Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 16, Dịch Thuật, Nhận Định, Sang Việt ngữ Email bài này

Wole Soyinka

Trần Đức Tài chuyển ngữ

Trong số những nhà văn đương đại lớn nhất châu Phi có Wole Soyinka. Ông cũng là một trong những nhà cổ xúy văn hóa bản địa giàu tưởng tượng nhất của lục địa này cùng cái trật tự xã hội nhân văn tiêu biểu của nó. Ra đời ở Tây Nigeria năm 1934, Soyinka lớn lên trong khu truyền giáo Anglican ở Aké. Là một học sinh sớm có tư chất, Soyinka lúc đầu theo học trường tiểu học của nhà dòng nơi bố anh làm hiệu trưởng, sau đó chuyển sang trường trung học ở Abeokuta nơi hiệu trưởng lại là một ông chú. Tuy được nuôi dưỡng trong môi trường thuộc địa nói tiếng Anh, di sản sắc tộc của Soyinka lại là Yoruba, và cha mẹ anh luôn giữ cân bẳng giữa nền giáo dục Ki-tô-giáo với việc thăm viếng quê hương của người cha ở `Isarà – một cộng đồng Yoruba nhỏ luôn bám giữ lấy truyền thống.

Soyinka hồi tưởng lại thế giới của cha mình trong cuốn `Isarà, A Voyage Around “Essay” (tạm dịch: `Isarà Du Ký — 1989) và thuật lại thưở đầu đời của mình trong cuốn Aké: The Years of Childhood (Aké: Những năm thơ ấu — 1981), hai trong nhiều cuốn tự truyện của ông. Aké kết thúc năm 1945 khi Soyinka 11 tuổi với việc anh gia nhập phong trào phản kháng mà sau này trong vòng một thập niên nữa sẽ giành lại tự do cho Nigeria từ ách thống trị của Anh. Những năm tháng bất ổn chính trị đã định hình tuổi niên thiếu và thanh xuân ấy của Soyinka được ông ghi lại trong cuốn tự truyện xuất bản gần đây nhất năm 1994, Ibadan, The Penkelemes Years, A Memoir: 1946-1965 (Ibadan, những năm dưới thời Penkelemes, Hồi ký 1946-1965).

Mười hai tuổi, Soyinka rời Aké lên Ibadan theo học trường Government College ưu tú của thành phố này và đến 18 tuổi vào đại học mới thành lập ở đây. Nhưng năm 1954, anh lại tập trung tham vọng vào sự nghiệp sân khấu. Soyinka sang Anh để hoàn tất bằng cử nhân kịch nghệ ở Leeds với chuyên gia phê bình Shakespeare nổi tiếng G. Wilson Knight. Sau khi tốt nghiệp năm 1957, Soyinka kéo dài giai đoạn rèn nghề ở châu Âu bằng cách làm việc nhiều năm tại nhà hát Royal Court Theatre ở London với đủ công việc từ đọc kịch bản, diễn viên cho tới đạo diễn. Đây cũng là thời kỳ Soyinka sáng tác những vở kịch đầu tiên chín mùi tài năng như The Swamp Dwellers (Những cư dân đầm lầy) và The Lion and the Jewel (Sư tử và châu báu) và dàn dựng thành công ở cả London lẫn Ibadan. Năm 1960, nhờ quỹ tài trợ nghiên cứu Rockefeller, Soyinka lúc này đã 26 tuổi có thể quay về Nigeria. Tại đây ông lập ra đoàn kịch riêng, sản xuất một vở mới, A Dance of the Forests (Vũ điệu của rừng), và định thời gian công diễn đúng vào dịp nước này chính thức chào mừng độc lập vào tháng Mười.

Tuy việc Soyinka từ Anh trở về được khắp nơi chào đón, vở A Dance of the Forests lập tức khiến ông xung khắc với những nhà lãnh đạo mới cầm quyền Nigeria cũng như nhiều bạn hữu trong giới trí thức. Về mặt chủ đề, vở kịch thể hiện một hoạt cảnh “chu kỳ tái diễn của những trò ngu độn” của châu Phi đen, một màn trình diễn được thiết kế để nhắc nhở các công dân đến thói bất lương và trò lạm dụng quyền lực kinh niên mà chủ nghĩa thực dân đã nuôi dưỡng qua nhiều thế hệ chính khách bản địa. Về mặt phong cách, A Dance of the Forests là một hỗn hợp phức tạp của những truyền thống lễ hội Yoruba với chủ nghĩa hiện đại châu Âu. Vở kịch được chào đón bằng lòng thù địch từ mọi phía. Giới chức quyền Nigeria thì nổi giận với những ám chỉ của Soyinka về nạn tham nhũng tràn lan, cánh tả thì ta thán về khuynh hướng thẩm mỹ ưu tuyển, còn phe xô-vanh châu Phi – những kẻ ủng hộ văn hóa da đen thuần chủng mà Soyinka đặt tên là “bọn theo chủ nghĩa Tarzan Mới” – lại phản bác cách ông sử dụng các kỹ thuật châu Âu.

