Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Đề phòng giáo lý khuyển cẩu
Trang chính » Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Dịch Thuật, Sáng Tác, Sang Việt ngữ, Tạp văn Email bài này

Đề phòng giáo lý khuyển cẩu

Nguyễn Đức Nguyên chuyển ngữ

Khi hai nền văn hóa đụng chạm, cả hai phía đều cần kiểm phúc lành và học hỏi qua kinh nghiệm.

Tôi vụng về lục cái túi màu vàng tìm cái mẫu thống kê, tay run rẩy. Đã tới điểm giao tiếp đầu tiên. Bàn tay phải tôi cầm một quyển sổ ghi dầy, và lủng lẳng quanh vòng cổ một tấm thẻ nhận diện tôi là một nhân viên Thu Nhập Thống Kê Chính Phủ Liên Bang. Tôi cảm thấy có một trách nhiệm rất hệ trọng – tôi, một người tỵ nạn từ xứ Somali – lại được uyển thác với công việc thu nhập thống kê thiết yếu cho xứ sở mới này.

Công việc chính của tôi lúc bấy giờ là phụ giáo đa văn hóa tại hai trường công lập. Như vậy đã đủ bận, nhưng tôi muốn mở rộng kinh nghiệm và giao tiếp với xã hội chủ lưu hơn. Và tôi cũng cần thêm một chút lợi tức để giúp gia đình còn kẹt ở bên nhà.

Trên mạng Internet, tôi tìm được việc làm bán thời gian này vào tháng Tám năm ngoái. Cuộc phỏng vấn đã diễn tiến tốt đẹp và tôi chẳng nên quá lo. Ngoại trừ một đoạn trong quyển sách hướng dẫn đột nhiên trở thành một ám ảnh vang dội trong đầụ

Đoạn này viết: ‘Chó nuôi trong nhà có thể gây vấn đề đấy. Loài khuyển cẩu là loài thú cần ranh giới. Phạm vi kiểm soát của chúng có thể ra quá cái bìa ranh giới của cái hàng rào hay cái cổng nhà. Bạn cần cảnh giác những cử động của chúng …”

Từ khi tôi đến Úc năm 1999 – nhất là khi tôi được rời khỏi trại tập trung tỵ nạn Maribyrnong hai năm sau đó – tôi đã cảm kích cái vẻ dễ dãi nhưng hơi bảo thủ, của những khu ngoại ô thành phố Melbourne; phần lớn người Úc chào đón rất cởi mở thân thiện, từ bên trong những hàng rào gỗ cây của họ. Nhưng những con chó giữ nhà thì hoàn toàn trái ngược lại. Chúng đưa tôi đến một tình trạng khủng hoảng văn hóa nặng.

Cũng may tại căn nhà đầu tiên, việc chạy xuông xẻ. Vài căn sau đó, một bà cụ, có lẽ cũng trạc tuổi bà nội bà ngoại tôi, đến bên khung cửa. Tôi chào bà và hỏi: “Xin lỗi bà, có bao nhiêu người ở đây?” , “Chỉ có tôi và con bé gái Louise,” bà ta trả lời. Tôi ngạc nhiên, vì cái tuổi già của bà và cũng chẳng thấy dấu vết gì tỏ ra là có sự hiên diện của một em bé. “Bà có thể cho biết là bé gái sẽ có mặt tại gia cư này vào ngày 8 tháng 8 không?” tôi hỏi. “Có chứ, bé nó luôn luôn ở bên tôi,” rồi bà ta chỉ tay vào một con chó gần gót chân bà. Bà ta có vẻ rất ngạc nhiên vì câu hỏi của tôi.

Đầu tôi quay cuồng. Mình có nên liệt kê con chó là trẻ em hay không?

Chỉ trong khoảng khắc, cái quá khứ và cái hiện tại đụng chạm làm tôi choáng váng. Bạn biết chứ gì, người Somali, là người Hồi Giáo Sunni, thường theo giáo lý của thầy Shafi’i, một người không thích loài khuyển. Giáo phái Shafi’i phán rằng là nước dãi của loài khuyển không được sạch – và nếu chẳng may bị trúng nước dãi của chúng, thì cái chỗ dơ đó phải rửa đi rửa lại đến bẩy lần. Và ít nhất một lần phải dùng đất cát chùi lên cho sạch.

Lẽ đương nhiên cũng cần phải giải thích là cái luật chùi dãi chó của giáo phái Shafi’i có những giáo phái Hồi khác không đồng ý; một số kinh sách Hồi cũng cho phép dùng loài khuyển để giữ nhà hay làm chó săn.

Nhưng bây giờ tôi sống tại một xứ mà dân chúng gần như thờ phụng chúng. Đứng sững trước bà cụ này, tôi lại chợt nhớ đến lời đồn của những người di dân là người Úc có thể xin thêm phụ cấp xã hội nếu họ nuôi chó mèo. Rồi lại nhớ đến mấy người bạn có nuôi chó trong nhà, nhất là những khi họ đùa giỡn kêu chúng là ‘đàn con tôi’.

Có lẽ chó thật sự được tính là trẻ em trong thống kê, thế là tôi rét lên. Nếu thật như vậy, thì những dữ liệu thống kê mà tôi đã thâu thập đến nay đã đi đoong – tôi phải quay lại tất cả những hộ gia cư đã viếng qua để xác nhận lại số “trẻ em” tại các hộ đó. Tôi chạy vội về nhà, cẩn thận đọc lại hết cuốn cẩm nang chỉ dẫn, từng câu một. Khi thấy không có một chỗ nào khẳng định là chó được coi là trẻ em, tôi thở phào nhẹ nhõm, đỡ quá!

Một ngày nọ, tôi tán gẫu với một nữ sinh viên trạc hai mươi mấy tuổi. Cô ta nói là Úc cần nhiều di dân như người Somali vì họ có gia đình đông con. “Nước Úc may mắn của mình đang trở thành một cộng đồng già”, cô nói. Nghe vậy, tôi trả lời rằng những phụ nữ Úc như cô có thể hỗ trợ quốc gia bằng cách sinh nhiều con, và không nên chần chờ sinh sau đẻ muộn. Cô ta đồng ý nhưng rồi lại nói là thời điểm đã thay đổi; phụ nữ Somali cũng sẽ thay đổi để thích ứng với môi trường mới – họ sẽ có ít con đi. Khi tôi chào tạm biệt, cô ta còn nói vọng theo “Yusuf, chúc anh có kết quả tốt trong việc làm. Anh hòa hoa phong nhã lắm.”

Đàn ông thì khác hẳn, ít thân thiện hơn, nhất là những người độc thân. Ba người đóng sầm cửa vào mặt tôi. Nhưng lại có một phụ nữ Trung Đông tại một hộ gia cư nói tiếng Ả rập (tôi cũng rành tiếng này) gọi tôi là “huynh”; và như phong tục tôi gọi lại cô ta là “tỷ”.

Rồi một ngày nọ, tôi bước qua một cái cổng không khóa. Chỉ trong vòng vài giây, hai con chó, cất giọng hú, chồm tới vào chân tôi. Tôi đứng sựng lại, thất kinh. Bên trong nhà, người chủ vẫn luẩn quẩn đâu đó. Tôi chợt nhớ đến một câu cách ngôn của người dân du mục Somali: nếu bị chó tấn công, cứ ngồi xuống. Thế là tôi quỳ xuống, hét lại: “ Cút đi, đi đi!”. Những người đi lại trên đường ngạc nhiên nhìn trừng trừng. Trong lúc hỗn độn đó, tôi thấy một người đàn ông bước khỏi nhà, dùng lời khiếm nhã ra lệnh nặng nề cho hai con chó.

Tim tôi thót lên cổ. Tôi có hy vọng vào vài lời thông cảm, nhưng ông ta không xin lỗi. Ngược hẳn lại, ông ta hầu như không cần che dấu cái nhìn khinh miêt khi đối xử với tôi.

Tôi chợt nhớ lại hồi xưa. Tôi và chị tôi lớn lên trên mảnh nông trại gia đình, chăn nuôi những con lạc đà con (Nirgo). Lạc đà rất có giá trị ở Somalia, chúng đem lại của cải và thanh thế. Môt ngày, chúng tôi phải vào rừng tìm vài con Nirgo đi lạc. Đột nhiên, tôi và chị tôi thấy hai con sư tử rình mò. Cần nói ở đây là, qua phương tiện truyền khẩu, tổ tiên chúng tôi đã truyền lại những mẹo nhỏ để đối phó với các loài sư tử, linh cẩu, hay chồn lừa, v.v… Chị tôi lúc đó rất khôn và can đảm. Chị tôi nói: “Yusuf, đừng có chạy, đừng để chúng thấy mình sợ. Cứ cúi xuống sau lưng chị, chị sẽ bảo vệ cho”.

Rồi chị bắt đầu ném đá vào mấy con sư tử, miêng la lên “Libaax, ma I taqaana” (“Sư tử kia, mày có biết tao là ai không?”). Tôi thì cứ chuyền đá cho chị. Một vài phút sau chúng tôi nghe tiếng của ông chú. Tôi vội la lên:”Chú ơi! Mấy con sư tử muốn ăn thịt tụi con ở trong rừng”. Thế là đột nhiên mấy con sư tử bỏ đi.

Ngày hôm sau, gia đình tôi làm thịt một con trừu và mời vài ông trưởng thôn (sheik) đến để đọc kinh Koran và cảm ơn Thượng Đế (Allah) đã cứu nạn chúng tôi khỏi những con sư tử quỷ quách đó.

Chỉ trong chớp mắt, như tôi, bạn có thể đến một nơi khác, một nơi xa tít mù khơi và hoàn toàn khác lạ; như những người tỵ nạn, hay những người di dân chọn xứ sở Úc này là quê hương. Có ai biết được cái gì ám ảnh người đàn ông nói tiếng Phổ Thông, đang lau chùi xe, khi tôi bước vào cổng nhà ông.

Còn về cộng đồng Somali của tôi, cái mẫu thu nhập thống kê đã làm họ lúng túng vì họ sống quen với cuộc sống truyền khẩu. Đó là không kể một số người Hồi thì tin vào những lý thuyết hoang đường về chính phủ Úc. Một phụ nữ, tuổi khoảng tứ tuần tiết lộ là một giáo sĩ Hồi giáo ở Melbourne đã báo động tín đồ trong một bài thuyết giáo là qua thống kê, chính phủ đang sưu tập tài liệu để tống xuất họ. Tôi trả lời là Chính phủ Úc đã biết rõ về bà ta, và nhấn mạnh là mẫu thống kê chỉ có thể đem lại cho gia đình, và cộng đồng bà thêm quyền lợi.

Một ngày nữa, tôi đi thống kê ở khu vực làng thế vận nơi mà có nhiều người gốc Somali sinh sống. Tôi chợt nghe tiếng người gọi: “Này anh thống kê kia ơi”. Quay đầu lại, tôi thấy một phụ nữ đứng tuổi Úc lái xe đạp về hướng tôi. “Tốt quá, thật là tốt khi thấy một người gốc Somali đi đưa mẫu thống kê và hòa đồng với người Úc”, bà ta nói. Tôi hỏi bà ta nói thế là sao. Bà ta trả lời :”Người Somali rất dễ thương, rất hiền hòa, nhưng họ sống trong cái thế giới riêng tư của họ, không trộn lẫn – anh hiểu tôi nói gì chứ”.

Tôi hiểu bà chứ. Nhưng tôi cũng hiểu là cái với khỏi vòng tay để hòa nhập cần phải có từ cả hai bên – những giòng người chủ lưu cũng cần phải gõ cửa những người di dân, mạo hiểm vào trong đời sống họ để thoáng biết những gì họ đã bỏ lại sau lưng. Cái kinh nghiệm mà tôi lấy được trong vai trò “người thu nhập kiểm kê dân số” đã đưa đến tôi một hy vọng và một niềm tin lớn về một tương lai hòa hợp.

Và cũng may là hầu hết những người nuôi chó tôi gặp, đều kềm chế được mấy ông khuyển cẩu của họ.

Yusuf Sheikh Omar đạt bằng Tiến Sĩ qua Trung Tâm Khảo Cứu Y Tế Người Tỵ Nạn thuộc Đại Học La Trobe, Úc Châu.

bài đã đăng của Yusuf Sheikh Omar


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)