Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 19, Email bài này

Ngày tôi về làng

1 bình luận ♦ 30.12.2006

 

1.

Xe về đến đầu làng, đứa cháu họ quay sang bảo tôi: “Chú thấy cây đa làng mình không? Cụ tổ họ nhà mình trồng đấy. Cháu nghe ông cháu bảo thế. Chắc là mấy trăm năm rồi. Bên Mĩ chắc chẳng có cây đa như thế này đâu, chú nhỉ?” Giọng nó bình thản nhưng tôi nghe như có pha chút hãnh diện.
Tôi ngửng đầu lên nhìn. Cây đa đen đúa, cao sừng sững, già nua, quắt queo như mảnh đất này. Bên cạnh cây đa, biểu tượng của làng quê Việt Nam, chen chúc trong bóng chiều ảm đạm ngày cuối tháng mười vài mái nhà nhếch nhác và một quán bia hơi. Tôi không nhìn cây đa mà đưa mắt sang quán bia. Quán không có khách, chỉ có cô gái trạc ngoài hai mươi, mặt bánh đúc, hai môi dày, áo thung đỏ bó sát người, quần bò bạc màu, ngồi vắt chân nhìn người qua lại.
Huy, đứa cháu lái ôtô chở tôi từ Hà Nội về làng, đỗ xe trước quán rồi nói vọng ra với cô gái:
“Hoa ơi! Chốc nữa đóng cửa sớm về nhà bà Tư ăn cơm nhé. Có chú Minh bên Mĩ mới về.”
Cô gái trố mắt nhìn tôi. Tôi có cảm tưởng cô đang nhìn người hành tinh lạ từ dải thiên hà nào trong vũ trụ bay lạc xuống địa cầu này. Hoá ra cô là một trong những đứa cháu tôi trong làng. Cháu tôi bán bia hơi, ngay dưới gốc cây đa đầu làng. Tôi ngỡ khi bước chân vào đầu làng, dưới gốc đa phải có bà cụ già bảy tám mươi tuổi ngồi bán nước chè tươi và bánh gai gói lá chứ!
Không, chẳng có gì ngạc nhiên. “Làng quê bây giờ khác xưa nhiều lắm, chú ạ.” Lúc còn ở Hà Nội tôi được mọi người nhắc nhở trước như vậy như thể họ sợ tôi bị sốc khi về làng. Họ luôn miệng cung cấp cho tôi liều lượng thông tin rất đầy đủ và cập nhật về những đổi mới trong làng. “Gớm! Thời buổi kinh tế thị trường có khác, đến con Chắt mà bây giờ cũng có điện thoại di động, chốc chốc lại thấy rút máy ra nháy lia nháy lịa.” Tôi chẳng biết Chắt là ai, nhưng qua giọng nói, nói trống không nhưng hiển nhiên chủ ý muốn người nghe là tôi, tôi biết mọi người trong quê bây giờ đỡ khổ nhiều lắm so với thời bao cấp. Vâng, tôi hiểu rồi. Tôi hiểu tôi là kẻ lạ trên xứ này. Những gì tôi biết về làng quê hoàn toàn là qua sách vở, văn chương, phim ảnh, hay miệng kể từ những người thân quen trong họ hàng gần xa. Làng quê, với tôi, là nơi chốn hoang đường thần thoại như trong truyện cổ tích thần kì. Bao nhiêu năm nhập cuộc trò chơi chữ nghĩa, tôi chẳng bao giờ dám viết một dòng một chữ nào về cái nơi chốn cách đây hơn nửa thế kỉ tôi mở mắt chào đời nhưng chẳng hề để lại dấu vết nào, dù thật mờ nhạt, trong ý thức hoặc tiềm thức tôi. Làm sao tôi có thể viết về những điều tôi hoàn toàn mù mịt? Thi thoảng đọc được bài thơ của thi sĩ nào đó viết về nỗi nhớ quê nhớ nước, mặc dù thấy hay hay nhưng tâm trạng tôi dửng dưng như kẻ đứng bên ngoài, cảm xúc nơi bài thơ chẳng thể nào khiến tôi rung động theo tác giả. Tại sao vậy? Chẳng lẽ tôi là kẻ không có quê hương? Nhiều lúc tôi nghĩ quê hương tôi có lẽ là cái giường tôi ngủ hằng đêm.
Nhưng có thật như thế không? Hay đó chỉ là cảm giác bị đánh lừa của kẻ sống quá lâu nơi xứ người mà trở về là chuyện chẳng bao giờ nghĩ đến. Tuy lòng tôi chẳng bao giờ thấy đau đáu nỗi nhớ nhà, nhớ quê, nhưng thi thoảng nó vẫn dấy lên thành nỗi buồn kì quặc. Tôi nói kì quặc bởi tôi chẳng thể nào giải thích cho chính tôi hiểu tôi nhớ cái gì. Lòng tôi như có vết thương không lành, lâu lâu lại tấy lên mưng mủ khiến tôi có cảm giác như nao nao mất mát, như thiếu thốn cái gì, tôi bị ám ảnh bởi hàng chục câu hỏi không có câu trả lời.
Cho đến một hôm tôi ra tiệm sách mua về đọc một mạch hết quyển tiểu thuyết nhan đề Ignorance của Milan Kundera.
2.

Milan Kundera. Tủ sách tôi hình như không thiếu quyển sách nào của nhà văn này. Cách đây không lâu ông cho xuất bản tác phẩm tiểu thuyết mới nhất, quyển Ignorance. Những tác phẩm tiểu thuyết sau này Kundera viết bằng Pháp ngữ, hình như bắt đầu từ quyển Slowness, không còn chất “lửa” như thời ông sinh sống ở Bôhêmia—quê hương cũ của ông—nữa. Nhưng với quyển Ignorance, Kundera đem đề tài hoài hương ra mổ xẻ dưới mắt một người lưu vong, vì những biến cố lịch sử khốc liệt nơi đất nước mình, đã phải bỏ xứ đi định cư ở quốc gia khác. Nghe sao giống hoàn cảnh tôi và bạn thế. Và vì thế quyển sách rất đáng đọc. Hơn nữa, tuy “lửa” không còn ngùn ngụt cháy như thuở trước nhưng bạn đừng quên đây là Milan Kundera, một trong vài ba văn tài kiệt xuất nhất của văn học thế giới đương đại.

Người ta gọi Kundera là “diệu thủ” của chữ nghĩa. Điều đó hiển lộ trong tiểu đoạn hai quyển tiểu thuyết, trong đó ông giải thích tường tận ý nghĩa từ nostalgia mà thường được dịch sang Việt ngữ là lòng nhớ nhà, nhớ quê, hay văn chương hơn, hoài hương, hoài thổ. Đọc đến phần này, trí óc tôi bỗng nhen nhúm câu trả lời cho câu hỏi vẫn mãi vương vấn trong tôi từ trước đến giờ.
Chúng ta hãy giở lại những dòng chữ của Kundera ở tiểu đoạn hai.

