Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Email bài này

Thức Ăn Dễ Dãi

 

Tôi đối diện định mệnh làm mẹ như tôi đối diện khoảnh khắc khi tôi bước lên chiến hạm C-141 và trở thành dân tỵ nạn—một sự lao vút ngông cuồng vào tương lai mù mịt, với lòng tin hụt hẫng, mê muội như lòng tin của một tên đánh bạc. Bụng đau đẻ năm tôi ba mươi sáu kinh khiếp và mới mẻ như cảm giác bị kéo vụt lên không khí loãng lúc tôi mười ba tuổi, trí óc mường tượng cả khối xác thịt đứng chập chừng bên bờ vực thẳm, lúc như bị dìm chùng xuống hố sâu, lúc như bị tung bắn vào mênh mông, rồi trườn qua những con đèo thoai thoải. Tôi vật vã giữa những giây phút êm dịu hão huyền và từng chập quặn thắt, nhớ đến cảm giác bị ngộp đè, giằng chụp giữa những túi hành lý trên sàn máy bay, trong âm thanh chát chúa như vỡ màng tai . . . .

Tôi ôm con người bé tí được cuộn tròn—đứa con gái đầu lòng. Vợ chồng chúng tôi đặt tên nó là Ái Linh. Ái Linh là dân bản xứ Mỹ đầu tiên trong gia đình bên ngoại. Nó đã được sinh ra ở giữa thủ đô Hoa Kỳ, trong nhà thương y khoa của viện đại học George Washington. Tôi cảm thấy như mình vừa qua một trận bão. Nhưng tôi chưa thoát nạn. Một bà y tá hộ pháp bước vào phòng, bắt tôi phải kéo áo xuống cho con bú. Bà nói, “Cho con bú là chuyện rất tốt. Mày phải tập cho con bé nó quen.” Nhưng tôi chưa có sữa. Qua lần đẻ khó lần đầu tiên, thân thể tôi như một ven rừng lở lói. Núm vú tôi khô khốc. Bà y tá mang vào phòng một máy “bơm sữa” như một dụng cụ tra tấn thời Trung Cổ. Trong những ngày sau đó, tôi bị căng thẳng về chuyện cho con bú. Tôi tức ghét thân thể tôi. Những cái gì được coi là bản năng thiên nhiên của người mẹ, ở thân thể tôi trở thành đối nghịch, thách thức. Cho con bú là cả một sự dằn vặt. Tôi không được nhiều sữa, và không tin tưởng tôi có khả năng làm Ái Linh được no đủ. Tôi cho nó bú thêm sữa bình. Người y tá trong Hội Sữa (La Leche League) đảm trách nhiệm vụ “huấn luyện” những bà mẹ bắt tôi phải tu chỉnh, “Sữa mẹ chữa được nhiều bệnh. Mày phải cố sức làm sao cho nó bú chỉ mày thôi. Không được lười. Không được kiếm cớ.” Bà y tá này gọi phone cho tôi ở nhà sau đó một vài lần, nói là cổ võ tôi nhưng tôi thấy như bị đe dọa. Tôi gọi bà là Nazi Nurse. Tôi nói con gái tôi vừa Mỹ vừa Việt cho nên nó bú nước đôi.
Trong những ngày tháng kế tiếp tôi như thoái thác chính cơ thể mình, một cơ thể đã lừa dối, phản bội lại tôi. Một cơ thể đầy khuyết điểm. Tôi chỉ tin vào lý trí mình, một lý trí lô-gích, gọn ghẽ. Lý trí, không phải cơ thể, là sức mạnh, là cứu cánh của tôi. Trong niềm tin phát-xít về lý trí (nghiêng ngửa với đường lối của bà y tá trong Hội Sữa), tôi lờ mờ linh cảm rằng miếng ăn của con người ta, như chuyện sinh con đẻ cái, mặc dù là nhu cầu tự nhiên, không hẳn . . . dễ dãi như tôi đã tưởng. Ngay trong miếng ăn, với dấu cắn đầu tiên vào trái cấm, với khóe miệng hài nhi vào núm vú, đã bao hàm cả một mặc cảm tội lỗi—một mặc cảm về thiên nhiên và nhân cảnh không hoàn hảo. Có lẽ nghệ thuật nấu nướng của một văn hóa, hay một quốc gia, khi đã trở thành tinh vi, cũng là cách che đậy mặc cảm tội lỗi đầu đời, hoặc quá trình man rợ và nhàm chán của con người phải ăn để sống còn với thiên nhiên.