Điều mà những người chỉ trích Soyinka không đánh giá được chính là tính sáng tạo cực độ trong phương cách ông giải phóng châu Phi đen thoát khỏi di sản què quặt của chủ nghĩa đế quốc châu Âu. Ông đã mường tượng ra một “Tân Phi Châu” sẽ thoát khỏi quá khứ thuộc địa bằng cách phối ghép những tiến bộ kỹ thuật của hiện tại với gốc rễ truyền thống cổ xưa của chính nó. Những huyền thoại bản địa, được tái cấu trúc cho phù hợp với hiện thực đương đại, chính là nền tảng của tương lai, mở ra đường hướng cho “phục hồi bản thể, quy tập và bảo toàn văn hóa”.

Từ bối cảnh này, những người chỉ trích A Dance of the Forests vô tình lại trở thành những kẻ thực dân mới, ý kiến của họ chỉ đơn thuần lập lại những huyền thoại đặc thù về chủ nghĩa tự do, Mac-xit, và chủ nghĩa phân biệt chủng tộc lạc hậu của chính phương Tây trong lớp y trang châu Phi. Soyinka thực ra lại mơ tưởng đến một lục địa thật sự thoát ách thực dân, nơi một nền văn hóa châu Phi tự trị chỉ dung nạp những yếu tố tiến bộ nào của lịch sử gần đây phù hợp bản sắc đích thực của chính nó.

Trong 7 năm sau đó, từ những công tác tại các đại học ở Ife, Lagos và Ibadan, Soyinka dốc hết sáng tạo và năng lực đeo đuổi những hy vọng cho một nước Nigeria tái sinh. Ông viết và đạo diễn nhiểu thể loại kịch, từ các hài kịch như The Trials of Brother Jero (Vụ án sư huynh Zero) – một vở nổi tiếng vạch trần những kẻ lang băm tôn giáo, cho tới một loạt bi kịch đầy tính chính trị, The Road (Con đường), The Strong Breed (Giống tốt), và Kongi’s Harvest (Vụ mùa của Kongi) – vở nào cũng xoay quanh vấn đề thế giới hiện đại đang chặn đứng các tập quán lễ nghi cổ truyền. Ngoài những vở kịch dài này, Soyinka còn sáng tác những vở kịch ngắn châm biếm đả kích, những “sân khấu du kích” ngẫu hứng và có tổ chức, và viết cho truyền thanh và truyền hình. Ông cũng xuất bản cuốn tiểu thuyết đầu tiên, The Interpreters (Những người phiên dịch — 1965), và tập thơ đầu tiên, Idanre and Other Poems (Idanre và những bài thơ khác — 1967).

Không những công khai thách thức giới chức quyền Nigeria qua phần lớn khối lượng tác phẩm đồ sộ này, bản thân Soyinka còn tham gia vào chính trị thực tế. Những hành động của ông đã dẫn đến một lần ngồi tù ngắn, một phiên tòa xử và được tha bổng vào năm 1965. Đến năm 1967 lại thêm những lần bắt giam không xét xử và cầm tù khác kéo dài hơn 2 năm, hầu hết đều là biệt giam. Soyinka thuật lại giai đoạn tổn thương này trong cuốn The Man Died (Người đã chết — 1972), một tác phẩm tự truyện khác của ông.

Sau khi được phóng thích năm 1969, Soyinka tự nguyện lưu vong và liền sau đó bước vào giai đoạn sáng tạo cao độ thứ hai. Trong số những tác phẩm nổi bật của giai đoạn này là tập thơ A Shuttle in the Crypt (Con thoi trong hầm mộ — 1972), một tiểu thuyết mới, Season of Anomy (Mùa loạn ly — 1973) – cả hai đều là những hồi tưởng cay đắng về những năm cấm cố của ông – các vở kịch đường phố châm biếm khác và, có lẽ quan trọng nhất, hai bi kịch phi thường, Madmen and Specialists (Những người điên và những chuyên gia — 1970) và Death and the King’s Horseman (Thần chết và kỵ sĩ của nhà vua — 1975).

Thêm vào cơn bùng nổ văn chương này, Soyinka diễn thuyết và viết tiểu luận về bản chất nghệ thuật của ông, vạch ra cội nguồn của nó từ trong truyền thống Yoruba, và đối chiếu những nguyên tắc và thực hành mỹ học của ông với các nhà văn khác của châu Phi lẫn châu Âu. Nhiều bài phê bình này được Soyinka nhuận sắc và xuất bản thành tập Myth, Literature and the African World (Huyền thoại, Văn chương và Thế giới châu Phi — 1976). Số còn lại phần lớn được ông tập hợp một thập niên sau thành cuốn Art, Dialogue & Outrage (Nghệ thuật, Đối thoại và Phẫn nộ — 1988). Nền tảng lịch sử chính trị làm náo động tư tưởng văn hóa của Soyinka trong hai tập sách này chính là chủ đề của cuốn The Open Sore of a Continent (Vết thương lở loét của một lục địa — 1996). Cuốn này lần theo bước suy tàn của Nigeria khi các chính quyền quân sự ngày càng vô nhân đạo, một sự băng hoại điển hình qua vụ xử tử kịch tác gia đồng nghiệp Ken Saro-Wiwa cũng như bằng chính bản án tử hình dành cho Soyinka năm 1997.

Với các độc giả Âu-Mỹ, ba cuốn sách ấy hợp thành một pho nhập môn tuyệt đối cần thiết để tìm hiểu nghệ thuật của Soyinka. Cái cốt lõi và cái dẫn dắt sứ mệnh nghệ thuật ấy nằm trong ý tưởng “cách mạng hữu cơ” (organic revolution) Soyinka dùng làm đối trọng với những thông lệ tân thực dân mà châu Phi đen hấp thu từ chủ nghĩa đế quốc châu Âu.

Như ông định nghĩa khái niệm này, cách mạng hữu cơ là một tiến trình hồi phục chung đạt được bằng những động lực tự lĩnh hội văn hóa có chia sẻ — những động lực mà phương cách và nội dung mang tính đặc thù theo từng xã hội. Cuộc cách mạng như thế vốn đã mang tính chất chu kỳ và cục bộ, theo Soyinka, những tính chất phù hợp với nền văn hóa châu Phi hơn là những lý thuyết mang tính cứu cánh toàn cầu của chủ nghĩa cộng sản Mác-xít hay là chủ nghĩa tư bản. Thực ra, phương thức giải phóng của Soyinka sau rốt cố gắng thay thế hoàn toàn lô-gic của chính trị học phương Tây bằng những nhịp điệu của lễ nghi bản địa. Vì cuộc cách mạng ấy, ông cổ xúy việc từ bỏ những khái niệm trừu tượng của cả chủ nghĩa duy vật biện chứng lẫn nền kinh tế thị trường để đổi lấy những đặc điểm cụ thể của nghi thức chữa trị những phân cách đang cô lập cá nhân với xã hội và cắt lìa cả hai không cho hòa nhập bền vững với thiên nhiên.

Đấng thần linh mà Soyinka đã đề nghị các nghi lễ là kiểu mẫu cho tiền trình hồi phục hữu cơ này chính là Ogun, vị thần đã liều mạng bắt cầu qua vực thẳm phân cách ba giai đoạn tồn tại của Yoruba – thế giới của tổ tiên, thế giới của những kẻ đang sống, và thế giới của những kẻ chưa ra đời. Ogun, theo huyền thoại mà Soyinka đã đọc, là vị thần độc đáo trong số các thần linh bộ lạc bởi vì vị thần này chẳng hề thoải mái trong cả ba trạng thái trải nghiệm đã được cấu trúc sẵn như thế. Thay vào đó, thế giới của Ogun chính là vùng hỗn mang chuyển tiếp giữa các giai đoạn – Soyinka gọi đó là “giai đoạn thứ tư” của vũ trụ Yoruba, một tình trạng mà các yếu tố đối nghịch xung đột không có cách nào giải quyết trong “một cái họng đe dọa của sức mạnh âm ty ngày càng há rộng ra để hủy diệt” mọi trật tự tự nhiên và xã hội. Hành trình anh hùng của Ogun vượt qua địa hạt này không những bảo tồn được những mối liên kết với tổ tiên, người sống và kẻ chưa sinh. Nó còn hồi sinh lại vũ trụ Yoruba bằng cách nhân từ bơm vào vũ trụ ấy những nguồn năng lượng mới mẻ từ giai đoạn thứ tư.

Kiểu mẫu cách mạng xã hội này về cơ bản là một kiểu khủng hoảng thường kỳ, nơi mà các thế lực mới lạ thường xuyên bị khống chế và hoà nhập vào ma trận của truyền thống và tập quán. Chính vì để thách thức cái khủng hoảng này mà Soyinka thực hiện nghệ thuật của ông, và chỉ trong bối cảnh này thì phong cách đặc trưng của ông mới đạt được ý nghĩa trọn vẹn. Nhưng một khi đã bộc lộ ra nền tảng của cuộc đối đầu giai đoạn thứ tư của Ogun thì cách Soyinka pha trộn nhiều thể loại đối nghịch, lối lập ngôn nước đôi đa nghĩa cố tình, những mâu thuẫn xung đột không được giải quyết của ông không còn là những lỗi lầm mỹ học mà các nhà phê bình phương tây thường dán nhãn nữa mà lại trở thành con đường đưa ta vào một hiện thực châu Phi tự thân thì dữ dội mà lại toát toả bản sắc cực kỳ độc đáo từ ngoài nhìn vào.

(c)1998, Stanford University

bài đã đăng của William McPheron


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch