như nỗi niềm gởi gắm những tàn phai. Thật tương phản với ký ức Nha, những thực và mộng của một giấc mê đời, ngắn nhưng vô cùng rực rỡ.

(tháng 11. 2001)

 

 

 

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)