Trong trạng thái này tôi bắt đầu sống giữa tương lai và quá khứ. Khi Ái Linh lên một và có loáng thoáng vài ba cái răng sữa, tôi bắt đầu nấu những món ăn làm từ rau, trái cây, thịt cá hữu cơ cho nó, đi sắm thức ăn ở Whole Foods. Người thân nói sao tôi cầu kỳ vậy, nó còn bé ăn gì chẳng được, sao không ăn cháo gà hay cơm nắm vừng cũng bổ rồi, hơi đâu bày vẽ ra đủ thứ. Tôi thức khuya nấu nouille trong nước thịt gà “chạy bộ” có gia vị muối biển và húng tây (thyme) cho Ái Linh, măng tây non sốt với bơ . . . tươi đi vận tải tốc hành từ trại sữa ở miền Nam Virginia, táo Phú sĩ rắc với phó mát parmegiano reggiano của Ý. Lúc đó tôi còn đi làm full-time. Ban ngày viết hồ sơ kháng án đại diện cho sở làm trước tòa án liên bang, tối khuya về tôi nấu hết món này món nọ cho con, quên cả ăn. Nếu lúc trước tôi là dân tỵ nạn, nếu lúc trước tôi đã không đủ sữa cho con bú, thì bây giờ tôi bù đắp lại—cũng là một cách chống án lại hoàn cảnh. Chúng tôi sống ở Oakton, một vùng ngoại ô đất rộng, cây nhiều cách thủ đô Hoa Thịnh Đốn độ 25 dặm, nơi ít những khuôn mặt Á Đông, da vàng, nhưng vô số da trắng ở lứa tuổi ngoài ba mươi, dân mới làm giầu nhờ kỹ nghệ internet. Con của những tín đồ Bill Gates—những cậu bé, cô bé Mỹ tóc vàng, tóc đỏ, mũm mĩm, khỏe mạnh, ăn mặc xuềnh xoàng, chạy vòng trong sân chơi, leo trèo như khỉ nhưng lúc đi, đi chễm chệ như gấu, như sư tử và hoàn toàn tự tin như chúng làm chủ không gian chung quanh. Tôi muốn Ái Linh được như vậy. Mạnh bạo và tự tin. Cao lớn. Dõng dạc. Truyền thống Mỹ. Số mệnh tự quyết hoàn toàn Mỹ.

Vợ chồng chúng tôi có lẽ được coi như ở trong tầng lớp trung lưu bụi, hay bourgeois bohemian, gọi tắt là bobo, cũng là một loại dân nước đôi như dân tỵ nạn, đôi lúc bị coi là rởm vì muốn được cả hai đằng: trở về thời đại lãng mạn, văn vẻ trước khi Hoa Kỳ được kỹ nghệ hóa, ăn uống những thức ăn hữu cơ thiên nhiên, tiết kiệm nhiên liệu, tái sinh giấy báo, chai lọ, nhưng cùng lúc vẫn muốn những tiện nghi của đời sống kỹ nghệ. (Không khác gì bà y tá dùng máy bơm sữa bắt ép tôi cho con bú.) Bà mẹ chồng tôi phàn nàn, kêu đường đến nhà chúng tôi như đường lên Chùa Hương, hay đi Đèo Ngang, cheo leo, vòng vèo, toàn dốc, bao nhiêu là cây cối um tùm. Sau hơn một năm lùng kiếm, bắt đầu từ lúc tôi mới có mang bé Ái Linh, chúng tôi đã mua được một căn nhà gỗ, kiến trúc hiện đại, có nhiều cửa kính nhìn ra rừng cây, có giếng nước riêng. Mùa Đông, khách đến nhà than ầm là bị lạnh cóng, vì nhà nhiều cửa, nhưng không có màn cửa, hoặc thảm ấm chân. Chúng tôi sống như vẫn còn trong thời sinh viên. Bàn ghế nhà chúng tôi mua ở Ikea. Tôi ít quét dọn nhà cửa và không màng chuyện trang trí nội thất. Ngoài việc nấu nướng cho Ái Linh, chúng tôi ăn uống giản dị, thích đọc sách và xem xi-nê ở nhà. Chúng tôi cảm thấy thoải mái, vì nhà chúng tôi dù sao cũng có điện nước, những thiết bị tân tiến sơ đẳng. Như thế đã quá đủ. Những người thân cảm thấy chúng tôi quá sơ sài (vừa trong cách giao tế, vừa về bề ngoài và nội thất căn nhà của chúng tôi.) Nhưng chúng tôi biết, qua ánh nhìn thán phục (hoặc cũng xen một chút tị hiềm, hạ cố) và cách bắt tay (xiết chặt, ân cần, để tỏ lòng thành . . . thương mại) của người chủ nhà cũ khi ký hợp đồng giao nhà. Ông chủ cũ nói, “Chúc mừng hai bạn. Ngày xưa hai bạn rời Việt Nam đến đây. Bây giờ hai bạn đã đạt được Giấc Mơ Hoa Kỳ.”

Dù sao thì danh hiệu bobo cũng biểu tượng cho ý niệm mâu thuẫn về giai cấp xã hội Mỹ. Người Mỹ không cảm thấy thoải mái khi nói chuyện về màu da hay giai cấp. Trung lưu bụi là một từ ít nhiều mặc cảm, là cách người Mỹ ở thế hệ 30-40 tuổi vừa định nghĩa “khiêm nhượng” cho thân thế họ, vừa như cách họ tự chê bai họ. Cũng giống như dân bobo Mỹ, huyền thoại di dân là huyền thoại dân . . . trưởng giả không nhà và vô giai cấp. Năm 1975, gia đình chúng tôi chân ướt chân ráo đến Mỹ và được một nhà thờ Công Giáo bảo trợ. Mẹ tôi nói, ở Mỹ mọi người bình đẳng. Ngay lúc đó, tôi đã thấy rằng một chuyện thường ngày như chuyện làm cơm là một chuyện ít nhiều sắc thái taboo. Ngày đó, bà ngoại tôi và mẹ tôi thường bỏ ra nhiều thì giờ để nấu ăn cho ông ngoại tôi và bố tôi, lúc đó làm nhân viên đậu xe và quản gia cho một cơ sở garage ở Hoa Thịnh Đốn. Bà ngoại và mấy mẹ con chúng tôi ăn uống dè xẻn, nhưng ông ngoại và bố gần như ngày nào trước khi đi làm cũng được món bí tết, những miếng bí-tết thơm ngon, mềm, không mỡ, và những miếng khoai tây cắt chỉ, dòn, tan bùi và ngọt trên đầu lưỡi. Trẻ con chúng tôi thèm ăn ngon, nhưng không ai dám tị hiềm với ông, với bố. Chúng tôi hiểu rằng cách nấu nướng tỉ mỉ của bà ngoại và của mẹ, dành cho ông và bố, là bao hàm vô vàn săn sóc, tế nhị. Ông và bố là người cha, người chồng được kính yêu, với sứ mệnh quan trọng—là sứ mệnh nuôi sống gia đình. Nấu nướng những món ăn ngon cho ông, cho bố, là cách bà ngoại và mẹ tôi cố xóa bỏ những mất mát, những sa sút trong tình cảnh đổi đời, và đồng thời khuyến khích sự phấn đấu của hai người đàn ông trong gia đình.

Tôi nhớ đến những mùa hè làm cho một xưởng chế dụng cụ cương liệu cho máy vi tính để có thêm tiền đóng học phí đại học. Trong xưởng máy không có cửa sổ, với mùi thuốc cồn rửa máy xông nồng nặc, và những cái máy . . . ghi-lô-tin tuốt những sợi dây bọc chì, tôi đã chứng kiến nhiều cảnh đời. Những người đàn bà di dân Đại Hàn, Ba Tư, Nam Mỹ không thành thạo tiếng Anh nhưng ăn diện và trang điểm như đi chơi hộp đêm, nước hoa thơm lừng, áo quần là lụa. Cả loạt ai cũng như người mẫu, minh tinh màn ảnh. Đi làm đối với họ có lẽ như một cách giải trí. Họ ngồi túm đụm theo ngôn ngữ, quốc gia, như những ghetto trong xưởng máy, nói chuyện ồn ào, tai đeo máy Walkman i ỉ phát ra những bài hát tạp chủng. Vào giờ ăn trưa, phòng ăn xưởng máy biến thành một nhà hàng quốc tế, ngập ngụa mùi kim chi, mùi burrito, mùi súp Hồi. Họ có tiếng làm nhanh trên dây chuyền lắp ráp (assembly line) và khéo tay trong những việc hàn, nối dây chì, ráp máy vi tính. Xếp Mỹ đàn ông gọi họ là “girls” và thỉnh thoảng bắt họ im mồm. Tuy nhiên, vì chăm chỉ và đi làm đúng giờ họ được xếp tin cẩn và hình như có thế hơn bọn thợ da trắng.

Bọn thợ da trắng mặc T-shirt có lỗ hổng, quần jeans rách gấu, đi giầy đế cao su thường tránh xa khu phòng ăn, đứng hút thuốc trong bãi đậu xe, nói về những chuyến phiêu lưu tình cảm sau giờ làm việc, đi uống rượu ở bar, đi ăn cua bể, đi buffet “ăn chết bỏ” (all you can eat). Rượu mạnh, tình cảm lăng nhăng, và những món ăn tẩu thực là những thứ khuây khỏa của bọn thợ da trắng nhà nghèo. Xen kẽ vào những chuyện phiêu lưu tình cảm rượu chè ăn uống là những thảm kịch gia đình. Trixie có thằng con trai bị tai nạn đụng xe vừa chết. George có ông bố bị bệnh tim. Mo chỉ hơn tôi có dăm ba tuổi nhưng đã có hai đời chồng, và ba đứa con cùng mẹ khác bố. Ed vừa bị vợ bỏ. Giờ ăn, tôi hay ngồi với những người thợ da trắng vì ít nhất tôi cũng còn trò chuyện được với họ bằng tiếng Anh.

Hễ câu chuyện trong đám da trắng có phần nhàm chán hay tục tĩu tôi thường lảng ra khu bàn picnic, lôi quyển tiểu thuyết The Bell Jar của Sylvia Plath ra đọc cho khuây khỏa. (Tưởng tượng Sylvia Plath được học bổng làm chủ biên mùa hè cho báo Mademoiselle ở New York trong thập niên 1950s, thần tiên gấp bội hoàn cảnh của tôi, tôi không hiểu tại sao nhà thơ này đã hóa điên, đã lên án cả thập niên hậu Đệ Nhị Thế Chiến như một thế hệ tuân thủ rập khuôn mang cái đầu trơ trọc nhẵn bóng của Tổng Thống “Ike” Eisenhower!) Mỗi một mùa Thu, trở về không gian huy hoàng của sân cỏ đại học, với bức tượng thi hào Homer ngồi trầm tĩnh đọc sách trên bệ đá, tôi quyết tâm về sau sẽ không mang số mệnh bạc bẽo của nhóm thợ nghèo người da trắng, hoặc tinh thần đàn đúm ồ ạt . . . điếc không sợ súng của những người đàn bà di dân trong xưởng máy.

Thế giới êm ả của vùng trời đại học cũng là thế giới thử nghiệm của tôi trong những năm ở lứa tuổi hai mươi. Tác phẩm Bàn Cỗ Di Động (A Moveable Feast) của Hemingway đã cho tôi ý tưởng về thức ăn như một sự thay đổi số mệnh, biên giới, và thời gian. Qua những thử nghiệm về nấu nướng, như những thử nghiệm trong tình yêu khác văn hóa và màu da, như những thử nghiệm xem xi-nê lập dị của Âu Châu, tôi nghĩ mình đã chối bỏ được lịch sử cũ và số mệnh da vàng. Về sau, khi có bé Ái Linh, tôi đã tưởng làm cho nó ăn những món ăn không có mùi nước mắm, những món ăn chỉ thơm lừng mùi phó mát, mùi bơ, là tôi đã tẩy được lời nguyền, như bà mẹ cô công chúa ngủ trong rừng không cho con mình chạm vào những vật nhọn (để tránh lời tiên đoán của mụ phù thủy về cái thoi làm chảy máu ngón tay cô công chúa và mang cô vào giấc ngủ trăm năm). Tôi vẫn còn ngây thơ quá, dù ở lứa tuổi làm mẹ. Ái Linh, mặc dù là dân bản xứ, không dễ gì là . . . Mỹ hoàn toàn, nếu tôi vẫn còn bị quá khứ ám ảnh.

