Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Hai bài thơ / Two poems
Trang chính » Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 15, Sáng Tác, Song ngữ, Thơ Email bài này

Hai bài thơ / Two poems

In memoriam BRUCE KELLER[1]

A city is a citadel, a citadel is a soul [ancient], a soul
a theatre [rock].
Dreams invade and do what dreams do: the unexpected.
You once made school kids wait for Waiting for Godot
and now I wait for you
from an oval door cut through its crumpy, water-stained, old red velvet-curtain.
What would appear: a little dog, or the master of “winged-rats”?
All the pigeons in Potts Point know that you‘ve only joked in naming them so:
you loved them, substantially, like you do all residents of Potts Point, and the waters
and the watermarks.
One person etched into your childhood is your grandpa, you once said.
He had fished in his lone boat in the misty bay of Sydney while you sang with the avant-gardes.
Yes, water, more water, ever-more water
the dance of water on many rooftops.
After years of crappy weather
our landing in Hanoi was a welcome draught.
So we went (pilgrims, or beggars?).
The luggage is light. A respectable coat?
One would finally find it
at a secondhand or what the locals call “SIDA” shop.
You are too big for all coats.
Bruce! Bruce! They called your name
from many corners cut into Cơm Bụi (“hah! Rice &Dust”) street
as if annoucing a new theatre,
where props were lamps, echoes and fragments
of our meals half-eaten. Yes, they called,
as if you were one of the La Hán
who had skipped the permanent sit-in performance in a mountain pagoda
for a now promised new, more challenging act
acts that befit tigers and lions
& puppies and children (ie. huge and small cuts!),
The street sweepers next to us were no strangers.
These latenight comers, post-history, re-enactors,
like leper-poets: the whole history of a city
is in their raised dust-calligraphy-strokes.
We watched and meditated on the clean streets
and jotted down: After all, it’s in the hands.
That year, 1995, near Trần Hưng Đạo Street
when the city was offering its coffee like the last meal
you had already become one with the large trees,
a little fey rain, volumes of nocturnal mass,
the gig-lamps, dark water, ghosts, Molière’s and Chekov’s,
and the abandoned theatre (to this, we came a bit too late,
knocking at its door, only to realise the Apologies sign, the list of actors
and the writ-large “UNTIL FURTHER NOTICE”).
(from HEAT 10, New Series, 2005)

In Memoriam Bruce Keller
Một thành phố là một cấm thành, một cấm thành là một linh hồn [sơ cổ], một
linh hồn là một hí viện [rốc].
Những giấc mộng xâm chiếm và làm điều bất ngờ.
Anh từng bắt đám học trò chờ ở vở Trong Khi Chờ Godot
Bây giờ tới phiên ta chờ anh
Từ một chiếc cửa hình thoan cắt xuyên qua tấm màn nhung nhàu đỏ cũ, hoen, loang
lổ nước
Sẽ xuất hiện thứ gì: một gã chó con, hay một gã gia trưởng của bầy chuột có cánh?
Tất cả đám bồ câu ở Potts Point biết anh chỉ trêu khi xướng danh chúng như thế đấy:
anh bồ bịch cùng chúng, tới nơi tới chốn, như anh quen biết toàn thể cư dân
phố cổ này
yêu những hải phận
và những cột đo mực sâu hải cảng
khắc sâu vào thơ thiếu của anh, anh từng kể lại, là hình ảnh một người ông, một ngư phủ
một mình một con thuyền giữa Sydney vịnh cảng sương mù, trong khi anh ca hát cùng đám avant-garde.
Đúng vậy, nước, nước nữa, nước mãi mãi
điệu múa của nước trên bao nhiêu mái.
Sau những năm thời tiết nhớp nháp chẳng ra hồn
cú đáp xuống Hà Nội của chúng ta là một cơn hạn hán mong đợi.
Như thế chúng ta đã đi (khách hành hương, hay đại giả hành khất?)
Hành lý thì khơi khơi nhẹ. Một cái áo vét cho đứng đắn?
rồi sau cùng cũng tìm ra
ở một sạp bán áo quần cũ mà dân địa phương gọi là hàng si-đa.
Anh quả là quá khổ cho mọi cỡ áo.
Bruce! Bruce! Họ réo tên anh
từ nhiều góc đường cắt vào phố Cơm Bụi (ha! Cơm và Bụi)
làm như họ đang công bố một sân khấu mới
mà đạo cụ là đèn đường, vọng âm hàng phố và mảnh vỡ
của mấy bữa cơm đang ăn bỏ dở nửa chừng. Đúng thế, họ xướng danh anh
như thể anh đã được kếp nạp vào hàng ngũ La Hán
những bậc tài tử đã bỏ ngang cuộc trình diễn biểu tình ngồi bất động thiên thu
ở một chái chùa ẩn trong núi
để bắt đầu một hồi kịch hứa hẹn mới, có tính thách thức cao hơn
những hồi kịch xứng với cọp & sư tử
& chó con và trẻ nhỏ (nghĩa là những vết xước và những vết cắt không nhỏ)
Những công nhân quét đường sát cạnh chúng ta thực ra không xa lạ.
Những người xắn tay áo vào đêm muộn, hậu lịch sử, những người tái hiện
như những thi sĩ hủi: toàn bộ lịch sử
một thành phố
nằm trong những đường quyền phác chữ thảo dấy lên bụi của họ.
Chúng ta nhìn họ và quán tưởng những con đường làu sạch
và ghi xuống sổ tay: Sau rốt, tất cả
nằm ở
đôi tay
Năm ấy, 1995, một chỗ ở góc phố Trần Hưng Đạo
khi thành phố rót cà phê cho khách như là mời bữa ăn cuối cho tử tội
anh đã là một với hàng kiền đại lộ
với mưa rây, với khối khối đêm cùng
đèn lù mù chong, nước tối, ma mùa cũ, hồn Molière và Chekov
và những sân khấu đóng cửa ngang xương (khi chúng ta tìm tới
mua vé, đối diện cùng một bảng cáo lỗi,
nằm cạnh một danh sách diễn viên
đang va vưởng nơi đâu
mà lớn đập vào mắt là mấy chữ ĐÓNG CHƯA BIẾT KHI NÀO SẼ)
[tác giả chuyển ngữ, 2006]


They[2]

Nguyen Tien Hoang
soon will arrive, knock, on the bluestone slab
utter dropping – signs of excitement
thumping, groping, hidden
blackbirds in mating seasons
stained cranes that had burned into atomic
the whole lot in the fey rain
in the ash, fake
years, eleven exactly, there I was conceived
Saturn had done the gorging, Medea the sub
zeroing in, the falling
of whole house, Kabuki eruptions, knowledge,
namings, christenings, rites of wronging
the other, dedications, mementos as if
nothing had really
(from Best Australian Poems 2006, Black Inc, ed. Dorothy Porter)

Họ

sẽ đến, gõ đập, trên be đá xanh
phân thời gian cực kỳ – dấu hiệu của phấn khích
thùm thụp, sờ soạng, những thân sáo đen nấp náu
trong mùa động tình
những thân hạc vấy bẩn đã cháy thành nguyên tử
toàn bộ trong mưa rây
trong tro, những năm ngụy,
mười một năm, nói chính xác, thời điểm tôi được cấy thai
Saturn đã làm xong cuộc ăn sống, Medea người trầm mình
xong cuộc triệt gien, đổ sập toàn rạp
những tràng pháo tay Kabuki, cái biết,
những gọi tên, xin tên, những lễ thức gây ác hại
cho Kẻ Khác, những truy niệm và truy điệu
làm như không có gì
đã thực sự
[tác giả chuyển ngữ, 2006]

 


[1] Bruce Keller [1955 -2003] was best known for his 1985 children’s play PUPPY LOVE published by Currency Press in 1991, and still being performed nationally and internationally. In 1979, he was co-founder of Melbourne’s Anthill Theatre. After returning to Sydney in 1987, he worked as a performer, director, dramaturge and playwright, most notably in group devised work in contemporary theatre, and as a writer/director for theatre for young people throughout Australia. Beginning in 1991, he formed many cultural links with South East Asia – especially Vietnam. He was co-Artistic Director with Ta Duy Binh of Citymoon, the Vietnamese Australian Contemporary Theatre Company. He died in 2003.
Bruce Keller sinh năm 1955 tại Sydney, được biết tới nhiều nhất với vở kịch thiếu nhi PUPPY LOVE (Tình yêu chó con), NXB Currency xuất bản vào năm 1991, mà đến nay vẫn còn được diễn trên khắp nước Úc và nhiều sân khấu khác trên thế giới. Năm 1979 Bruce Keller cùng Jean Pierre Mignon sáng lập Anthill Theatre tại Melbourne. Sau khi trở lại Sydney vào năm 1987, Bruce Keller là diễn viên, đạo diễn, trông nom và viết kịch bản cho nhiều sân khấu, nhất là những sân khấu trẻ, hiện đại, và là một đạo diễn / kịch tác gia cho những sân khấu tuổi trẻ nhiều nơi tại Úc. Bắt đầu vào năm 1991, ông thành lập nhiều cầu nối văn hóa giữa Úc với Đông Nam Á – đặc biệt là Việt Nam . Bruce Keller chia xẻ vai trò giám đốc nghệ thuật với Tạ Duy Bình ở Công ty Kịch Citymoon. Bruce Keller mất năm 2003.
[2] xuất hiện lần đầu trên The Age Saturday, Feb 2006

bài đã đăng của Nguyễn Tiên Hoàng


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)