Tiếng Hi Lạp “sự trở về” là
nostos. Còn Algos có nghĩa là “khổ sở.” Vì thế nostalgia (lòng hoài hương) nghĩa là nỗi khổ gây nên bởi lòng mong mỏi khôn nguôi muốn trở về quê cũ. Để biểu hiện ý niệm cơ bản đó hầu hết các dân tộc Âu châu sử dụng từ ngữ một mặt vay mượn từ ngôn ngữ Hi Lạp (nostalgia, nostalgie) một mặt lấy từ những từ khác trong ngôn ngữ riêng của quốc gia mình: người Tây Ban Nha nói anoranza; người Bồ Đào Nha nói saudade. Mỗi từ hàm chứa một ý nghĩa khang khác. Thông thường chúng chỉ có nghĩa là nỗi buồn do cảnh huống không thể quay về quê cũ: lòng khao khát muốn trở về cố lí, nhà xưa. Trong Anh ngữ người ta gọi là “homesickness.” Hay Đức ngữ: Heimweh. Hà Lan: heimwee. Nhưng điều này khiến ý niệm trọng đại của từ ngữ bị giảm sút, chỉ còn lại yếu tố không gian của nó. Một trong những ngôn ngữ cổ xưa nhất của Âu châu, tiếng Băng Đảo (giống như Anh ngữ) phân biệt rạch ròi hai từ khác nhau: soknuđur: lòng hoài hương với ý nghĩa thông thường của nó; và heimprá: khát vọng nhìn về đất mẹ. Người Tiệp có từ nostalgie, gốc Hi Lạp, lại có thêm danh từ, stesk, và cả động từ nữa; câu nói biểu hiện tình yêu mãnh liệt gây rung động nhiều nhất trong ngôn ngữ Tiệp là: styska se mi po tobe (“Anh mong mỏi em”, “Anh hoài tưởng em”, “Anh không chịu nổi nỗi đau vắng em”). Tiếng Tây Ban Nha từ anoranza được kết hợp bởi động từ anorar (cảm thấy nhớ quê hương), từ này lấy gốc từ ngôn ngữ Catalan, từ enyorar, và chính nó lại có gốc từ tiếng La tinh, từ ignorare (không hay biết, không hề nếm trải bao giờ, thiếu, hụt). Giữa luồng ánh sáng ngữ nguyên đó lòng hoài hương có vẻ như là nỗi đau của kẻ bất tri, không hay biết. Bạn ở xa, và tôi không biết bây giờ bạn như thế nào. Quê hương tôi xa lắm, và tôi không biết chuyện gì đang xảy ra bên đó. Có những ngôn ngữ lúng túng với từ hoài hương: người Pháp chỉ có thể diễn tả nó bằng danh từ gốc Hi Lạp, họ không có động từ; họ có thể nói Je m’ennuie de toi (Anh nhớ em), nhưng từ s’ennuyer yếu ớt, lạnh lẽo lắmnó quá nhẹ để biểu hiện cảm giác trầm trọng. Người Đức rất hiếm khi dùng từ Nostalgie gốc Hi Lạp, họ có khuynh hướng nói Sehnsucht khi diễn tả lòng khao khát cái gì vắng mặt, không còn. Nhưng lại có thể dùng từ Sehnsucht để ám chỉ cái hiện hữu và cái chưa bao giờ hiện hữu (một cuộc phiêu lưu mới chẳng hạn), và bởi thế nó không nhất thiết ám chỉ ý tưởng nostos; nếu muốn dùng từ Sehnsucht cho nỗi ám ảnh muốn quay về thì phải điền thêm cụm từ bổ túc như sau: Sehnsucht nachder Vergangenheit, nach der verlorenen Kindheit, nach der ersten Liebe (khát khao quá khứ, khát khao tuổi thơ đã mất, khát khao tình yêu đầu).
3.

Đoạn văn này Kundera viết một mạch, không xuống hàng. Tôi vốn không thích ngôn ngữ học, với tôi nó là khoa học chán ngắt, nhưng mỗi lần đọc lại đoạn văn trên tôi thấy sự thú vị như được nhân lên gấp bội; tôi còn dịch ra đây để chia sẻ với bạn nữa. Kundera nói hộ tôi điều tôi thắc mắc bấy lâu nay. Hoài Hương. Bất Tri. Tại sao ông chọn nhan đề quyển tiểu thuyết là Bất Tri khi viết về đề tài Hoài Hương? (Kundera là người cầu toàn, ông rất cẩn trọng trong việc chọn nhan đề sách.) Hoá ra chúng nằm cùng phạm trù. Nó là nỗi đau của kẻ không biết chuyện gì xảy ra bên kia quả địa cầu, không biết cái miền đất cũ kĩ, rách rưới đó bây giờ ra sao và sự trở về luôn luôn là niềm khát vọng ám ảnh khôn nguôi. Với tôi, nó còn là nỗi đau của kẻ muốn quên đi, không muốn nhìn nhận, không muốn biết những gì đang xảy ra nơi đó. Một tâm thức vong thân, hay vong bản, nếu bạn muốn gọi như vậy. Với Kundera, Bất Tri chỉ là không hay biết. Nhưng với tôi, bên cạnh cái không hay biết đó còn là cái Bất Tri của cô gái nước Thương trong “Thương nữ bất tri vong quốc hận, Cách giang do xướng Hậu Đình Hoa.” (Thương nữ thường được hiểu là người con gái buôn, nhưng tôi thích lối giải thích của cụ Hoàng Văn Chí hơn.)


Vong bản

. Từ ngữ nặng nề thật, như bản án chung thân. Dĩ nhiên, tôi không khỏi rúng động khi nghĩ mình là kẻ vong bản nhưng nếu bạn là người văn minh đang hồ hởi tay bơi tay chèo thuyền nan thuyền thúng vươn ra biển lớn hội nhập thế giới, bạn hãy cho tôi quyền tự biện hộ trước khi bạn giáng xuống đầu tôi bản án ghê gớm đó. Tôi sẵn sàng thú nhận với bạn tôi là người vong bản nếu bạn tìm ra cho tôi ý nghĩa nào khác của chữ “bản” ở đây. “Bản” viết theo Hán tự gồm chữ “mộc” có gạch ngang bên dưới, tượng trưng cho cái gốc. Vì thế vong bản có nghĩa là mất gốc. Nhưng cái gốc của tôi mới lo le chưa kịp bám sâu vào lòng đất thì đã bị giật phăng lên, rồi cơn lốc lịch sử cuốn tôi trôi giạt về những miền đất xa xôi, mờ mịt. Tôi không kịp ngoái nhìn để ghi nhớ bất kì hình ảnh dù cỏn con nào của cái mảnh đất chôn cuống rốn tôi đó. Tôi không có gốc thì bạn chẳng thể nào bảo tôi là mất gốc được. Tôi không thể “mất” cái tôi không hề sở hữu bao giờ.
4.

Bữa cơm đoàn viên có bốn mâm. Mọi người ngồi quây quần trên bốn cái chiếu trải kín phía ngoài gian nhà, ngay dưới chân bàn thờ chú Tư tôi. Chẳng bao giờ tôi gặp chú. Chú mất cách đây ít năm sau cơn tai biến não. Thím còn sống, đã ngoài chín mươi, người còm cõi, da thịt nhăn nheo; nhưng thật ra thím còn khoẻ mạnh lắm, đầu óc tương đối tinh tường, chưa bị lẫn.
Thức ăn ê hề bày biện khéo léo trên những cái đĩa sứ chỉ nhỉnh hơn bàn tay người lớn một tí. Cô em họ ngồi bên cạnh cứ gắp thịt thà vào bát tôi nhưng món tôi ăn bắt miệng nhất là món nộm hoa chuối trộn với khế và tai lưỡi lợn thái mỏng. Đứa cháu dâu nghe nói tôi thích ăn bánh đúc vội đi quấy nồi bánh đúc đem lên mời. Bánh đúc có màu hồng hồng chứ không trắng ngà như bánh tôi hay ăn ở quán Viễn Đông bên Cali.
Tôi không rõ nguyên do từ đâu có huyền thoại thức ăn Việt Nam nấu bởi các nhà hàng Việt ở Cali ngon hơn trong nước. Tương tự như các chân lí made in Vietnam khác, chân lí này người ta khơi khơi công bố như một định đề Toán học chứ không hề có người nào cất công nghiên cứu, lập thống kê, lập thuyết, minh chứng, biện chứng; cũng chẳng hề có ai đi phỏng vấn các chuyên gia ẩm thực của kênh truyền hình Food Network để xác định một lần rồi thôi là giữa phở Bolsa và phở Hà Nội, phở nào ngon hơn; giữa bánh cuốn Santa Ana và bánh cuốn Thanh Trì, bánh cuốn nào ngon hơn. Nhưng chuyện hơn thua là chuyện của bạn; riêng tôi, cho dù bạn là chuyên gia ẩm thực thượng thặng cũng chẳng thể thuyết phục nổi tôi. Tôi tin cái lưỡi tôi hơn bạn. Đầu bếp các nhà hàng Việt Nam ở Cali—tám, chín mươi phần trăm là người Mễ—tên nào tên nấy to béo lực lưỡng, nặng chí ít trên trăm cân, nhưng xin lỗi bạn, chúng làm sao đủ tư cách đọ với thím Tư tôi—tuy chỉ nặng không quá băm nhăm cân nhưng tuổi đời trên chín mươi, với quá trình bảy mươi năm về làm dâu nhà họ Trịnh, trải qua hai cuộc chiến tranh tàn khốc, chưa kể phong kiến, thực dân, cải cách ruộng đất, rèn quân chỉnh cán, xã hội chủ nghĩa, bao cấp, kinh tế thị trường, xoá đói giảm nghèo, và ngày nay vươn ra biển lớn—thức giấc từ ba giờ sáng riết róng chỉ đạo một đàn con cháu hoàn tất bốn mâm cỗ?
Tôi ngồi chung chiếu với thím Tư, con cái dâu rể của thím và mấy ông anh họ. Các bác tôi đã mất cả. Hiện tại thím là người có vai vế cao nhất trong họ. Ngồi một chốc cho đủ lễ bộ, tôi tìm cớ chuồi xuống mâm dưới với lũ cháu trai. Chúng nó mười mấy đứa đàn ông, trai tráng lực lưỡng đang đánh chén thịt cầy. Cạnh mâm là hũ rượu rắn. Hũ rượu to lắm, dễ đến bốn lít, hai con rắn hổ da vàng như nghệ nằm bên trong quấn quít lấy nhau nhưng vẫn còn chỗ cho chúng ngóc đầu lên nhe nanh nhọn như doạ nạt người yếu bóng vía như tôi. Sử, đứa cháu đích tôn trong họ nâng li mời tôi li rượu rắn. Anh kém tôi ba tuổi, trước đi bộ đội, nay là Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân Xã. Người anh rắn rỏi như hầu hết đàn ông khác trong làng. Anh bảo chính tay anh cắt tiết con cầy này để đãi tôi. Tôi bảo anh thịt cầy tôi chỉ ăn được món nhựa mận. Anh bảo tôi chưa biết mùi đời là gì nếu chưa ăn thịt cầy luộc do chính tay anh luộc. Người biết ăn thịt cầy thích nhất món luộc. Anh bảo tôi thế. Đàn ông trong làng gần như ai cũng mê ăn thịt cầy. Cánh đàn bà con gái có thể nấu nướng thật ngon thật khéo tất cả các món ngoại trừ thịt cầy. Nhà nào cũng nuôi chí ít dăm ba con chó, hở ra là các ông xúm vào cắt tiết, cạo lông nhẵn thín xong lấy rơm ra thui. Nhất là khi có khách khứa đến nhà. Không biết có phải vì lí do đó mà mấy hôm ở trong làng tôi để ý thấy chó nhà nào thấy tôi đến cũng chạy ra sủa vài tiếng lấy lệ rồi lủi đi chỗ khác. Phải chăng giác quan thứ sáu của loài chó ở đây cảnh báo cho chúng biết hễ có người lạ đến viếng nhà là y như rằng thể nào cũng có chú bị lôi ra vật chết làm thịt?
5.

Một trong những việc đầu tiên tôi làm khi về làng là thắp hương nhà thờ họ và đi thăm viếng mộ các cụ. Đi thăm mộ các cụ mất cả ngày trời mà chỉ mới gọi là tạm đủ. Đa phần người trong dòng tộc tôi tụ lại sinh sống ở Quảng Bị, nhưng cũng có người sống rải rác bên Đầm Mơ, Chúc Sơn, Chúc Động, Tốt Động. Đây là những làng mạc có từ lâu đời lắm thuộc huyện Chương Mĩ, tỉnh Hà Đông (nay là Hà Tây), từ Hà Nội đi về phía Tây Nam chưa tới một giờ xe, nói chung là vùng đất chiêm trũng thuộc đồng bằng giữa sông Hồng và sông Đáy. Có lẽ nó cũng là nơi lập nghiệp từ thuở ban sơ của dòng giống Việt thuộc văn hoá Phùng Nguyên.
Mộ các cụ nằm dưới ruộng nên có lúc tôi phải xắn quần lội nước bì bõm mới vào đến tận nơi. Mộ nhiều lắm, tôi không tài nào nhớ hết nổi của những ai, phần lớn xây sơ sài chứ không “hoành tráng” như mồ mả trong Nam. Hướng nằm của các cụ cũng không theo quy hoạch nào cả khiến tôi có cảm tưởng khi chôn cất các cụ người đào huyệt bạ đâu đào đó. Tôi đoán thầm các cụ trước khi chết đã đón thầy địa lí về xem hướng mộ dựa vào tuổi tác của mình rồi dặn con cháu cứ theo hướng đó mà chôn. Phong thủy Việt Nam rất chú trọng đến hướng nằm, nằm trên giường cũng như nằm trong mồ. Sử lấy Hông đa nai tôi đi hết mấy làng. Những con đường đất đỏ bề ngang không quá thước Tây ngoằn ngoèo chạy theo ruộng nương bát ngát. Những ao cá lấp lánh như dát bạc. Cỏ lác bên vệ mương rập rình lau lách. Gió tháng mười man mát và lòng tôi chùng xuống. Tôi chẳng nghĩ ngợi gì cả. Những ý tưởng văn hoa, cao đẹp với tôi lúc đó đều vô nghĩa. Tôi cố dẹp hết mọi tạp niệm trong đầu để thật sự tận hưởng mùi vị thiên nhiên. Thiên nhiên có những cánh đồng đậu tương mút mắt bên Đầm Mơ, những luống cải xanh rờn tươi tắn chạy đều tăm tắp bên Quảng Bị và những bãi phân trâu, phân bò to như cái thúng nằm đầy lối đi. Không, bạn đừng nghĩ tôi đang mỉa mai, trêu chọc ai. Phân trâu, phân bò hoặc phân của tất cả các con vật là một phần của thiên nhiên đang bị con người, nhân danh văn minh và tiến bộ, đẩy lùi vào ngõ cụt. Nơi tôi sinh sống bên Mĩ, tôi không dám nuôi chó chỉ bởi không có chỗ cho nó vô tư chạy nhảy, phóng uế. Chó mà không được quyền tự do phóng uế bừa bãi ngoài đường sá, không được quyền tự do gặp chó cái đâu cũng nhào tới “dính lẹo” thì phí một đời chó lắm. Con người sống không tự do đã thành quán tính. Chúng ta dùng cái gọi là trí tuệ để tự đánh lừa bản năng nguyên sơ yêu chuộng tự do của chúng ta và cúi đầu bó thân cam chịu cuộc sống gò bó gần như nô lệ này. “Hàng thần lơ láo phận mình ra sao.” Tất cả chúng ta đều là hàng thần lơ láo. Lơ láo trong gia đình. Lơ láo trong cộng đồng. Lơ láo trong xã hội. Lơ láo trên cái hành tinh nhếch nhác, buồn thảm này. Câu thơ của Nguyễn Du chưa bao giờ thấm thía hơn. Loài vật không thế. Chúng có mặt trên địa cầu trước chúng ta nhiều triệu năm nhưng lí trí chúng không phát triển cùng tiến độ như chúng ta nên chúng vẫn biết thế nào là tự do. Lí tưởng tự do của loài vật là tuyệt đối; chẳng sách vở, chữ nghĩa, thơ văn nào của loài người có thể lí giải nổi.
Đến Chúc Sơn, tôi hỏi Sử biết mộ ông Hưng ở đâu không. Anh hỏi ngược lại tôi ông Hưng nào. Tôi bảo ông Đặng Đình Hưng đấy. Anh vỗ trán kêu lên, “À, cháu biết ông Hưng đấy rồi. Cháu chỉ nghe ông ấy chôn bên Chúc Sơn chứ không biết đích xác nơi nào. Để cháu hỏi cánh họ Đặng bên Thị Giang chắc có người biết.” Anh rút máy điện thoại di động ra nháy nhưng không có người trả lời. Hình ảnh anh nông dân đứng giữa cánh đồng áp vào tai cái máy di động trông cũng hay hay; các hãng điện thoại nên lấy hình ảnh này làm mẫu quảng cáo; trông nó ngộ nghĩnh nhưng độc đáo và “ấn tượng” hơn các cô người mẫu tuy xinh đẹp nhưng vô cảm đến độ trơ trẽn kia nhiều. Mẹ tôi và ông Hưng là anh em con cô con bác. Tôi không hề biết ông là người trong họ cho đến khi tôi về nước lần đầu được ông Đặng Đình Áng (em ông Hưng) tặng hai tập thơ của ông. Ô Mai. Bến Lạ. (Lần nào về Sài Gòn tôi cũng đến thăm ông Áng. Với ông Áng tôi có sự kính trọng và biết ơn đặc biệt. Kính trọng bởi ông là nhà Toán học số một của Việt Nam và bởi phong cách nhà giáo suốt đời hi sinh tận tụy của ông; biết ơn bởi chính ông là người đã bốc tôi sang Mĩ du học năm tôi mười tám tuổi, lúc đó ông đang là giáo sư thỉnh giảng tại Đại học bang Utah, Mĩ quốc.)
Làng có ba dòng họ lớn. Họ Trịnh đông đúc nhất nhưng cũng nghèo khổ nhất, con cháu ít ai “thoát li”, có nghĩa là suốt mấy đời vẫn phải rúc lại trong làng cày sâu cuốc bẫm kiếm miếng ăn. Trong số những ông anh họ tôi, có người ngoài bảy mươi vẫn sáng sáng đi chăn bò. Họ Tạ tuy ít người hơn nhưng mấy đời giàu có, ruộng cò bay thẳng cánh, nhưng lại bị “đấu” tơi tả trong vụ cải cách ruộng đất, con cháu đa phần di cư vào Nam từ năm năm tư và bây giờ sinh sống nơi nước ngoài. Họ Đặng nhiều người đỗ đạt làm quan, nổi tiếng trong thời phong kiến cũng như thời bây giờ. Cũng như rất nhiều người khác trong làng, trong người tôi có gien của cả ba dòng họ đó.
Không tìm ra mộ ông Hưng, chúng tôi tiếp tục đi vào Tốt Động. Phong cảnh nơi đây có phần tiêu tao, trầm mặc hơn. Vẫn những con đường nhỏ hẹp quanh co, vẫn những ngôi nhà ba gian rêu phong ẩm mục, vẫn những bức tường đá ong trần trụi lở lói, vẫn những ngôi nhà thờ họ u uẩn khói hương, nhưng không gian trong này dường như được ấp ủ bởi cái gì huyễn hoặc, kì bí.

Hay chỉ mình tôi thấy vậy?
Tốt Động. Chúc Động. Yên Duyệt. Ninh Giang. Những địa danh vang danh trong lịch sử với trận đánh lừng lẫy làm nên sự nghiệp cứu nước của Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Sử sách ghi vậy. “Ninh Kiều máu chảy thành sông, hôi tanh muôn dặm. Tốt Động thây phơi đầy nội, thối để nghìn thu” Bình Ngô Đại Cáo còn đó rành rành. Bài phú Núi Chí Linh cũng nói: “Trận Ninh Kiều như ổ kiến làm đê vỡ, Trận Tốt Động như gió mạnh gãy cành cây.” (Ninh Kiều là tên cũ của Chúc Động, theo chỗ tôi biết.) Đứng đây nhìn ra cánh đồng, một vùng chiêm trũng lầy lội, tôi không biết chỗ nào Trần Hiệp bị dáo đâm thủng bụng, chỗ nào Lí Lượng bị chém rơi đầu, chỗ nào Vương Thông bị tên cắm vào sườn trọng thương. Tôi cũng chẳng thấy nơi đâu dấu tích chiến luỹ nghĩa quân đắp để chống lại cả chục vạn quân Minh. Chiến trường khốc liệt. Máu chảy. Đầu rơi. Tiếng thét xung phong. Sát. Sát. Hàng vạn gươm dáo vung lên. Tên bay rợp trời. Tiếng người rú. Tiếng chiêng. Tiếng trống. Tiếng ngựa hí. Tiếng voi rống. Quân lính hai bên quần thảo, đâm chém nhau túi bụi trên những nương ruộng mạ xanh màu. Tôi thả hồn về khoảng thời gian cách đây hơn năm trăm năm thử xem trí tưởng tượng dẫn dắt mình đến đâu. Cũng vào mùa này, tháng mười Âm lịch, năm vạn xác quân Minh phơi thây trên đồng nội. Năm vạn xác người bỏ lại nơi đây. Hình ảnh thật khủng khiếp. Thế còn quân ta thì sao? Quân ta bao nhiêu người chết? Sao không thấy sử sách nào ghi lại chi tiết này nhỉ? Chẳng lẽ “quân ta hoàn toàn vô sự?” Chắc thế, như bài hát tôi và lũ trẻ trong xóm hay hát thuở tôi còn ấu thơ: “Muôn tâu bệ hạ. Trận đánh hôm qua. Quân ta toàn thắng. Quân địch toàn thua. Quân địch chết ba. Quân ta chết hết!”
Bất giác tôi mỉm cười. Sử cũng cười theo dù anh chẳng hiểu vì sao tôi cười. Khuôn mặt dày dạn nắng mưa của anh bỗng nhiên rạng rỡ hẳn lên vì khi cười hai mắt anh cũng cười. Tôi hỏi Sử: “Có bao giờ ở đây người ta diễn lại trận đánh Tốt Động không hả cháu?” Sử lõ mắt nhìn tôi. Ánh mắt anh cho tôi biết anh chẳng hiểu tôi đang nói cái giống gì. Câu hỏi của tôi ngớ ngẩn thật, anh chẳng hiểu tôi nói gì là phải. Tôi chợt nhớ ra tôi là kẻ không có quá khứ. Không có quá khứ nên khao khát tìm kiếm quá khứ. Bất Tri. Hoài Hương. Cặp phạm trù Kundera dùng để lí giải nỗi đau của kẻ không biết gì. Vâng, xin lỗi cháu Sử, chú làm cháu ngỡ ngàng. Cháu đâu cần biết những điều chú đang tìm kiếm. Quá khứ mấy nghìn năm nơi đây đậm đặc đến độ người ta có thể sờ mó nó được. Nó kết tinh thành con người nông dân là cháu. Quá khứ là cháu. Mảnh đất này là cháu. Xương thịt. Mồ hôi. Cả máu nữa. Máu nhiều lắm. Nhiều như dòng sông ngoài kia. Dòng sông mang tên Đỏ. Đỏ như máu.
6.

Làng nào cũng có ngôi đình dùng làm nơi thờ cúng Thành Hoàng. Điều này nhờ đọc Toan Ánh tôi cũng biết, bạn không cần phải nhắc. Đình làng tôi to lắm, trông như cái chùa, kiến trúc cổ, sân lót gạch rộng thênh thang.
Đêm đó chú Ba về đốt đình. Mãi đến năm chín hai làng quyên góp đủ tiền đại tu mới được khang trang như bây giờ.” Anh Tùng bảo tôi.
Tôi giật mình. Chú Ba anh nói đây chính là bố tôi. Bố tôi đốt đình làng? Có chuyện đó nữa sao?

Buổi sáng trời thanh thanh. Anh Tùng, ông anh họ, kéo tôi đi ăn phở ngoài chợ Quảng Bị. Phở không ngon như phở Hà Nội, nhưng dễ dàng ăn đứt phở Cali mà giá tiền chỉ có năm nghìn một tô. Quán bé lắm, vỏn vẹn ba cái bàn gỗ tạp và lỏng chỏng mấy cái ghế đẩu bằng nhựa. Hai tô phở bưng lên nghi ngút khói, thơm lừng. Quán chỉ có hai người khách là anh em chúng tôi. Tôi xin cô chủ quán mấy múi chanh. Cô biết tôi người nước ngoài về, nhìn tôi mỉm cười rồi đem ra một đĩa quất. Thấy đĩa quất, mắt tôi như sáng lên. Bingo! Cô đâu ngờ tôi là người thèm ăn quất như trẻ con thèm kẹo. Ở Cali, gần Tết, đến chơi nhà Cao Xuân Huy, lần nào cũng thế, mắt trước mắt sau thấy không có ai là tôi thò tay vặt trộm cây quất quý của chị Huy trồng ngoài vườn sau. Tôi ăn quất như người ta ăn nho, bỏ vào miệng từng trái nhai rau ráu rồi nuốt cả vỏ, không ngừng cho đến khi hết quất hoặc hết thèm mới thôi. Quất càng chua tôi càng đã. Tôi thèm của chua như đàn bà có thai ba tháng. Nhưng đó là chuyện Cali với những trái quất bụ bẫm, to mập, vàng ươm của chị Huy. (Cái gì bên Mĩ cũng to mập.) Còn chuyện ở đây là những trái quất be bé nửa xanh nửa vàng nhưng ăn vào vị chua thanh nhẹ khiến lòng tê tái như vừa chạm lưỡi người yêu. Ăn xong tô phở tôi tráng miệng bằng đĩa quất. Cô chủ quán thấy vậy, quày quả vào bếp gói một gói to tướng bảo tôi đem về ăn tiếp. Tôi cám ơn cô, móc túi ra tờ năm nghìn nhưng cô không nhận.
Từ quán phở ra, anh em lững thững tản bộ về phía đình làng. Phố chợ buổi sáng có phần nhộn nhịp, người mua kẻ bán tấp nập, xe máy chạy táo tác phóng vèo vèo qua mặt xe công nông xình xịch lề mề, ôtô bóp còi inh ỏi. Anh Tùng năm nay đã ngoài bảy mươi, trông anh có vẻ là người nhàn nhã nhất làng. Anh khoe anh có đến hai khoản lương hưu, một quân đội, một giáo dục, bởi sau khi ở quân đội phục viên về, anh làm giáo viên cấp hai dạy học ở trường huyện thời gian khá lâu.
Anh em đi bộ quanh sân đình và anh kể tôi nghe về bố tôi.
Hình như tôi chẳng biết tí gì về bố tôi. Từ khi bắt đầu có chút ít ý thức về đời sống, tôi chỉ biết bố tôi là người nghiêm khắc với con cái trong nhà và có đời sống yên lặng, gần như an phận thủ thường. Lúc đó gia đình tôi đã tạm ổn định trong ngôi nhà mà bây giờ vẫn còn ở Sài Gòn. Ông ít giao du, ít nói năng. Bạn bè ông tôi biết có mình chú Thụt. Chú tên Thục nhưng khi di cư vào Nam năm năm tư phải làm lại giấy tờ, anh thư kí người Nam tự ý sửa tên chú lại theo cách đánh vần mà anh cho ta cho là đúng. Lâu lâu chú Thụt đến nhà tôi chơi. Mỗi lần như thế, tôi thấy bố tôi là con người khác. Ông linh động hẳn lên, ăn nói huyên thiên. Ông và chú Thụt ngồi nói chuyện với nhau cả buổi. Tôi nghe chẳng hiểu gì mấy, nhưng tôi đoán hai người đang ôn lại những chuyện cũ, những kỉ niệm ngoài Bắc thời trước khi di cư. Với tôi ông chẳng bao giờ nói gì về con người ông, về thời gian trước khi tôi ra đời. Năm bốn mươi tuổi ông mới có tôi. Giữa tôi và chị tôi là khoảng cách mười hai năm. Mười tám tuổi tôi lên đường du học và cứ thế, cho đến ngày ông mất, tôi vẫn chẳng hay biết gì nhiều về người cha sinh thành ra mình.
“Tối hôm đó chú dẫn hơn chục du kích về đốt đình vì trước đó mấy hôm bọn Tây về chiếm đình làm bản doanh.”
Chẳng biết có thằng Tây nào bị giết trong trận đánh “hoả công” lừng lẫy nhất làng đó không nhưng chỉ biết là ngày hôm sau Tây “Ba giăng” túa vào làng càn quét giết không biết bao nhiêu người, đốt không biết bao nhiêu ngôi nhà và bố tôi phải bỏ trốn một mạch lên Việt Bắc. Mười năm sau ông mới xuất hiện lại tại ngưỡng cửa nhà tôi. Ông về giữa đêm khuya và dặn kĩ mẹ tôi không được cho ai hay biết, kể cả anh em trong gia đình. Ông về nhà hai ngày, nghỉ ngơi lấy lại sức xong lại tất tả thu vén ít tư trang rồi lén lút đưa mẹ và chị tôi ra Hà Nội. Ngoài Hà Nội, ông còn nhiều bạn bè vì trước kháng chiến ông dạy học tại trường Bách Nghệ. Ông bảo mẹ tôi ông bỏ kháng chiến dinh Tê và ông không thể ở quê được vì ở quê mạng sống ông có thể bị lấy đi bất cứ lúc nào. Sau đó là đấu tố và làng tôi tơi tả.
Câu chuyện gia đình tôi có lẽ cũng là chuyện gia đình bạn nếu bạn sinh sống ở Bắc thời gian đó. Cơn lốc lịch sử tàn bạo đó chẳng chừa một ai.
Anh Tùng nắm tay tôi. Tôi thấy mắt anh như ươn ướt. Không, chẳng phải nước mắt đâu. Mắt dân trong làng đều thế. Mắt toét đấy mà. Sự đau đớn nơi họ chẳng còn chỗ cho nước mắt nữa. Họ chẳng bao giờ khóc bởi nước mắt từ lâu đã khô kiệt trong hai hốc mắt họ rồi.
7.

Luỹ tre xanh. Biểu tượng thân thương! Nói đến làng quê, không thể không nói đến lũy tre. Bút mực, ống kính, cọ màu đã tuôn ra không biết bao nhiêu hình tượng đẹp đẽ, cao quý để ca ngợi nét đẹp tiêu biểu này của làng quê Việt Nam. Trí óc tôi tích lũy, in đậm hình ảnh đó. Cho đến ngày tôi về làng. “Đéo mẹ! Chúng nó đẵn đem bán sạch rồi còn đâu!” Một ông anh họ bảo tôi vậy khi tôi hỏi anh câu hỏi hết sức ngớ ngẩn, “Sao em thấy trong làng chẳng có bụi tre nào cả.” Chúng nó là ai? Có lẽ là người trong dòng tộc, họ hàng tôi thôi.
Biểu tượng. Chà, cái này mới khó đây. Quanh chúng ta, chỗ nào cũng thấy biểu tượng. Chúng ta dường như ai cũng sống vì biểu tượng, cho biểu tượng. Thậm chí, đôi khi còn hi sinh mạng sống quý giá cho biểu tượng. Lá cờ cũng chỉ là biểu tượng mà thôi. Đụng đến cái chết, biểu tượng trở nên thiêng liêng như ngọn lửa trí huệ đưa chúng ta ra khỏi cõi u mê. Hay sáng quắc như ngọn đèn pha một nghìn nến khiến chúng ta trở nên mù loà có hành vi như kẻ cuồng tín, điên rồ?


“Ý nghĩa của sự vật không nằm ở chính sự vật mà ở thái độ của chúng ta đối với sự vật.”

Câu nói của Saint-Exupéry tôi còn nhớ. Cám ơn ông nhà văn tôi hâm mộ từ thời Trung học; xin mượn câu nói của ông để bênh vực cho lũ con cháu trẻ người non dạ. “Mấy bụi tre vô tích sự thì để làm gì. Thời buổi kinh tế thị trường, cái gì có lợi thì làm thôi. Ối dào ôi! Biểu với chả tượng. Thôi! Cho con xin đi ông ơi. Chỉ khổ vợ khổ con chứ phỏng có ích lợi gì.”
8.

Sau bữa cơm tối, mọi người trong nhà ra ngồi cả ngoài hàng hiên nói chuyện vãn. Trời hôm đó đứng gió, hơi oi bức. Qua khoảng sân rộng là hai cây hồng xiêm đang có quả chín. Ăn cơm với rau muống luộc và đậu phụ rán, no cứng bụng mà tôi vẫn còn sức “quất” thêm hai cái bánh rán và quả hồng xiêm. Bấy giờ tôi mới có dịp nói chuyện với Mân. Cô là con gái đầu lòng của thím Tư, hơn tôi đúng bốn tuổi. Cô lấy chồng được một năm, đang mang thai thì chồng phải vào Nam chiến đấu. Anh chết mất xác trong đó và cho đến bây giờ vẫn chưa mang được hài cốt về làng.
“Thế cô đã tìm ra nơi họ vùi xác chú ấy chưa?”
“Rồi anh ạ. Thầy dẫn em đi. Chỉ một chuyến là tìm ra.” Cô bảo tôi.
“Thầy? Thầy gì?” Tôi thắc mắc hỏi lại.
“Thầy . . . đấy anh.” Cô lúng túng, không biết gọi tên ông thầy là gì cho ổn nhưng rồi cô làm ra vẻ thành thạo. “Thầy giúp khối người rồi đấy. Có người tốn bao công lao tiền của vào mấy đận mà vẫn không tìm ra hài cốt chồng, thế mà nhờ thầy dẫn đi ngay lần đầu là tìm ra ngay. Chuyến em đi với thầy, đến gần bãi, ông đốt hương rồi nhắm mắt khấn vái có năm phút là chỉ đúng ngay chỗ chôn chồng em.”
Tôi trầm ngâm suy nghĩ. Ở Việt Nam có nhiều ngành nghề không biết gọi là gì và không hề được định nghĩa trong bất cứ sách vở Kinh tế học nào trên thế giới, như cái nghề tìm hài cốt của ông thầy cúng nào đó giúp cô em họ tôi đi tìm xác chồng. Tôi định nói gì đó với Mân nhưng chưa biết phải ướm lời ra sao. “Này! Tôi bảo cho mà biết. Cậu đừng khinh thường chúng tôi như thế chứ! Chúng tôi là những nhà ngoại cảm được trời phú cho giác quan thứ sáu trông thấy người cõi âm. Người phàm mắt thịt như cậu có căng rách mắt ra cũng chẳng thấy đâu. Cậu có câm cái mồm lại cho chúng tôi hành sự không nào.” Tôi có cảm tưởng ông thầy của Mân đang mắng mỏ nhiếc móc tôi như vậy. A, nhà ngoại cảm. Cái tên hay thật. Như nhà ngoại giao, nhà văn, nhà thơ, nhà báo. Các “nhà” đều có tên gọi cực kì trang trọng; càng trang trọng càng nói phét hay, càng giỏi mê hoặc lòng người. Cả tỉ tỉ con chữ ngày ngày lúc nhúc chui ra từ những “nhà” này để lung lạc con người, biến con người thành thứ rô-bô chỉ biết cúi đầu vâng dạ và răm rắp tuân thủ. Vâng, thưa ông, tôi sẽ im cái mồm tôi cho ông hành sự mặc dù tôi biết ông chỉ là tên bất lương làm tiền trên lòng mê tín hay nhẹ dạ, cả tin của những người đàn bà khốn khổ có chồng liệt sĩ như em tôi. Thật thế, tôi chẳng thể nào nói ra điều tôi nghĩ với Mân. Cô đang một lòng một dạ tin tưởng vào lời “nhà ngoại cảm” bảo cô sơm sớm lo liệu đưa hài cốt chồng về làng, bởi anh ấy nói với ông là anh ấy nhớ quê lắm, anh ấy nhớ vợ nhớ con, mặc dù anh chưa bao giờ thấy mặt con gái, bây giờ lại có cả cháu nữa, hai đứa cháu ngoan ngoãn học hành giỏi giang. Bằng mọi giá thôi. Bằng mọi giá cô phải đưa anh về làng. Tôi im lặng ngồi nghe cô kể, thấy xót thầm trong dạ mà chẳng biết nói gì. Suốt cuộc đời, hi vọng là liều thuốc bổ nhiệm màu giúp cô sống tới; tôi không có quyền xen vào giật mất liều thuốc đó của cô.
9.

Tôi đi bộ một mình xuống xóm Vực. Chẳng hiểu vì sao xóm có tên như vậy, cũng như vì sao làng Tốt Động có tên nôm là làng Rét. Xóm nằm ở cuối làng, đằng sau là ao cá rộng mênh mông tiếp giáp với cánh đồng.
Tôi tìm nhà không khó. Cứ hỏi bất cứ người nào quanh đó là sẽ được ân cần đưa vào tận ngõ.
Đây có phải là nhà bà Phấn không cháu?” Tôi hỏi đứa bé gái trạc mười lăm mười sáu tuổi đang ngồi chẻ rau muống ngoài hàng hiên. Hai rổ rau muống to lắm, tôi đoán để đem ra chợ bán.
“Thưa bác phải ạ. Mời bác vào nhà. Bác đến thăm bà cháu?” Cô gái đứng dậy đon đả mời tôi vào nhà.
Hai con chó xông ra sủa vang nhưng thoắt cái lủi đi nhanh cũng không kém. Tôi vào nhà. Sự nghèo đói như phả vào mặt tôi. Tôi đoán cô Phấn là người đàn bà già nua đang nằm thiêm thiếp trên cái phản cũ kĩ phía trái gian nhà ngoài, chăn bông đắp kín lên tận cổ mặc dù thời tiết bên ngoài còn ấm áp lắm.
“Bà cháu tưởng đi rồi đấy bác ạ. May quá tuần trước bố cháu lên phố Hà Đông thuê được cái bình ốc-xy, thế là bà cháu lại tỉnh dậy. Sáng nay còn ăn được bát cháo nữa.” Cô gái vừa pha trà mời tôi vừa nói.
Tôi hớp ngụm trà mạn Thái Nguyên nóng hôi hổi đắng chát rồi bước lại phản ngồi xuống bên cạnh người đàn bà đang nằm chờ chết. Cuối cùng tôi nhìn thấy tận mắt người đàn bà đã khiến cậu tôi sống suốt cuộc đời trong nỗi dằn vặt khôn nguôi. Bà sắp chết nhưng tôi vẫn nhìn ra nét đẹp phảng phất trên mặt bà dù thời gian và nỗi khổ đã làm khuôn mặt kia trở nên rúm ró đến tang thương.
Thuở bé tôi hay nghe mẹ tôi kể chuyện cô Phấn. Bà kể nhiều lần, lần nào cũng lặp đi lặp lại câu chuyện giống nhau. Cô đẹp nhất làng thuở đó. Đã đẹp lại còn có học, một ngoại lệ hiếm hoi. Mẹ tôi bảo cô học đến “đíp-lôm”. Cô còn biết làm thơ. Con gái họ Đặng làng mình từ ngày xửa ngày xưa đến giờ đều có máu thơ văn trong người. Mẹ tôi bảo vậy. Cô cũng “tân thời” lắm. Trong lúc đàn bà con gái trong làng còn mặc áo tứ thân, đầu chít khăn mỏ quạ hoặc áo cánh nâu, quần thâm, khăn vuông thì cô đã “phi-dê” tóc và mặc áo dài Le Mur gì đó. Cô là người như thế nên cô và cậu tôi yêu nhau là chuyện chẳng có gì ngạc nhiên. Cậu tôi con nhà giàu, được ăn học từ tấm bé, lịch lãm, thông minh. Cuộc tình đẹp tưởng như chỉ có trong tiểu thuyết. Bố cô, một ông Cử văn hay chữ tốt, và ông ngoại tôi, cụ Chánh Tổng giàu có nhất làng, đều là chỗ đồng liêu. Mọi chuyện tưởng như có bàn tay trời sắp xếp. Nhưng đùng một cái là cải cách ruộng đất và gia đình ông ngoại tôi mất trắng toàn bộ dinh cơ sản nghiệp mấy đời ông cha để lại và phải bồng bế nhau di cư vào Nam. Gia đình cô Phấn cũng bị đấu tố tơi tả. Lúc ra đi, cậu tôi và cô vẫn chưa chính thức là vợ chồng, cậu tôi xin gia đình cho cô đi theo nhưng không hiểu sao cô không đi và ở lại tức là nhận lãnh không biết bao nhiêu nỗi tân khổ đổ ập lên đầu, kể cả bị ép lấy anh tá điền xấu xí dốt đặc cán mai.
Suốt đời cậu tôi sống trong ân hận.
Người đàn bà vẫn nằm thiêm thiếp, hơi thở nặng nề. Mắt bà có lúc mở ra nhìn tôi nhưng vô hồn lắm. Tôi biết đó là mắt người sắp chết. Tôi đứng lên chào cô gái ra về. Không cần đợi tôi ra khuất ngõ, cô ngồi xuống với hai rổ rau muống, cắm cúi thoăn thoắt chẻ. Rất tiếc cô không có nét nào của bà cô cả. Chắc cô giống bố nhiều hơn, tức là giống ông cô, anh tá điền xấu xí nhưng nhờ chính sách sáng suốt đầy ắp công lí của Đảng và Nhà Nước lúc đó lấy được cô vợ đẹp. Cái xấu trên mặt anh truyền đến đời cô cháu gái. Cái xấu mạnh lắm. Nó vẫn mạnh mẽ ngự trị thế gian này.
Đó là hôm cuối cùng tôi ở trong làng. Sáng mai cháu Huy lại đánh ôtô đưa tôi ra Hà Nội để từ đó mười một giờ đêm tôi ra ga Hàng Cỏ đón chuyến tàu Thống Nhất xuôi Nam, lên máy bay về lại Mĩ.
10.

Từ nhà cô Phấn ra tôi chưa về nhà thím Tư ngay mà rẽ vào ngôi trường Tiểu học. Trước đây, dưới thời bao cấp, nó là trụ sở hợp tác xã. Trước nữa, nó là nhà tôi. Đúng ra chỉ có cái nền là nhà tôi, đất đai của bố mẹ tôi do cha ông để lại.
Tôi vào sân trường. Sân rộng lắm, vuông vức, dễ đến ba mươi thước mỗi bề. Lớp học vắng tanh. Cái sân trống hoang trống hoác; không một món đồ chơi trẻ con dù đây là trường Tiểu học, không xích đu, không cầu tuột, cây cối cũng không nhiều. Sự trống vắng sao buồn thảm đến lạ lùng. Như phủ trùm cả thế gian. Chỉ vài hôm nữa cô Phấn sẽ mất. Cậu tôi cũng không còn. Ông chết vài tháng sau khi người nhà khiêng ông từ trại cải tạo về. Bố mẹ tôi cũng lần lượt qua đời. Tôi nghĩ đến những người thân của tôi. Cuộc sống họ sao trầm luân đến thế. Nhưng họ vẫn sống; sống không ta thán, không kêu ca. Từ họ, tôi nhìn ra một điều là chỉ cần sống cho trọn kiếp thôi đã là hành vi phi thường rồi. Họ không cần làm anh hùng. Họ không cần đứng lên cứu dân cứu nước. Họ không cần được sử sách ghi danh. Họ chỉ cần sống.
Đầu óc tôi lại lởn vởn câu thơ của Boris Pasternak, “Sống cho trọn kiếp nào phải trò trẻ con.” Vâng, cảm ơn nhà thơ vĩ đại của nhân loại, tôi cũng chỉ cần sống sao cho trọn kiếp.
11.

Tôi chẳng hề có ý định điên rồ làm ra vẻ ta đây hiểu biết rành rọt về ngôi làng tổ tiên tôi góp sức vun trồng từ cái thời xa xăm đó. Chẳng có gì lố bịch hơn. Vài ngày sống trong làng, sinh hoạt với người trên kẻ dưới, ăn uống chung đụng, tôi vẫn là kẻ lạ. Muôn đời tôi là kẻ lạ. Tôi vẫn chẳng biết gì về ngôi làng. Khởi đi là bài kí, nhưng càng viết tôi càng thấy nó giống như tự truyện. Phải rồi, tự truyện của kẻ đi tìm quá khứ. Như tôi nói, tôi là kẻ không sở hữu quá khứ nên khao khát đi tìm kiếm quá khứ. Nhưng quá khứ vây khổn tôi vào giữa. Nó làm tôi nghẹt thở. Nó trói tôi bằng sợi dây chảo vô hình nhưng vô cùng chắc chắn; và tôi vô phương cục cựa.

Tôi biết tôi sẽ chẳng bao giờ thoát khỏi vòng vây đó.
Nhưng để làm gì? Tôi có trở về quá khứ được đâu? Hay là tôi giống như nhân vật Irena trong Bất Tri của Kundera, trở về để vẽ lại quá khứ và bởi thế càng hoang mang, càng lạc lõng, càng trở thành kẻ lạ. Đoạn kết quyển truyện, Irena theo người tình lên phòng khách sạn làm tình. Làm tình xong, gã bảo gã không yêu cô. Với gã, quá khứ nhẹ tênh, khác hẳn cái nặng trĩu đang đè lên tâm tư Irena. Nặng/Nhẹ. Cặp phạm trù này đeo đẳng Kundera suốt văn nghiệp ông. Nó như biến tấu riết róng day trở mãi trong nỗi ám ảnh khôn nguôi. Thế rồi giữa cơn tuyệt vọng chán chường, Irena bật lên khóc mùi mẫn; khóc đến lúc mệt lả người thì cô lăn ra ngủ. Cô ngủ mê mệt đến nỗi gã tình nhân bạc bẽo đứng dậy mặc quần áo bỏ đi mà vẫn không hay biết. Trước khi đi, gã trân trối nhìn cô lần cuối. Cô nằm đó, hơi thở dồn dập trong giấc ngủ nặng nề. Tênh hênh. Trần truồng. Hai chân dạng ra. Gã nhìn người đàn bà, nhìn thẳng vào phần da thịt diện tích nhỏ xíu mà có đến bốn chức năng—kích thích, giao hợp, truyền giống và tiểu tiện—của cô; gã thấy lòng dửng dưng vô cảm đến độ lạ lùng. Thế rồi gã bỏ đi.
Một nửa tôi giống Irena; nửa kia giống gã tình nhân đó. Một hôm tôi đến. Một hôm tôi bỏ đi.

 

 

bài đã đăng của Trịnh Y Thư


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch