Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Nhận Định Email bài này

Toni Morrison: Giải Nobel Văn Học 1993

0 bình luận ♦ 30.12.2006

 

Giải Nobel văn học 1993 được trao cho tiểu thuyết gia Mỹ Toni Morrison. Bà sinh năm 1931 tại Lorain, một tỉnh nhỏ ven đô Cleveland, tiểu bang Ohio. Bà người Mỹ gốc Phi Châu, vắn tắt hơn là người da đen, nhũ danh Chloe Anthony Wofford. Qua hình chụp và những đoạn phim tài liệu chiếu trên Ti-Vi, bà có dáng dấp điển hình của một bà tây đen già không có thói quen làm dáng và chẳng chịu kiêng khem chuyện ẩm thực. Bà to lớn như một ôm nhân sự thật đen và thật vĩ đại.

Nhưng nhìn kỹ hơn, nhất là ngắm bà cười nói hay đối đáp trên đài truyền hình khi đuợc phỏng vấn, ta sẽ thấy bà tuy vẫn là tây đen, nhưng lại có cái gì khác lắm. Không những bà không giống người da đen bình thường bao nhiêu, mà bà cũng chẳng giống những người bình thuờng của đời sống hàng ngày, dù đen hay trắng hay đỏ hay vàng. Thật ra bà thuộc về một giống người đặc biệt, gồm những nghệ sĩ chân thành của khắp nơi. Họ có khuôn mặt, hay đúng hơn có đôi mắt rất đặc biệt, đôi mắt của người đã thấy rõ, đã trải qua những eo sèo những hệ lụy của con người, để vẫn yêu thương con người với những hệ lụy những eo sèo ấy bằng một tình thương không mệt mỏi… Khuôn mặt bà có thể là khuôn mặt của một Gabriel Garcia Marquez, một Wabakawa, một Chekhov hay một Lỗ Tấn, mặc dầu những xa cách về chủng tộc, về văn hóa, hay về hoàn cảnh sinh sống.

*

Thủa thiếu thời, Toni Morrison thiếu thốn cơ cực. Cha mẹ là những người da đen cùng khổ, nguyên tá điền ở Alabama, rời lên Ohio vào giai đoạn kinh tế khủng hoảng. Mười hai tuổi, bà đã phải lao động giúp đỡ gia đình. Vậy mà bà vẫn học giỏi và tốt nghiệp trung học ưu hạng. Bà ghi tên tại đại học Howard, môt đại học dành riêng cho người da đen của thủ đô Hoa-Thịnh-Đốn. Sau Howard bà học tiếp tại đại học Cornell và tốt nghiệp cao học văn chương Anh ở đấy. Luận án cao học của bà nghiên cứu đề tài ‘tự vẫn’ trong tác phẩm của William Faulkner và Virginia Woolf.

Bà về Texas dậy môn văn chương Anh một thời gian, rồi trở lại Hoa-Thịnh-Đốn gia nhập ban giảng huấn của Howard. Thời gian này, bà lập gia đình với Harold Morrison, một kiến trúc sư người Jamaica, sinh dược hai con trai. Không hạnh phúc trong liên hệ vợ chồng, bà tìm nguồn sống riêng trong sáng tác văn học. Tới đây, viết lách chỉ kể như một lối thoát trong nghiệp dư của người đàn bà thông minh nhậy cảm và không có hạnh phúc. Việc chính vẫn là nuôi con và kiếm sống.

Năm 1964 là một khúc quanh quan trọng cho bà, đầy cam go về phương diện đời sống cá nhân, nhưng vô cùng thuận lợi cho văn học. Sau khi ly dị chồng và từ nhiệm ở đại học Howard, bà đưa con lên Syracuse, tiểu bang New York, sinh sống bằng nghề nhuận sắc sách giáo khoa cho một chi nhánh của nhà xuất bản Random House. Ba năm sau, bà được thăng thưởng và đổi về sở chính ở Manhattan.

*

Có lẽ khi biên tập tác phẩm của người khác, bà đã phát hiện ra lãnh vực sáng tác riêng cho chính bản thân. Quả thật, trong đám nhân vật của các tác phẩm ấy, những ông thiện bà ác, những chàng những nàng dựng ra bởi các nhà văn Mỹ nổi danh, bà không thấy những người da đen -nhất là những phụ nữ da đen- mà bà vẫn gặp trong đời sống, những người rất gần gũi, rất sống động, rất thật với cái đau cái sướng của những cảnh sống bà đã dự phần. Đồng chủng của bà còn quá thưa thớt, nếu không nói là vắng bóng trong những tác phẩm văn học giá trị của đất nước bà.

Và bà hăng say viết. Tới đây, tất cả quá trình sống -từ thủa thơ ấu của cô gái da đen nghèo hèn cho đến những năm tháng cặm cụi soạn thảo luận án cao học về văn hào Faulkner- đã đóng góp sung mãn cho văn nghiệp bà.

Những nhà phê bình Mỹ tìm thấy trong cú pháp của bà cái âm hưởng nhịp nhàng rất Faulkner của những đoạn văn lê thê như bài kinh cầu. Thí dụ như đoạn văn bà viết về mấy nhân vật nữ mà Paul Gray của Times trích dẫn từ “The Bluest Eye”, …Old enough to be irritable when and where they chose, tired enough to look forward to death, disinterested enough to accept the idea of pain while ignoring the presence of pain.

Còn đề tài truyện của bà, tuy ít khi có tính cách tự thuật, nhưng bao giờ cũng phản ảnh những cảnh sống của người da đen, hoặc chính bà mục kích hoặc nghe người lớn kể lại.

*

Từ ngoài nhìn vào, sự nghiệp của Morrison trông như quá dễ dàng. Bà thăng tiến thoải mái trong ngành giáo dục cũng như ngành xuất bản. Trong văn học cũng vậy. Tất cả bà viết sáu bẩy tác phẩm, truyện The Bluest Eyes ra mắt 1970, truyện The Beloved xuất bản năm 1987 năm sau được giải Pulitzer (1988). Và năm 1993 bà được giải Nobel. Bí quyết của thành công nơi Morrison là thiên tài và rất nhiều nỗ lực. Bà viết rất kỹ. Bà thú nhận với phóng viên đài CNN là có những câu bà viết đi viết lại không biết mệt, cho đến khi thật ưng ý mới thôi.

Khi một phụ nữ da đen thành công lẫy lừng như vậy, tất có người thắc mắc là bao nhiêu thành công ấy nhờ tây vị, vì áp lực (dân tộc thiểu số và nữ quyền) hay nhân nhượng mà có. Nhiều khi, để đền bù cho những lỗi lầm quá khứ, xã hội Mỹ đã tỏ ra tây vị đến chỗ khoan dung cho phụ nữ và sắc tộc đen. Một thí dụ điển hình là điều kiện nhập học các đại học Mỹ tương đối dễ dãi hơn cho người da mầu. Không ít người trung bình hay dưới trung bình thuộc những thành phần thiểu số đã được hưởng lợi nhờ những biện pháp ưu tiên này.

Nhưng với những con người có chân tài, gốc nguồn thiểu số lại trở thành một gánh nặng. Họ bị nghi oan là sự nghiệp lớn lao cũng như những phần thưởng ưu việt họ đạt được phần nào nhờ tây vị hay khoan dung. Morrison cũng không tránh được tai nạn ấy. Khi cuốn ‘The Beloved’ của bà được giải Pulitzer (1988), vinh quang này cũng bị tì ố một phần vì hai tháng trước đấy, một tập thể 48 nhà văn Mỹ gốc da đen đã gửi thư lên National Book Awards và New York Times Book Review tranh đấu cho bà. Sự can thiệp tuy đầy thiện ý nhưng vô duyên và thật ra đáng tiếc, vì tài năng của bà tự nó đã xứng đáng cho những phần thưởng quý hóa ấy. Giải Nobel văn học đã giải tỏa những hồ nghi cuối cùng, và khẳng định một lần nữa là tài năng -chỉ tài năng mà thôi- đã đem lại thành công cho bà, và văn nghiệp của bà đứng trên những vấn đề trắng đen hay nam nữ.

*

Hàn lâm viện Thụy Điển tưởng thưởng Morrison vì lẽ gì? Tuy ít ai đoán được lề lối làm việc của Viện, nhưng qua những lời phê của Viện tích lũy mấy thập niên qua cho những nhà văn trúng giải, ta có thể nghĩ nguyên tắc tưởng thưởng của Viện nằm trong mấy chữ “phục vụ con người”, với những hệ lụy thân phận cũng như những mơ ước hay tư duy của nó. Và tất nhiên Viện đòi hỏi sự phục vụ ấy phải được thi hành bằng một văn tài xuất chúng, nhờ thiên bẩm cũng như trau dồi tôi luyện. Lời phê của Viện khi tưởng thưởng Morrison cũng chứa đựng những nét nhân bản ấy.

Thật ra thì lời khen cũng chí lý và thích hợp với những giải thưởng Nobel trong quá khứ. Nó cũng phảng phất cái chung chung của nhũng lời khen tặng thường thấy trong những buổi ra mắt sách hay những bài bình sách nghiêm túc hay giao tế ngoài đời, ở một khuôn khổ làng xóm hay quốc gia, trong cộng đồng lớn hay trong giới văn nhân lưu vong.

Nhưng vấn đề xảy ra khi Viện cố gắng thích nghi lời khen cho hợp với nguồn gốc da đen của tác giả. Một đoạn trong lời phê ấy đại ý ghi nhận là “Morrison đã tận dụng ngôn ngữ, đã giải phóng nó khỏi những xích xiềng của chủng tộc mầu da”. Nó đồng vọng với những lời phê bà đã nhận được trong quá khứ, đại để như “Nhà văn đă vươn lên khỏi cái màu đen của một nền văn hóa riêng để thăng hoa tới những vùng trời nhân bản chung của Con Người.”

Kể ra về hình thức, lời phê có thể gọi là xúc tích về hình ảnh. Chữ xiềng xích cộng với mầu đen của da gợi lại cho ta cái xuất xứ nô lệ đọa đầy của người Mỹ gốc Phi châu.

Tuy nhiên, một lời khen như vậy ám tàng một kỳ thị chủng tộc, tuy không chủ tâm, nhưng vẫn là kỳ thị. Thậm chí có khi nghe như một lời khen từ trên ban xuống. Tại vì không ai khen một nhà văn Mỹ trắng thăng hoa lên quá cái trắng của văn hóa ông. Tựa hồ như mỹ học trắng là chuẩn chung cho cả nhân loại.

Vả lại, bỏ qua cái nét trịch thượng có lẽ không chủ tâm có chủng tộc tính, lời khen ấy có phần không chính xác về nội dung. Nó gần như sáo ngữ. Vì thật ra, tác giả không chung chung hóa nhân vật của bà để tìm đến chỗ chung chung cho độc giả (trắng) khắp nơi thưởng ngoạn. Ngược lại bà tả những nhân vật rất đen, đen một cách đặc thù, xử lý những thách thức của cuộc sống một cách cũng rất đen rất đặc thù bằng cung cách của người da đen. Và bằng một văn phong tài hoa, bà làm cho độc giả hiểu và say mê những nhân vật ấy, say mê mà vẫn thấy họ rất đen, rất khác biệt, sống động một cách mặn mòi trong văn hóa rất đen của họ.

*

Có lẽ Toni làm cho chúng ta suy nghĩ đôi điều về những nhà văn Mỹ gốc di dân, từ một văn hóa và quá trình không Mỹ viết bằng tiếng Anh. Trong tư thế ấy, có hai cám dỗ lớn. Thứ nhất là bạch hóa văn phong mình để hội nhập, viết như người trắng sinh đẻ ở đây từ cha mẹ trắng gốc tin lành. Đề tài có thể là Việt, là quê huơng cũ, nhưng đuợc nhìn với mắt trắng, với những nhân vật lấy làm ngạc nhiên thậm chí trước những món ăn Việt, thí dụ một cách quá đáng như được cho ăn phở vờ hỏi món này món gì (chuyện xảy ra hồi 75 khi họ gặp đồng bào mới sang).

Thứ hai là thái độ trái nguợc lại, là tìm cách trình bày những đặc thù của văn hóa cũ một cách cuờng điệu đến chỗ biến chúng thành kỳ lạ. Lối viết này như khai triển cái ‘exotic’ của văn hóa cha mẹ mình, để mưu cầu sự chú ý. Tựa hồ hy vọng cái lạ thay thế được cho cái hay cái thật. Có những đồng huơng mà mỗi khi mở miệng hay hạ bút bằng câu ‘Ở quê tôi thì…’, làm ta phải hồi hộp lo sợ. Lý do là tiếp theo câu mở đầu ấy thuờng là những tuyên bố có khi để huyênh hoang như ‘Cha tôi làm quan thanh liêm, mẹ tôi tiết hạnh khả phong’, hay ông tôi thủa sinh thời thường mong chúng tôi con trai phải noi guơng Quang Trung Lê Lợi, con gái phải noi gương Bà Triệu Bà Trưng; có khi để mua vui cho chủ nhà da trắng như ‘Chúng tôi ra đồng làm việc, đàn ông để vợ đi truớc, không phải vì nịnh đầm mà vì sợ rắn độc cắn’… Họ lôi đâu ra những tấm ảnh cũ phản ánh những phong tục không còn nữa như nhuộm răng ăn trầu, hay những thời trang xưa như nón quai thao, những vật dụng như cái quang cái gánh, đuợc phục sinh lại để kêu gọi cái chú ý của cộng đồng lớn. Cái lạ đã thoái hóa thành cái kỳ dị.

Toni Morrison phải chăng đã chứng minh rằng thành công lớn về văn học, nhà văn da đen một đằng đã không cần phải hy sinh bản thể đen của mình, mà đàng khác cũng không cần biến cái đen tổ tông ấy thành cái lạ lùng đến chỗ kỳ dị.

 

 

bài đã đăng của Mai Kim Ngọc


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch