Trang chính » Biên Khảo, Giới Tính, Phê Bình Email bài này

Em Không Mềm Không Trong Không Thẳng Không Trắng (2/2)

 

m. butterfly transgender Từ 10 năm nay (1998-2008), Bệnh HIV và AIDs đã đuợc “dung hòa” bởi những tiến bộ trong y khoa. Vì vậy, ở đầu thế kỷ 21, song song với khuynh hướng bảo thủ tôn giáo và chính trị trong xã hội giòng chính Hoa Kỳ, những sinh hoạt và diễn đàn nghệ thuật của giới LGBT phần đông bị dọn về các “xóm nhà lá biệt lập” trên mạng, mất hút trong những siêu thị sách, hoặc “lẩn sâu xuống hầm đất” (go underground) trong những gay bars và các tổ chức tư nhân. Từ năm 2004, đài truyền hình Showtime của Mỹ có một kịch soap hàng tuần về đời sống lesbian, gọi là The L Word. Kịch này, với những nữ diễn viên đẹp, thon thả và quyến rũ, hầu hết đều có học thức, ở trong giai cấp thượng hoặc trung lưu, có nghề nghiệp mang đến nhiều thú vị tinh thần, đi tuyển lựa đàn ông làm chuyện tay ba hầu “gặt” tinh trùng để họ tự có con, bị giới phê bình đồng tính bài bác, cho là không thể hiện trung thực cuộc sống đa dạng đa hóa của dân lesbian, và chỉ cố tình kích thích tình dục và những hoang tưởng của đàn ông hetero.

Kể từ năm 1988, Quỹ Văn Chương Tư Cấp Lambda (Lambda Literary Foundation) [lambda là chữ “L” (λ) trong mẫu tự Hy Lạp, từ ngữ lambda trong y khoa là chỗ xương trong sọ nối kết hai phần xương từ đầu sọ và cuối sọ, và trong toán học có liên hệ đến sự áp dụng của hàm số (lambda calculus)], tổ chức lễ trao giải thưởng văn chương hàng năm cho những tác phẩm biên khảo, phóng/ký sự hoặc sáng tác có giá trị về kinh nghiệm LGBT. Mục đích của quỹ Lambda là “làm tăng trưởng khả năng hiểu biết về văn chương LGBT.” Trong hai năm gần đây, hai tác giả đoạt giải Lambda đã được sự chú ý song song của giòng chính: Alison Bechdel với tiểu thuyết phác họa (graphic novel) Fun Home (đoạt giải Lambda năm 2006, và cũng được vào chung kết giải National Book Critics Circle Award cùng năm), và André Aciman với tác phẩm Call Me by Your Name (đoạt giải Lambda năm 2008). Hai tác phẩm này đuợc coi là những tác phẩm “vượt biên giới” ghetto LGBT.

Tựa Fun Home của Bechdel mang nhiều alison bechdel fun house comic strip nghĩa, vừa có nghĩa là “nhà vui,” “nhà làm chóng mặt” như loại nhà ở những hội chợ giải trí với những tấm kiếng làm người vào nhà bị lạc lối, và tiếng gọi tắt của chữ “nhà táng” trong tiếng Anh, phát xuất từ chữ “funeral home” là nghề sinh sống của bố tác giả lúc sinh thời.