Tôi còn nhớ năm Ái Linh lên ba, tôi mang nó đến dự vào một playgroup với những đứa trẻ đồng tuổi. Khi thấy Ái Linh ngồi xếp chồng những khối gạch vuông lên thành một cái tháp xiêu vẹo, dập dình, chót vót, tôi lo ngại bảo nó, “Coi chừng nghe con, nó sắp đổ tan ra đấy.” Một bà mẹ Mỹ, qua chỗ chúng tôi ngồi, bỗng chợt khen xoắn xuýt, “Ồ Ái Linh giỏi quá, thật tài tình đấy. Ái Linh chồng thêm mấy khối gạch thử lên cao nữa xem nào.” Tôi tròn xoe mắt. Cái cấu trúc mà tôi thấy có khuyết điểm, sẽ phải đổ, người đàn bà Mỹ với mái tóc vàng hoe lại cho đó là một thử thách chọc trời hào hứng. Có lẽ tôi chỉ nhìn thấy khuyết điểm chung quanh tôi vì tôi, thật sự, không có một hộ chiếu Mỹ về mặt tinh thần. Hộ chiếu trên giấy tờ chưa đủ. Mọi thử nghiệm nào cũng chỉ có giới hạn. Tôi vẫn chưa vượt ra khỏi biên giới cũ.

Biên giới cũ: với những mùi mắm muối, những giọt mỡ đọng trên bức tường căn nhà trong những năm tôi lớn lên ở Mỹ, mùi chả giò, mùi cá chiên ám vào người, vào tóc, vào quần áo. Mùi thức ăn Việt Nam hiện hữu như một sự đánh dấu, như một vết chàm mà tôi vừa muốn gột bỏ vừa muốn ai cũng phải nhìn nhận. Tôi nhớ tôi đã có lần nổi giận với Patrick, anh bạn trai cũ người Mỹ. Một năm sau khi chúng tôi đã chia tay và hứa sẽ giữ tình bạn, anh ấy gọi cho tôi: “Chỉ cho anh nấu món canh chua. Anh sắp đãi một cô bạn người Nhật.” Không biết tự dưng sao lúc đó tôi lại phát cáu, “Đã bao nhiêu năm được ăn canh chua rồi mà anh vẫn không biết nấu món này, anh thật đúng là vô dụng!” Patrick bối rối, “Xin lỗi em. Tôi là người vô tình, dễ quên thật.” Chắc Patrick lúc đó tưởng tôi đã ghen anh có cô bạn mới người Nhật, nhưng không phải thế. Tôi thật sự cảm thấy nhẹ nhõm khi biết Patrick có một cuộc sống mới. Mãi về sau tôi hiểu tôi đã tức cách Patrick, và những người đàn ông Mỹ như Patrick có khả năng” “shopping” từ văn hóa này qua văn hóa khác, chọn những món ăn hợp khẩu, chọn những cô gái mà họ nghĩ rằng sẽ cho họ những giây phút dễ chịu, những bối cảnh linh động hơn những cô gái của chính văn hóa họ, nhưng hầu như họ không giữ lại được những đặc thù của những văn hóa đã “trải” qua, như Patrick đã không thể nào nhớ được cách nấu món canh chua Việt Nam của tôi. Hay tôi thật sự đã nổi giận với chính tôi? Tôi cũng đã không “shopping” ra khỏi văn hóa mình hay sao? Ờ thì tôi nấu được món Ý, món Tây, món Tàu, nhưng phải chăng tôi cũng là một loại xâm nhập biên giới không giấy phép (interloper)? Ở đâu là biên giới của tôi? của Ái Linh? Tương lai của Ái Linh sẽ ra sao, trong một thế giới hỗn tạp không bờ bến? Ngày xưa tôi đã không đủ sữa cho nó bú, mai sau này làm sao tôi có thể gìn giữ nó trong một không gian hoàn hảo, ngăn nắp? Sức mạnh tinh thần là nhờ ở khuôn phép và căn bản văn hóa Việt, hay là ở tinh thần xâm lược hàng rào, chọc thủng trời xanh của dân Mỹ? Sự hiện diện của tôi ở xứ sở Hoa Kỳ có phải cũng từ lỗi lầm vượt bờ cõi của người Mỹ hay không?

Trong tác phẩm phóng sự Quốc Gia Tẩu Thực (Fast Food Nation), tác giả Eric Schlosser nói về lịch sử chuỗi nhà hàng McDonald’s ở Hoa Kỳ. Sau Đệ Nhị Thế Chiến, vào cuối thập niên 1940s, hai anh em nhà McDonald nghĩ ra sáng kiến tăng tốc độ thời gian phục vụ khách hàng, tăng lượng bán hamburger, đồng thời hạ giá bán mỗi phần ăn. Họ giản dị hóa lại menu, bỏ đi những món lỉnh kỉnh phải ăn với xiên, muỗng, dao. Họ cũng thay những ly và đĩa thủy tinh hay bị nhân viên teenager làm vỡ với những ly giấy, đĩa giấy. Để làm hamburger cho thật nhanh, họ đã biến nhà bếp thành một xưởng máy nhỏ, với những nhân công, không cần là đầu bếp chuyên nghiệp cũng biết “rắp” lại từng phần hamburger trên dây chuyền sau khi đã được huấn luyện sơ đẳng. Kết quả là một cuộc cách mạng thức ăn ồ ạt tràn lan ra khắp lãnh thổ Mỹ, vượt biên cương Hoa Kỳ đến những nơi xa lắc xa lơ, với hàng loạt phần hamburger gói ghém sạch sẽ, rập khuôn, không linh hồn, không quá khứ, không tương lai, không bờ bến—với năng lực trong một hiện tại ngắn ngủi. McDonald hamburger là món ăn quá dễ dãi cho nên đã thành như tiêu cực. Hơn nửa thế kỷ sau cuộc cách mạng McDonald, hàng vạn tầng lớp Mỹ nghèo đã bị bệnh mập, bệnh tiểu đường, và bệnh tim vì chỉ có đủ khả năng tiêu thụ hamburger thay vì những món ăn tươi bổ hơn.

Ái Linh năm nay gần chín tuổi. Nó thích ăn macaroni and cheese, hummus với pita bread như dân Trung Đông, sashimi và xôi vò giò lụa. Nó bảo nó thích đọc sách và lớn lên muốn làm nhà thơ. Nó còn nhớ tôi đã đọc sách cho nó từ lúc nó chưa biết nói. Nếu mai sau nó trở thành người cầm bút, nó sẽ là thế hệ thứ ba, sau bố tôi và tôi, đèo bòng nghiệp viết lách. Tôi không kể cho nó nhiều chuyện trong quá khứ của tôi. Bây giờ tôi cũng không còn trò chuyện nhiều bằng tiếng Việt với nó, vì tiếng Anh nó thuần hơn. Thỉnh thoảng Ái Linh có ác mộng. Một hôm nó tự dưng hỏi tôi: “Mẹ ơi, có phải cấu trúc văn hóa của một dân tộc là cách chống lại nỗi sợ hãi về cái chết?” Tôi ngạc nhiên về câu hỏi quá sâu xa, quá người lớn của nó. Từ nhiều năm may Ái Linh đã nói với tôi là nó sợ chết. Nhưng khi học về văn minh Ai Cập ở trường, Ái Linh lại say mê đọc quyển Sách Minh Họa về Người Chết (The Illustrated Book of the Dead). Tôi hỏi con không thấy văn minh Ai Cập có phần u ám chăng? Nó nói nó thích văn minh Ai Cập vì văn minh này tinh vi sâu sắc hơn văn minh Hy Lạp về mối giây liên hệ giữa sự sống và cái chết. Ái Linh cũng thích văn minh Ai Cập cho đàn bà quyền bình đẳng với đàn ông. Ái Linh nhận văn minh Hy Lạp có nhiều cái hay, nhưng chuyện xã hội Hy Lạp khinh đàn bà nó thấy không ổn. Tôi thấy nhẹ nhõm đôi chút. Tục ngữ có câu, “Trời sinh voi, trời sinh cỏ.” Hy vọng Ái Linh sẽ tự quyết được cuộc đời của nó.
Trong tiếng địa phương của dân Cajun vùng New Orleans, bobo cũng có nghĩa là “một vết thương nhỏ.” Một vết thương như kỷ niệm, như số mệnh được đánh dấu. Tôi nhớ lại những món ăn trong quá khứ của tôi. Những món ăn mà tôi chưa từng tả cho Ái Linh biết, vì nó là những âm vọng từ thời thơ ấu đậm đặc tính chất bản năng: món súp cật bò rắc hẹ, vẫn còn mùi vị khai khai, nhưng làm tôi tỉnh nguời sau một trận sốt mê sảng liệt giường; món cháo tiết mằn mặn vị sắt, ăn kèm với miếng dầu cháo quẩy ướt rượt mùi dầu mè; món canh su hào nấu với cổ gà và bong bóng lợn trong những ngày giỗ tổ tiên; món rau muống luộc dầm sấu; món thịt mỡ đông lạnh ăn với dưa chua ngày Tết; món mắm tép kèm thịt ba rọi . . . . Có lẽ tôi phải ôn lại tiếng Việt cho Ái Linh trước đã.

 

 

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)