Như những tác phẩm của Jeanette Winterson, tiểu thuyết của Bechdel thử thách những định nghĩa về thể loại, nhưng đồng thời cũng so sánh kinh nghiệm gay như một biểu tượng của lưu vong và chia lìa theo nghĩa của Homer, của Joyce, của Proust. Tác phẩm được sáng tác trong format hội họa, như những khuôn hình (panel) cho một cuốn phim. Fun Home cũng là một truyện Ký, kiêm bình luận văn chương. Trong Fun Home, Bechdel viết về tiểu sử người bố gay của mình đã cố đè nén khuynh hướng đồng tính trong cuộc sống hàng ngày, cuối cùng đã tự tử. Bechdel cũng gợi lại kinh nghiệm lesbian của mình (“không như Odysseus tránh hang tối của Polyphemus, mà ngược lại tôi rất thèm sục sạo lãnh thổ mà tôi rất sợ, đó là cái hang của người tôi yêu”) (tr. 214). Cô nhớ lại lần đầu hai bố con “tự thú” về kinh nghiệm đồng tính của cả hai (cô con gái lúc mới lớn muốn đuợc làm con trai và mặc quần áo con trai, ông bố lúc nào cũng ước mình được là đàn bà, muốn trang hoàng nhà cửa cho thật tươm tất, nhưng bề ngoài, đối với vợ con và hàng xóm, phải giả dạng đóng vai người hùng đầy nam tính, như nhân vật Jay Gatsby vủa F. Scott Fitzgerald). Cảm giác của tác giả không phải là một nỗi nhẹ nhõm vì đã được cùng chia xẻ bí mật của mình với bố, mà vẫn là một không khí ngột ngạt, căng thẳng trong sự hổ thẹn, “không như buổi đoàn tụ đầy hạnh phúc giữa cha con Odysseus và Telemachus [trong thi ca Homer], mà chỉ là nỗi cô đơn tê tái giữa một Stephen [Daedalus] không bố và một [Leopold] Bloom không có con trai trong tiểu thuyết Ulysses của Joyce.”[8] (tr. 221.)

Trong lúc văn hóa giòng chính đang bị lôi cuốn bởi cuộc cách mạng về cách thức ăn uống và nấu nướng khởi xướng bởi những nhà đầu bếp nổi tiếng, khuynh hướng tình dục của giới LGBT—nếu chỉ đuợc mô tả một cách trần truồng và “phương pháp hóa” như những món ăn lạ–có lẽ sẽ bị bài bác như chuyện “đáng ghê tởm” hay chỉ kích thích những thị hiếu phi văn chương. Để được nhìn nhận, những nhà văn đồng tính của Hoa Kỳ phải vượt qua thành kiến của giòng chính về khía cạnh “đồi trụy” trong kinh nghiệm gay, và phải kết nối kinh nghiệm gay với những liên hệ “nghiêm túc” và “thanh tao” về nghệ thuật, tâm trạng lưu đày, về những mất mát của thời gian mà ký ức muốn hoàn cải. Tiểu thuyết Call Me by Your Name (Gọi Tôi Bởi Tên Người) của André Aciman, một học giả chuyên môn về Proust, tuy là một tác phẩm sensual, về tình yêu giữa Elio, một thiếu niên Ý và Do Thái, và Oliver, một học giả trẻ đến trọ cùng nhà, là một suy niệm rất thơ về tâm trạng lưu vong và ước nguyện của người lưu vong muốn được toàn vẹn:

Phải chăng “là” và “có” là những động từ không chính xác trong cuộn chỉ rối tung của tình dục, khi chuyện có được một người mà ta muốn chung đụng và là chính người mà ai đó muốn chung đụng cũng chỉ là một …. như cầu thang xoáy tạo dựng bởi sự nghịch ngợm tàn ác của M.C. Escher …. Người trong tôi. Tôi trong người.

Trong đoạn văn này Aciman đã gợi lại bài thơ Sappho gửi Philaenis của John Donne. Donne tả mối tình của Sappho với nàng Philaenis như tình yêu của hai chị em sinh đôi, có mắt, mũi chân tay giống nhau, mãi mãi sẽ duy trì được sự toàn vẹn cho cơ thể—khác biệt với mối tình giữa đàn bà và đàn ông sẽ làm ô uế cơ thể. Elio, một thiếu niên Do Thái, đã yêu Oliver vì Elio muốn trở thành như Oliver, vì Oliver rất thoải mái với bản sắc Do Thái và cơ thể của mình. Oliver không xấu hổ là người Do Thái. Chuyện Elio và Oliver chơi trò chơi đổi tên nhau trong lúc làm tình có thể được coi là cách Elio “thủ dâm” với một bản sắc sinh đôi, nhưng lý tuởng hơn, hoàn hảo hơn, để được trở nên một con người toàn vẹn.

Tuy nhiên, Aciman không muốn Elio và Oliver bị giam hãm trong định nghĩa cứng nhắc về khuynh hướng tình dục, mà mô tả kinh nghiệm của họ qua cái nhìn rất cởi mở về thể xác. Nhà phê bình Colm Tóibin nói rằng tương tự như những nhân vật trong tác phẩm Another Country (Một Quê Hương Khác) của James Baldwin, Elio và Oliver không hẳn gay, mà cũng chẳng straight. [9] Bố của Elio, trái với ông bố Hoa Kỳ đầy mặc cảm tội lỗi trong Fun home của Bechdel, có một cái nhìn Cựu Thế Giới rất khoan dung và già dặn về những đam mê trái cấm:

Con đã có một tình bạn tuyệt đẹp. Có lẽ còn đi xa hơn tình bạn. Ba thấy con may mắn. Nhiều cha mẹ như ba sẽ không nhìn thấy như vậy, mà sẽ ước rằng một ngày kia con trai họ sẽ biết cách tu chỉnh lại. Ba không phải là người cha như vậy …. Có lúc ba cũng muốn làm như con, và cũng bị cám dỗ, nhưng ba chưa bao giờ có những điều kiện như con. Lúc nào cũng có một cái gì đã ngăn chận ba lại. Con sống thế nào thì tùy con thôi. Trái tim ta, thể xác ta, chỉ được [Tạo Hóa] ban cho một lần trong đời ….

Bố của Elio, khi tôn vinh tuổi trẻ và sự hoàn mỹ của thể xác “chỉ đuợc [Tạo Hóa] ban cho một lần trên đời,” đã coi trọng kinh nghiệm của con trai mình như một kinh nghiệm không thể thiếu, hoặc không nên/không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Hai mươi năm sau, khi gặp lại nhau, Oliver đã lấy vợ, còn Elio thì vẫn lông bông về chuyện tình cảm. Tác phẩm Gọi Tôi Bởi Tên Người, qua lời kể chuyện của Elio, gợi lại “thành phố đã mất” của cơ thể Oliver, của tình yêu trai trẻ mà thời gian đã chôn vùi, như thể làm sống lại một thành phố Atlantis của ký ức. Thật ra, quê hương đoái hoài của người kể lại chuyện tình không phải là thành phố đã mất, hay thành phố không bao giờ hiện hữu, mà chính là văn bản ghi nhận nỗi niềm lưu vong. Quê hương đã mất cũng là quê hương tìm lại được trong nghệ thuật. Thể xác, hay những suy niệm siêu hình về thể xác, cuối cùng cũng là một.[10]

Về phía giòng chính, sự ca tụng của các nhà phê bình về Alison Bechdel và André Aciman cũng đượm ít nhiều rào đón—như muốn làm mờ đi khía cạnh “chưa hợp pháp/chưa muốn nhập tịch” của văn chương LGBT. Khen ngợi Fun Home, nhà phê bình Lev Grosman và Richard LeCayo tuyên bố mập mờ trên báo Time, “Đừng để ý đến thể loại và khuynh hướng tình dục làm gì cho mệt, [Fun Home] là một tuyệt tác về hai tâm hồn sống cùng một nhà nhưng ở trong hai thế giới cách biệt, và những món nợ tâm lý mà họ phải trả cho nhau.”[11] Tương tự, Charles Kaiser, nhà phê bình gay của tờ Washington Post, nhận xét về Gọi Tôi Bởi Tên Người như sau:

Khi Gore Vidal xuất bản tiểu thuyết ‘The City and the Pillar” (Thành Phố và Cột Trụ), những nhân vật của Vidal đã định nghĩa quan niệm gay như một định nghĩa về hành động, thay vì bản sắc của một người. Những nhân vật trong truyện của Aciman đã chứng minh rất trung thực điều này…. Nét thiện mỹ trong văn Aciman và sự thanh tao trong cách ông miêu tả những cuồng nhiệt của cuộc tình trai trẻ giúp tiểu thuyết đầu tay và xuất chúng của ông được nhập tịch vào hàng ngũ những tác phẩm “kinh điển” về tình yêu cho bất cứ một độc giả nào.[12]

Nói một cách đơn giản hơn, Charles Kaiser đã lập luận rằng “hành động” yêu người đồng tính không nhất thiết phải đóng khung bản sắc hay khuynh hướng tình dục. Lập luận này cũng là cách mà những nhà văn gay muốn tẩy đi “vết ô nhục” về khái niệm “tính dục đồi trụy” mà môi trường văn hóa truyền thống thường nghĩ về người đồng tính.

madame_butterfly_program_cover Đi xa hơn, nhưng cũng bi quan hơn, những tác giả di dân không đồng tính như David Henry Hwang và Monique Trương thường dùng ẩn dụ đồng tính để chất vấn chuyện văn hóa Tây Phương đã coi toàn diện Đông Phương như một thể chế “lại cái.” Nếu khái niệm gay không nhất thiết định nghĩa giới tính hay tình dục, thì ở trong một mối liên hệ tình cảm không bình đẳng, nó cũng có thể làm một trong hai người trở thành “vô hình.” Trong khía cạnh này, khái niệm đồng tính đã bị mất đi nghĩa gay, mà trở nên một trạng thái vô tính. Vì mọi người đàn ông da vàng bị người da trắng coi là lại cái—“không có dương vật”—thì sự đồng tính của họ cũng không đuợc người da trắng chấp thuận, mà bị coi là một chuyện thừa thãi, không thành vấn đề.[13] Trong M. Butterfly, Gallimard dan díu xác thịt với Song Liling hơn 20 năm nhưng khăng khăng duy trì rằng y không biết gì về bản sắc hoặc giới tính thật của Song Liling–một điệp viên đàn ông ngụy trang trong quần áo đàn bà, giả làm một diễn viên nhạc kịch Trung Hoa quyến rũ Gallimard và đuợc nhà ngoại giao Pháp trao cho những bí mật quốc phòng. Trong phiên tòa xử tội phản quốc của Gallimard, quan tòa hỏi cung Song Liling về chuyện y lừa gạt Gallimard:

Quan tòa: Làm ơn định nghĩa [quan niệm hiếp dâm quốc tế của Tây Phương].

Song Liling: Thì cũng giản dị thôi, “miệng nàng thì em chả, nhưng mắt nàng thì đã cho.” Tây Phương nghĩ mình cường tráng, súng bự, kỹ nghệ bự, tiền bự, cho nên Đông Phương phải yếu đuối, mảnh mai, nghèo nàn, xuất sắc về nghệ thuật, nhưng bí hiểm …. Tây Phương nghĩ rằng Đông Phương thật sự muốn bị đô hộ, vì một người đàn bà không thể tự định đoạt cho chính mình.

Quan tòa: Nhưng tại sao chuyện này lại giúp anh đánh lừa Gallimard?

Song Liling: Có hai yếu tố. Một, vì khi hắn gặp được người trong mộng, hắn muốn người đó đích thị là đàn bà. Hai, tôi là một người Á Đông. Là một người Á Đông, tôi không thể được toàn vẹn làm đàn ông.

Quan tòa: Phải trả lời thẳng câu này: đuơng sự có biết rằng anh là đàn ông?

Song Liling: Thưa quan tòa, hắn ta không bao giờ hỏi tôi. [14]

Tương tự, trong tiểu thuyết The Book of Saltbook of salt cover (Sách Muối) của Monique Trương, nhân vật Bình, đầu bếp của hai nữ văn sĩ Hoa Kỳ Gertrude Stein và Alice B. Toklas khi hai người sống ở Paris trong thập niên 1920-1930, tuy cũng là người đồng tính như hai bà chủ của mình, nhưng sự đồng tính của y chỉ là một khía cạnh vô hình không được ai quan tâm, “Đối với [những người mướn tôi vào nhà làm việc], tôi chỉ là một loạt chặng đường họ muốn đạt tới, nhưng không có một khoảng cách đáng nhớ gì ở giữa những chặng đường đó.” Bình, một con người tha hương da màu không nói giỏi ngôn ngữ bản xứ, chỉ là một vật “dược nhặt nhạnh” bởi giới thượng lưu da trắng thích sưu tầm những “thể loại khốn cùng” trên thế giới như chiến lợi phẩm.[15] Bình suy niệm về sự lệch lạc trong thế lực và ngôn ngữ giữa kẻ thống trị và kẻ bị trị. Kẻ thống trị có một ngôn ngữ phong phú cho tất cả những kinh nghiệm của họ, sự phong phú này được đề cao và không bao giờ bị coi là “thừa thãi,” “thái quá,” hay “chẳng đáng nói,” nhưng kẻ bị trị chỉ có một quyền duy nhất và hết sức cần thiết là quyền “just say no,”—đó là quyền phủ nhận ngôn ngữ hiện hữu của văn hóa thống trị:

Dĩ nhiên, tôi không thể nhớ hết hoặc giữ một danh sách tỉ mỉ về tất cả mọi tên món ăn mà dân Pháp đã gắn cho loài vật được họ coi là trung điểm bếp núc của mọi gia đình Pháp: gà hầm, gà xào, gà sốt, gà nộm. Gà béo, gà tơ, gà mới nở, gà già, gà dai, mọi con gà đều có cái tên riêng của nó, mỗi cái tên như một chức vị quý phái trong thứ ngôn ngữ đã tự cho nó được quyền say và phung phí về bất cứ những gì được nằm la liệt trên bàn ăn. “Một con gà,” và “không phải con gà này,” đây vỏn vẹn là những từ ngữ mà tôi cần để giao thông trong những chợ gà của thành phố này. Truyền đạt trong sự phủ nhận không hẳn là phương pháp hiệu nghiệm nhất, dĩ nhiên cũng không là cách được người ta coi trọng nhất, nhưng cho đám chúng tôi là những người thiếu chữ, cách truyền đạt này là một thứ bùa, loạt thần chú mở ra một kho tàng mà lúc trước đóng ngặt. [16]

Bình, như Jeanette Winterson, như bất cứ một nhà văn nào cảm thấy mình “bị” ở trong tư thế phòng thủ khi đối diện với “văn hóa/văn chương thống trị,” cũng biết rằng ngôn ngữ phủ nhận, tuy cho nhà văn quyền kháng cự, có thể chỉ là một chiến thắng hao kiệt, như chiến thắng của Hannibal bị mất gần hết voi sau khi băng qua núi Alps để tiến vào thành Rome. Quyền phủ nhận của người yếu thế, cuối cùng, cũng không định nghĩa hay xác định bản sắc của họ.

Đỗ Lê Anh Đào so sánh kinh nghiệm lưỡng tính của người đàn bà di dân như một bệnh tâm thần (schizophrenia), khi bản sắc bị cách lìa, không những bởi tình dục, mà còn bởi văn hóa, màu da và lịch sử. Trong truyện ngắn Như Tâm Thần Hoang Tưởng (Da Màu số 16, ra ngày 12 tháng 1, 2007), cô tả tâm trạng của Loan, một người đàn bà Việt Nam trẻ lưỡng tính không biết mình cần hay thiếu thốn những gì trong tình yêu và tình dục. Lúc mới lớn, Loan “không có vũ khí thể xác,” và lúc đã trưởng thành, cô “không có vũ khí tinh thần.” Nỗi bấn loạn của Loan là một “quái thai … hung dữ, tra tấn áp bức, vùng vẫy đá đạp, ung rữa hôi thối.” Một phần, chịu ảnh hưởng từ nền văn hóa Khổng Tử và truyền thống văn chương lãng mạn, Loan bị ám ảnh bởi hình bóng của Văn, một nhà làm phim xã hội và là người tình Việt Nam có thể đã chết hoặc chỉ ở trong ảo mộng của cô, vì Văn vừa biểu tượng cho người bố mà Loan chưa bao giờ có (Loan đã bị bố ghẻ hãm hiếp khi cô còn nhỏ), vừa là người tình đồng văn hóa, và cùng theo khuynh hướng chính trị muốn giúp những nhóm người bị xã hội bạc đãi. Một phần Loan bị lôi cuốn bởi sự hấp dẫn của Rita, một người đàn bà da trắng Đông Âu từ một gia đình giàu có. Rita, tuy cũng là phụ nữ, hứa hẹn Loan một giải phóng ra khỏi số phận, văn hóa, và lịch sử:

Tôi chỉ biết là tôi bị những đặc nét đàn bà của Rita mê hoặc. Những gì gần giống như mình, nhưng không hoàn toàn là của mình. Những gì trái ngược lại với sự sắp đặt của định mệnh, của quá khứ; không cho chúng tiếp tục xâm lấn chiếm cứ dần đất đai của linh hồn tôi. Sự mềm mại dịu dàng của nàng làm cho tôi cảm thấy an toàn, làm cho tôi quên đi những tàn ác của tuổi thơ trớ trêu. Quên đi những gì đàn ông thuộc về người cha ghẻ, khuôn mặt dâm đãng, bàn tay hãm hiếp, bụng mỡ nặng nề, cặp đùi lông lá…

Nhưng trong “tâm thần hoang tưởng” của Loan, Rita, mặc dù hiện hữu trong đời thật, oái oăm thay đã trở thành thừa thãi trong cuộc tình tay ba, vì Rita, trong tâm lý “nạn nhân” của Loan, biểu tượng cho một đặc ân/một niềm an ủi mà Loan không nghĩ mình đáng được hưởng, và vì thế nàng đã đeo đẳng ảo tưởng về Văn. Trong trạng thái này, Loan đã vô tình tước đi tính người của Rita. Rita, tuy là người da trắng (và ở trong văn hóa “thống trị,”) đã trở thành “kẻ lạ,” bị định nghĩa như một cái âm hộ bí hiểm trong mặc cảm tội lỗi của Loan, với “những ngõ nghách mơn mởn ẩm ướt, sâu mà chật.”

Văn chương Việt Nam ngoài nước, từ cái nhìn táo bạo và trung thực của những nhà văn nữ, đã đi một chặng đường ngoằn ngoèo xa lắc từ Tự Lực Văn Đoàn. Đỗ Lê Anh Đào, như Monique Trương trong Sách Muối, nhìn nhận ký ức/mặc cảm về lịch sử bị đô hộ cũng làm vấn đề giới tính và tình dục trở thành những mê lộ trong văn chương và khoa ngữ nghĩa học—những mê lộ mà pháp luật, với sự đòi hỏi về trật tự và công bằng, sẽ khó dung túng:

Cuốn sách lịch sử Đông Nam Á tôi đang đọc hiện dòng chữ như sau:

"Có những tên, như "hoa hồng", công nhận những gì có thật. Những tên khác, như "con kỳ lân", tạo nên những gì không có thật. Còn ở giữa là những tên cùng một lúc vừa miêu tả vừa sáng tác sự thật. "Đông Nam Á" là một trong những tên này."

Và tên anh [Văn] cũng vậy.

 

xxx

 

Trong tiểu thuyết Immortality (Bất Diệt), Milan Kundera dùng nhân vật hậu hiện đại Rubens để miêu tả những khó khăn của người nghệ sĩ thời nay. Ở phần cuối tiểu thuyết, Rubens không muốn trở về với nghề vẽ vì thế giới hội họa không còn là một con đường thẳng, được vạch rõ ràng như trong thế giới classic mà họa sĩ đã đi qua:

[Rubens] chợt nhận ra rằng chuyện trở về với hội họa là điều bất khả thi. Khi chàng còn đi học, chàng tưởng tượng mọi họa sĩ danh tiếng trên thế giới đã đi cùng trên một đại lộ; đó là con đường cái quan đi từ những họa sĩ Gothic thời Trung Cổ đến những họa sĩ trứ danh thời Phục Hưng, từ đó tới những họa sĩ Hòa Lan, rồi Delacroix, từ Delacroix tới Manet, từ Bonnard (ồ, chàng yêu thích Bonnard biết bao!), tới Matisse, rồi từ Cézanne tới Picasso. Những họa sĩ không bước đều như một đám lính, không, mỗi người đi một ngả, nhưng bất cứ điều gì một người có dịp khám phá trở thành nguồn sáng tạo cho những người kia và ai ai cũng biết họ là những người mở đường, mục đích chung đã đoàn kết họ. Nhưng bỗng dưng con đường cái biến mất …. Con đường biến mất, nhưng nó vẫn nằm trong tâm hồn của những họa sĩ, như một đam mê muốn đi mãi về phía trước, một đam mê không bao giờ tắt. Nhưng đâu là “phía trước” khi con đường không còn nữa? Ở chiều nào, hướng nào, người ta nên đi kiếm “phía trước” đã mất lối? Sự đam mê đuợc khai phá “phía trước” trở nên một ám ảnh; mỗi người tản mác mỗi phía nhưng bỗng dưng lối đi của họ lại xen kẽ vào với nhau, xuyên thấu từ đầu này qua đầu kia như cách đám đông đi loanh quanh cùng một quãng phố. Họ muốn khác biệt với người đồng hành, và mỗi người cũng kiếm được một lối không hẳn giống người kia, nhưng thật ra lại là cái lối mà ai đó đã kiếm ra trước họ …. [17]

Trong đoạn này, Kundera than vãn rằng văn hóa và nghệ thuật hậu hiện đại, với những “lối mòn” dẫm đạp, xen kẽ lẫn nhau, đã tầm thường hóa những khai phá tiền phong của các danh nghệ sĩ thời trước, vì vậy đã giết đi cái “bất diệt” của nghệ thuật. Kundera tiếp theo:

[Trong MOMA–viện bảo tàng nghệ thuật hiện đại ở Nữu Ước]—sau tầng thứ nhất với [những họa sĩ] như Matisse, Braque, Picasso … là tầng dành cho những bức tranh của ngày hôm nay…một sa mạc không một hiện thực quyến rũ. Giữa tầng thứ nhất và tầng nhì chảy lượn lờ con sông Lethe, con sông của sự chết chóc và quên lãng”.[18]

Mâu thuẫn thay, lập luận của Kundera về sự “bất diệt” của nghệ thuật thực sự đã bị giam hãm trong cái nhìn thuần nhất của một Âu Châu không nhìn nhận những mảnh vỡ của hiện thực. Mặc dù kinh nghiệm văn hóa và nghệ thuật của thế giới ngày nay không còn là một khối đồng nhất, những xen kẽ, những “dẫm đạp,” “lấn lướt,” “mâu thuẫn,” giữa những lĩnh vực, đề tài, giữa luật pháp và văn chương, giữa những lý thuyết chính trị, ngữ nghĩa học, ngôn ngữ học, xã hội học, tâm lý học, về bản sắc và đề tài đồng tính, di dân, chủng tộc, hậu thuộc địa, chiến tranh, lịch sử v.v…. chứng minh rằng đây là những vụn vỡ kết tinh thành một nhân bản hoàn cầu, toàn vẹn. Nói theo Plato, nghệ thuật tự chất vấn, tự trở về những quan niệm cũ để tái tạo, để lật đổ thành kiến, để đối thoại với quá khứ, để xác định hay phủ nhận những quan niệm về bản sắc, tình dục, giới tính, màu da, mới là thứ nghệ thuật …đáng được sống.

Trong tinh thần này, có lẽ từ “homosexual”–đồng tính, “thuần” tính,” là một từ đã bị dùng sai và hiểu sai. Trong một thế giới lý tưởng, nếu có một sự thuần nhất, chỉ là sự thuần nhất trong những phong phú bất hạn định


[8] Alison Bechdel, Fun Home (Houghton Miflin: 2006).

[9] Colm Toibin, Learning to Love (nhận định tiểu thuyết Call Me by Your Name của André Aciman), New York Review of Books Volume 54, Number 6 (April 12, 2007)

[10] Stacey D’Erasmo, “Suddenly One Summer” (nhận định tiểu thuyết Call Me by Your Name của André Aciman), New York Times Sunday Book Review (February 25, 2007), http://www.nytimes.com/2007/02/25/books/review/DErasmo.t.html

[11] Lev Grossman và Richard LeCayo, “10 Best Books,” Time (tuần lễ 12-10-2006), http://www.time.com/time/magazine/article/0,9171,1570801,00.html

[12] Charles Kaiser, “Love that Knows No Boundary” (nhận định về Call Me by Your Name), Washington Post Book World (Thursday, March 22, 2007).

[13] Richard Fung, “Looking for My Penis: The Exoticized Asian in Gay Video Porn,” trong How Do I Look? Queer Film and Video, ed. Bad Object Choices (Seattle: Bay Press, 191), tr. 148.

[14] David Henry Hwang, M. Butterfly (New America Library: 1989), tr. 83.

[15] Monique Trương, The Book of Salt (Houghton Miflin: 2003), tr. 17-18.

[16] Như trên, tr. 18.

[17] Milan Kundera, Immortality (Grove Weidenfeld: 1990), tr. 289-290.

[18] Như trên, tr. 290.

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)