Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » phỏng vấn Thế Uyên
Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 13, Phỏng vấn Email bài này

phỏng vấn Thế Uyên

0 bình luận ♦ 18.11.2006

 

Đạm Thuỷ là một nữ trí thức Công giáo. Bà hay viết nghị luận, hiện đang chủ biên website Thời Nay.
Đạm Thủy: Trong một bài viết về Thạch Lam, tác giả Vương Trí Nhàn, Hà nội, mường tượng một Thạch Lam qua những câu sau đây:
“Trong chừng mực nào đó, hình ảnh con người Thạch Lam hiện lên qua tác phẩm có những nét tương đồng với con người Tchékhov: Ý nhị nhưng buồn rầu, tốt bụng nhưng lạnh lùng, vị kỷ nhưng nhậy cảm với các nỗi khổ đau của con người, Tchékhov cống hiến đời mình cho văn học và y học, làm say mê lòng người nhưng lòng mình lại buồn chán”.
Qua nhiều lần được tiếp xúc với Thế-Uyên, chúng tôi đã bắt gập nhiều hình ảnh như phản chiếu cốt cách nói trên từ nhà văn Thạch Lam. Anh có cảm thấy nhận xét này thiếu sót đối với anh, hay đối với nhà văn Thạch Lam, thân phụ của chính anh?
Thế-Uyên: Trước hết cảm ơn chị đã thấy , qua sự miêu tả Tchékhov và Thạch Lam, vài phác thảo về con người nhà văn của tôi. Nhưng cái vế sau cùng “lòng mình lai buồn chán” e chỉ đúng với các truyện tôi đã viết trước 75 ở nội địa. Sau 12 năm te tua bầm giập dưới chế độ xhcn thời kỳ đỏ nhất, bây giờ kêu cho hoa mỹ là thời bao cấp, tôi đã thật sung sướng cùng vợ con lên máy bay lìa bỏ Việt nam. Bởi thế sau khi định cư ở vùng tây bắc nước Mỹ, viết văn trở lại, tôi thường có những kết luận vui vui, lạc quan, hay để ngỏ cho tương lai (còn ở trước mặt).
Có một chi tiết cần thưa lại với chị: Tôi chỉ là cháu của Thạch Lam, mẹ tôi là chị của nhà văn này. Thạch Lam chết sớm vì bệnh lao, để lại ba con. Người con đầu là gái tên Dung sau lấy trung tướng Ngô Quang Trưởng, người con trai thứ nhất là Nguyễn Tường Đằng học Luật sau trở thành chuyên viên hành chánh tài chánh, người em trai út là nhà thơ bác sĩ Nguyễn Tường Giang (cả hai anh em đã gia nhập nhóm văn hoá Thái Độ do Thế Uyên chủ biên ở Sài gòn cuối thập niên 60). Tất cả các chi con của Thạch Lam qui tụ bầu đoàn thê tử dâu rể khá đông ở tiểu bang Virginia, Hoa kỳ.
Đạm Thủy: Mới đây chúng tôi có đọc quyển “Cánh đồng bất tận” của Nguyễn Ngọc Tư, một nhà văn rất trẻ ở quốc nội, và là cây viết đang lên, anh có đọc không và nghĩ sao? Với tư cách nhà văn, và hơn thế nữa, một nhà giáo, anh quan niệm giá trị văn học nằm ở những khía cạnh nào của một tác phẩm văn chương?
Thế Uyên: Tôi có đọc tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư và thấy cô đó có tài văn chương đúng như nhận xét của chị. Đáng tiếc chưa kịp phát huy tài năng nhiều hơn, cô đã bị chính quyền và Đảng Uỷ địa phương (tỉnh Cà mau) vùi dập vì cô có lòng thương yêu các nông dân nghèo đói khổ sở và sự ngay thẳng của nhà văn thấy sao tả vậy. Để tỏ chút lòng liên kết giữa nhà văn với nhau, và cũng để góp phần bênh vực cô, tôi có viết một bài đăng nơi tạp chí Thế kỷ 21 ở Cali và website Tiền V ệ (trong nước nhiều người đọc được). Tiện đây nói thêm ông chủ biên của Tiền Vệ (ở Uc) là nhà phê bình có tiếng Nguyễn Hưng Quốc đang bị Bộ Công an Cộng sản cấm cửa không cho về nước, không nêu lý do.
Còn về giá trị văn học, phức tạp lắm thưa chị. Cách đây chưa lâu nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc, vẫn cái ông Quốc đó, có viết một biên khảo khá đầy đủ cho biết hiện nay có tới 13 trường phái phê bình khác nhau. Tôi hiểu một cách đơn sơ chất phác là như vậy có 13 giá trị văn học khác nhau cho một tác phẩm…tuỳ theo người đọc theo trường phái nào, trường phái xã hội chủ nghĩa, phân tâm học hay hậu hiện đại. Chưa kể tới vấn đề tôn giáo. Thí dụ cùng tin theo Khổng giáo, thì các hủ nho phán xét khác : “Đàn bà chớ kể Thuý Vân Thuý Kiều” (ca dao), kẻ sĩ phóng khoáng như Thánh Thán phán xét khác. Chị là người Công giáo phải không, chị cho phép tôi đoán là chị mong muốn tác phẩm sẽ chuyên chở (văn tải đạo) ít nhiều giá trị luân lý Thiên chúa giáo. Tôi trên lý thuyết là một Phật tử, nhưng một Phật tử lạc quan : kiếp này được làm người hãy sống vui cho hết kiếp người, kiếp sau là con muỗi thì cũng chẳng sao, hãy vui với kiếp muỗi, bởi ai dám khẳng định là muỗi không vui…, những phán xét của tôi do đó không giống một Phật tử thuần thành mặt mũi buồn so (đời là bể khổ mà)…
Đạm Thủy: Trước năm 1975, người ta được biết Thế Uyên là mội nhà văn tên tuổi. Xin anh cho biết tác phẩm nào đưa anh lên trước nhất? Xin anh cho biết một chút giai thoại về tác phẩm đó?
Thế Uyên: Khó biết rõ, thưa chị. Có lẽ một người ngoại cuộc, nghĩa là không phải tác giả, và am hiểu văn học miền Nam như các vị Võ Phiến, Uyên Thao, Viên Linh, Trần văn Nam, Nguyễn Văn Lục, Nguyễn Vy Khanh…trả lời chắc tương đối khách quan hơn. Còn theo chủ quan là tôi, thấy là vài ba cuốn được, chứ không không phải một và còn phải tuỳ theo thành phần độc giả. Giới cổ điển và giới trẻ lãng mạn thích tập truyện đầu tay “Những hạt cát”, thành phần quân nhân trẻ, thường là sĩ quan, thích cuốn “Mười ngày phép của một người lính”, “Tiền đồn” và kế tiếp, giới sĩ quan thâm niên thích “Chiến tranh cách mạng”, thành phần Phật tử-không thuần thành hoặc liberal thích “Khu vườn mùa mưa”…
Những cuốn vừa kể trên, cuốn nào cũng có giai thoại hay sự kiện đáng kể lại. Xin kể về một vài cuốn:
Những Hạt Cát: Tôi nhìn thấy lần đầu tiên cuốn sách đầu tay của mình do nhà Thời Mới bày trên giá một tiệm sách con đường chính thị xã Qui nhơn, khi lang thang ăn cơm chiều với vợ mới từ Sài gòn ra thăm. Tôi cố tự chủ không mua vì mới nhận được thư Võ Phiến cho biết đã gửi 20 cuốn sách tặng cùng tác quyền. Khi gói sách tới, tôi mở tung ra, trải rộng trên sàn xi măng căn phòng nhỏ (bọn tôi ngủ trên một nệm mỏng trải trên đất), nhìn cho đã mắt. Sau đó tôi hứng chí, mới xả trại ra và trời nóng làm vợ tôi đỏ hồng đến tận “các ngón bàn chân” (Đinh Hùng), tôi để nàng nằm dài trên sách, chúng tôi hôn nhau và…
Mười ngày phép của một người lính : Thời kỳ đó tôi còn ghi danh học tiếp ban Cử nhân Triết Đại học Văn khoa Sài gòn, và đến kỳ thi cuối niên khoá Quân đội cho tôi nghỉ phép 10 ngày để về dự thi. Cầm giấy phép tôi đến văn phòng trường trình diện đàng hoàng, nhưng tôi sau đó không vào phòng thi vi hai lý do. Thứ nhất : không thể đến dự một giờ giảng nào, tôi lấy đâu ra kiến thức làm bài luận triết dài bốn tiếng. Thứ hai: đời lính chưa dài nhưng tạm đủ để cho tôi thấy các triết thuyết thật ra chẳng là gì cả ngoài mớ từ lắp ghép kỳ khu khó hiểu, các triết gia này nọ là mấy ông già vô duyên và vô nghĩa thấy bà (cả bà nội lẫn bà ngoại)…Từ đó tôi quay lưng đi tuốt luốt vào cuộc nội chiến đang bắt đầu dữ dội. Trước tôi có vị đặt một vấn nạn thế này: Làm thế nào triết lý, lý luận với một cái búa…Riêng tôi biết là không thể lý luận với một viên đạn bắn về phía mình. Đạn tránh người chứ người không tránh được đạn.
Tiền đồn : Một truyện dài xây dựng trên những kinh nghiệm chiến trường của tôi thời kỳ làm trung đội rồi đại đội phó đại đội trưởng một đơn vị bộ binh, ngày đêm kể cả ngày lễ chìm ngập trong máu và lửa của nội chiến. Khi viết xong, viết ở một đơn vị Sài gòn tất nhiên vì không thể viết trong khi chiến đấu 24/24, bẩy trên bẩy được, dù khoảng trống thời gian không thiếu, tôi đưa tạp chí Bách Khoa đăng từng kỳ. Nhà văn Võ Phiến phê bình là truyện có giá trị lâu dài, nhận đứng ra xuất bản. Đây là một cuốn sách làm cho tôi gập đủ loại khó khăn trong cả ba chế độ Cộng hoà miền Nam, chế độ xhch và chế độ Liên bang Mỹ…Nói cho chính xác hơn với cộng đồng Việt ở Mỹ, vì chính ông bạn cố tri Võ Phiến khi về già tẩn mẩn ngồi đếm những cuộc làm tình hay nhắc tới làm tình trong “Tiền Đồn”, tổng kết các con số rồi tri hô cho bà con biết là nhiều, nhiều quá, hỏng hỏng bét …trong bộ Văn học Miền Nam 54-1975.
Vụ này làm tôi từ đó về sau, khi viết văn đến đoạn có làm tình, cứ như văng vẳng nghe tiếng ông bạn già nhỏ nhẹ đếm khe khẽ từ miền Cali Hạ: bẩy rồi đó, tám nữa rồi….ngòi bút tôi cũng khớp lắm !
Khu vườn mùa mưa: Đây là một truyện tình giữa hai bố con cùng thương yêu một cô gái, đặt trong khung cảnh những năm cuối Đệ nhất Cộng hoà . Để khuyến khích mình viết cho nhanh cho xong, tôi đưa nhật báo Chính Luận đăng hàng ngày. Chưa hết 100 trang bản thảo, đã có lệnh từ Phủ Tổng thống (Nguyễn văn Thiệu) cho Chính luận là ngưng đăng. Tôi hỏi tai sao thì được biết nếu đổi thời đại, thì cho đăng tiếp. Dễ gì mà đổi thời đại , truyện đành ngưng ngang. Theo tôi đoán có lẽ tại truyện đã cho rằng vị tổng thống trước bị giết, nguyên do đích thật tại tinh thần, thái độ không tôn trọng, không bao dung các tôn giáo khác của Phái bộ Truyền giáo Pháp Hải ngoại và thành phần tăng lữ giáo dân bảo thủ cực đoan của Giáo hội Công giáo VN thời kỳ đó. Chứ không phải tại Mỹ hay tướng này tướng nọ.
Truyện bỏ dở cho đến cuối thập niên 80, sau khi định cư ở tiểu bang WA, nhân dịp có một học trò cũ Võ Trường Toản đang tới lui Thư viện Quốc hội Mỹ nhận sao giùm những gì đã đăng ở Chính Luận, tôi mới có hứng viết tiếp cho xong. Do đó “Khu vườn mùa mưa” là truyện tôi viết lâu nhất, gần hai chục năm mới xong. Ngoài thời gian, truyện còn có một giai thoaị nhỏ : khi đưa xuất bản, tôi đã viết một lời đề tặng như thế này: Tặng người nữ mà tôi đã mượn đường nét và cá tính để tạo ra nhân vật nữ chính trong truyện. Người nữ mà tôi đề tặng chính là vợ tôi thời kỳ mới quen nhau và lấy nhau, sau khi đã thêm thắt biến đổi cho phù hợp với truyện. Vậy mà nàng không nhận ra chính mình, vì vài năm sau, một hôm nàng than thở : Anh đề tặng mơ hồ lung tung làm bạn bè anh cứ hỏi Bích Uyên là cô bồ nào của anh vậy…Sau khi tôi khẳng định là chính nàng đó , nàng vẫn không tin. Làm hai cuốn sau tôi đề tặng thật rõ : Tặng vợ tôi, Thuý Sơn rõ ràng để đền bù vụ có “cô bồ hấp dẫn “ như vậy mà dám dấu vợ…
Đạm Thủy: Trong những tác phẩm xuất bản trước năm 1975, có nhiều quyển giáo khoa như “Quốc văn “ lớp 6, lớp 7, lớp 8, lớp 9 đã xuất bản. Xin anh cho biết các quyển đó đã có lúc được sử dụng ở các trường học chưa, và lúc nào? Ngày nay những quyển này có còn tồn tại, ít nhất là trong các nhà sách, quốc nội hay quốc ngoại?
Thế Uyên: Bộ giáo khoa Quốc văn 4 cuốn đã được sử dụng nhiều trong các trường trung học từ Quảng trị tới Cà mau, trong thời gian 69 –75. Tôi soạn, tôi in, tôi tiếp thị bằng cách gửi tặng các giáo sư lớp trẻ…nên sách bán khá chạy. Nhưng không độc quyền chút nào vì đầu mỗi niên học giáo sư có quyền chọn sách giáo khoa cho học sinh, không như chế độ hiện nay ở Việt nam Bộ Giáo dục và Đào tạo ở Hà nội in một cuốn thôi dùng chung cả nước. Tình trạng giáo khoa như thế cũng là một nguyên nhân làm chậm tiến cả nước.
Khi đã định cư ở Mỹ, tôi có ý tìm lại một bộ Quốc văn này, nhưng chỉ tìm ra có hai cuốn lớp 6 và 7. Nếu tái bản được, cũng hay vì trong đó phần văn trích có đủ mặt nhà văn từ tiền chiến đến hiện nay. Có đủ mặt từ Doãn Quốc Sĩ, Duy Lam , Cao văn Luận, Nhất Hạnh…đến Tuý Hồng, Y Uyên…Như một tuyển tập các tinh hoa của Việt nam hiện đại.
Chị ngạc nhiên là một nhà văn như tôi vừa sáng tác vừa dịch thuật, biên khảo kể cả binh thư binh thuyết, tại sao lại ngưng viết, nhẩy vào một đia hạt chuyên môn là giáo khoa, phải không? Tại Mỹ đấy. Tôi không nói đùa đâu. Một ngày đẹp trời mấy ông trong Tòa Đại sứ ấy họp bàn, cho rằng sự hiện diện của tên Thế Uyên và nhóm văn hoá Thái Độ “làm phương hại cho nỗ lực chiến tranh của người Mỹ” (nguyên văn lời kết án thời đó). To truyện chưa. Vậy phải yêu cầu (hay chỉ thị) các cơ quan an ninh tình báo Việt nam ra tay dẹp bỏ. Phe VN ta bênh nhau, đòn đầu tiên chỉ có tính cách cảnh cáo, nhưng sau đó trái plastic ném vào sân nhà tôi đêm khuya nổ cũng to lắm, và những phát súng trái nổ hạ sát Từ Chung, Chu Tử, Nguyễn Văn Bông…không phải là đùa chơi.
Tôi bèn gập thẳng một đại diện của đại sứ để biện luận nhưng không tới đâu, sau cùng phải chấp nhận điều kiện của họ là nghỉ viết in sách xuất bản sách và mọi hoạt động văn hoá khác, ít nhất 2 năm. Chắc chị ngạc nhiên tại sao sứ quán Mỹ lại can thiệp kỹ vào nội bộ VN như vậy, miệng đâu không cãi ? Cãi rồi chứ, nhưng không ăn thua vì họ bảo lính Mỹ đang đổ máu ngoài chiến trường cạnh lính VN, vậy họ có quyền… Vốn ngay thẳng, tôi ú ớ không biết nói sao, chỉ tự nguyện sau này trở thành cấp lãnh đạo miền Nam, đã thua cho thua luôn không cầu cứu ai hết. Nợ tiền bạc còn có lúc trả, còn nợ máu…. Phiền lắm.
Chính vì kẹt cái deal đầy tính cách người lớn bắt nạt trẻ con trên, tôi ngồi viết giáo khoa vậy. Quốc văn lớp 6 bán khá chạy, mang lại cho gia đình một lợi tức khá nên tôi ngồi viết tiếp mỗi năm một cuốn, cho tới 1975 mọi sự thành tro bụi, bột giấy hết. Tôi trở thành một trí thức vô sản nhưng không Cộng sản.
Đạm Thủy: Ở bìa sau cuốn “Khu vườn mùa mưa” (nhà sách Xuân Thu), anh đã có khoảng 30 tác phẩm gồm nhiều thể loại đã xuất bản từ trước đến nay (đoản văn, giáo khoa, truyện ngắn, truyện dài, biên khảo, tiểu thuyết dịch). Anh thích nhất là viết về loại nào, và tại sao?
Thế Uyên: Chịu, không trả lời dứt khoát được vì thể loại văn chương nào cũng chỉ đáp ứng được một khía cạnh, một ước muốn, một nhu cầu nào của tâm hồn, con người nói chung của tôi lúc đó. Đôi khi chẳng thể văn hiện có nào đáp ứng được nhu cầu biểu lộ, diễn tả, tôi sẵn sàng bịa ra, sáng tác…một lối mới, thể văn mới. Thí dụ như thời làm lính trấn thủ lưu đồn, tôi thấy thể tuỳ bút được đấy nhưng gò bó trong tình cảm, tôi phá lệ luôn, viết như tuỳ bút nhưng pha trộn cả lý luận, nhận định chính trị đôi khi triết lý nữa, như “Mười ngày phép của một người lính”, “Đoạn dường chiến binh”. Không biết đặt tên thể văn mới là gì, tôi gọi tạm là “đoản văn”, không ngờ đó là thể văn thích hợp với thời hiện đại. Bên Trung quốc đã có nhà văn nổi tiếng bằng thể loại này và gần đây nhất ở hải ngoại có Song Thao thành công với những tập đặt tên là “Phiếm”.
Một thí dụ khác, là phê bình. Gần đây nhà văn Nguyễn Hưng Quốc liệt kê tới 13 trường phái phê binh khác nhau, tôi chỉ đọc qua cho biết, rồi vẫn viết theo lối riêng, gọi tên đùa là chủ-quan-tôi, vì dựa trên cá nhân, resume người viết là chính: cảm thấy sao, hay chỗ nào…cứ thế viết ra thôi. Đại khái như Lệnh Hồ Xung sử dụng độc cô cửu kiếm vậy. Chị có thể thấy thí dụ lối viết này qua bài tôi viết về Nguyễn Ngọc Tư, Phùng Khánh Minh…gần đây.
Đạm Thủy: Xin anh cho biết khi anh chọn một đề tài, câu hỏi nào dến với anh trước nhất: Viết cái gì, hay là viết cho ai?
Thế Uyên: Hai câu hỏi của chị chỉ đến với tôi có một thôi, vì tôi có điều muốn nói, có truyện muốn kể, mới ngồi vào bàn viết. Không có mục các nhà văn tiền chiến hay kể lại, là không biết viết gì. Còn “viết cho ai” có lẽ chỉ thích hợp cho những nhà văn nội địa trong đó có cả tôi trước kia. Còn khi đã rời quê hương cũ tới làm lại cuộc đời nơi vùng đất mới, mọi sự trở thành hỗn độn, mờ mịt, không sao dịnh hình được mình viết cho ai, vì ai…Lý do : cộng đồng Việt quá phức tạp. Đã thế khi tôi đến nơi đã có sẵn hơi nhiều định đề tiền chế, nhiều giấc mơ lớn nhỏ cứ bắt người đến sau phải chấp nhận như là có thật, thí dụ như giấc mơ phục quốc, hay nhiều thứ chống Cộng hoang tưởng hay giả vờ chống Cộng khác. Bởi thế sau cùng tôi chọn giải pháp viết cho mình trước đã, sau đó mới nghĩ đến độc giả. Nếu người đọc thấy đường được, vui vui là tác giả thấy OK vì một trong những mục đích của văn chương là giải trí “mua vui cũng được một vài trống canh’ (Nguyễn Du). Ngoài ra tôi còn có một nhược điểm là tính chân thật nên đôi khi viết một số bài có tính cách giải huyền thoại, có thể làm phiền lòng các tín đồ cuồng tín các đạo, chọc giận những vị hay buôn bán mộng mơ cho bà con cô bác hải ngoại, nên cũng bị một số người không ưa, không ưa đến độ có vị mất công bay về tận Hà nội mua sỉ và lẻ nón cối, chụp cho đôi khi…
Đạm Thủy: Nối tiếp câu hỏi bên trên, khi viết một đoản văn, một tập truyện ngắn hay dài, một bài dịch, anh nghĩ đến nói chuyện với chính mình, hay đối tượng trong đề tài, hoăc giả có bao giờ tưởng tượng đến độc giả đang đứng trước mặt hay không? và số độc giả đó là những người nào?
Thế Uyên: Tôi rất tiếc là phải trả lời không, không liên tiếp cho chuỗi câu hỏi trên của chị. Vả lại một bài văn đã viết và in ra rồi, làm sao biết được những ai sẽ đọc nó đây? Chỉ biết tương đối chắc một điều: người đó hẳn biết đọc, viết chữ Việt thông thạo và có một trình độ văn hoá nào đó. Văn tôi viết không phải ai đọc cũng thích.
Đạm Thủy: Giữa một bài viết kích dâm viết thành công, và một bức tranh lõa thể bán giá cao nhất, cái nào có giá trị nghệ thuật hơn? Có phải “ nghệ thuật” là mức đo giá trị của một tác phẩm văn nghệ hay còn một yếu tố nào tiềm ẩn nhưng quan trọng hơn?
Thế Uyên: Về câu hỏi thứ nhất, tôi chịu không biết trả lời sao. Chỉ biết nếu có cả hai thứ đó trong phòng, tôi sẽ xem tranh trước, đọc bài văn sau (xem tranh thì nhanh, đọc văn chậm hơn). Về câu hỏi sau, ngoài nghệ thuật còn có thể có những yếu tố khác, thí dụ như tác giả tiềm ẩn trong tác phẩm một thông điệp nào đó, hay tác phẩm đã chuyên chở một đạo lý nào đó (văn tải đạo) hợp ý với người đọc .
Đạm Thủy: Văn phong có thể ảnh hưởng từ các bài đọc. Nhà văn Thế Uyên thích đọc loại văn nào? Xin anh cho biết vài tác phẩm mà anh thích đọc nhất.
Thế Uyên: Tôi tuổi Hợi, cầm tinh con heo rừng ăn tạp, bởi thế về đọc sách, cũng đọc tạp, nghĩa là thích đọc đủ loại, tùy theo từng thời kỳ. Về tiểu thuyết cũng vậy, nhưng tôi có thể kể vài ba cuốn tôi đã từng thích, đọc đi đọc lại nhiều lần: Gone With The Wind, Jane Eyres, hay Of Human Bondage của Somerset Maugham…đại loại như thế, không có gì đáng chú ý. Gần đây tôi hay đọc các nhà văn trẻ, nhất là phía nữ.
Đạm Thủy: Trong bài “Lời động viên của E.A. Poe” (Tia sáng , Hà nội, số Xuân năm 2002), Ngô Tự Lập cho rằng sự kém cỏi của văn chương VN “chủ yếu xuất phát từ những sai lầm cho rằng văn chương là tiếng nói tình cảm, rằng viết văn chính là cách giải toả bức xúc”.
Nhà văn Thế Uyên có những nhận xét gì về câu nói trên.
Thế Uyên: Tôi không biết ông Ngô Tự Lập là ai nhưng câu “cho rằng sự kém cỏi…”, đọc qua đã thấy có “khẩu khí một đảng viên CS trung kiên”. Tôi tự cho phép mình bất đồng ý với ông Lập và cho rằng chính Đảng CS từ lúc thành lập đã không cho văn chương là, làm tiếng nói của tình cảm (cá nhân), là cách giải toả bức xúc (của nhà văn và nhiều người khác), nên Đảng đã sản xuất ra một nền văn học xhcn tồi tệ, một nền văn học thuần tuý tuyẽn truyền phục vụ cho những mục tiêu giai đoạn, trừ một thời kỳ ngắn có Nhân văn Giai phẩm. Chính thơ văn của hai tạp chí vừa kể đã gỡ được một trái danh dự cho “sĩ phu Bắc Hà”, và văn học Đàng Ngoài 1950-1986. Phải đợi tới giữa thập niên 80, có chính sách “Đổi Mới” với những khoảng khắc cởi trói, mới thấy lại xuât hiện những tác phẩm khá, đọc được.
Đạm Thủy: Trong bài viết “Trao đổi văn chương” của Nguyễn văn Thọ cũng trong số Xuân Tia Sáng đã dẫn trên, tác giả đề cập đến câu nói của nhà phê bình văn học Đặng Tiến khi trích những câu thơ hay của Nguyễn Bính và Bùi Giáng nhưng bảo rằng chưa tuyệt phẩm vì có những nguời khác cũng viết hay như thế. Ông nói thêm “thiên tài (nghệ thuật) không phải là không bắt chước ai mà là không ai bắt chước được”. Chúng tôi lại nghe người Trung hoa có câu nói: “Văn không có hạng nhất, võ không có hạng nhì”, anh nghị luận thế nào về các tư tưởng này?
Thế Uyên: Câu hỏi này phức tạp và vì tôi không hiểu rõ chủ đề, chủ ý người hỏi, nên không dám trả lời trực tiếp, nghị luận lại càng không nữa vì e bị mắng… Chỉ xin góp vài ý riêng, loại quanh quẩn, nhàn đàm. Về Nguyễn Bính, thời ít tuổi tôi có đọc và thich thơ ông vì nhịp điệu lục bát êm đềm, chữ dùng giản dị như ca dao. Khi đã lớn, tâm hồn phức tạp hơn, tôi không còn thích nữa. Còn Bùi Giáng, một người đồng thời với tôi, sống ở Sài gòn, nhưng không vì thế mà tôi biết rõ. Lý do: tôi không thích gần những người tâm trí không bình thường, dù là nhà văn như Nguyễn Ngu Í hay nhà thơ như Bùi Giáng. Tôi vẫn đọc những điều họ viết, nhưng chơi thì không.
Đọc thơ Bùi Giáng thường vất vả như lựa đậu phọng khỏi một bó rơm rạ: nhiều cặp lục bát tuyệt diệu, kéo người đọc vào cõi siêu hình hay chiều thời gian, lẫn vào những câu thơ thường, đôi khi lẩm cẩm. Tôi cũng xin nói rõ khi thi sĩ này dở thói “đười ươi” ra, như ước ao được thấm nước tiểu của các nữ nhân nhan sắc hay được thấy các vị đó đó tuôn ra giòng golden stream, tôi không thấy khó chịu. Coi như truyện đời thường thôi, như một tục ngữ Pháp đã nhận xét : Tous les gouts sont dans la nature. Đọc báo nội địa tường thuật ngày chôn nhà thơ không giống ai này, có cả tài tử Kim Cương đứng bên huyệt mộ, tôi không thể không nghĩ cô tài tử này cũng là người Bùi Giáng mong sẽ, mong bằng lời thơ hẳn hoi, vén quần “đái lên mồ tại hạ”…
Đạm Thủy: Nếu năm 1975 không có biến cố chính trị, nhà văn Thế Uyên có thể đang viết những đề tài nào. Nói cách khác, biến cố 1975 có ảnh hưởng đến tư duy (nếu có, ở mức độ nào) của anh trong các sáng tác?
Thế Uyên: Biến cố 1975 không chỉ là “biến cố chính trị” như chị gọi, mà là một cái gì to lớn và toàn diện hơn nhiều. Dân miền Nam bị bộ đội và Công an miền Bắc cưỡng bách làm một bước nhẩy vọt lui về quá khứ đến ít nhất là 50 năm, bị nắm cổ áo bắt phải đi vào thứ văn hoá văn minh đỏ. Và quan trọng hơn là, miền Nam vốn là miền sản xuất thặng dư lúa gạo để xuất cảng, nay phải ăn độn khoai sắn, thức ăn của gia súc như bo bo…để chóng tiến mau tiến mạnh lên chủ nghĩa xã hội , nơi mà ai cũng “được” ăn đói ăn thiếu như ai. Ngay ở Hà nội, trong thời bao cấp, các cán bộ Trung Ương Đảng được cấp tem phiếu đặc biệt, cũng chỉ ăn cơm với cơm, không phải bữa nào cũng có thịt có cá, còn đường sữa dù được nhiều hơn nhân dân, nhưng cũng chỉ đủ dùng cho gia đình…Các cán bộ Đảng vào Nam hay dùng từ “đổi đời”, là hoàn toàn đúng. Cái gì cũng thay đổi hết, không phải chỉ ông hoá ra thằng, thằng hoá ra ông mà thôi đâu. Tất cả nhằm mục đích làm sao cho dân cái gì cũng lệ thuộc vào Đảng, sợ Đảng như sợ ma quỉ, suốt ngày đêm chỉ lo nhắc đi nhắc lại những điều Đảng muốn…Tóm tắt, đúng như trong cuốn sách cổ điển “1984” của George Orwell (không hiểu sao một tác phẩm quan trọng của văn chương hiện đại như vậy, chưa ai dịch ra Việt ngữ, chỉ thích cuốn “Trại súc vật” cũng của tác giả này).
Trở lại câu hỏi của chị, một “đổi đời” lớn và toàn diện như thế sao không ảnh hưởng đến tâm hồn thể xác, quan niệm sáng tác…của tôi cho được, nhất là tôi phải sống ba năm trên trại cải tạo và 9 năm thời kỳ bao cấp, nghĩa là “đỏ” nhất của chế độ xhcn VN. Kể ra hết những đổi thay ấy, chắc phải viết thêm một cuốn sách nữa. Chỉ xin kể một vài thay đổi nơi cả hai vợ chồng tôi sau khi ra thoát cái chế độ kỳ cục và bệnh hoạn nhất loài người có thể nghĩ ra được: Xưa, bọn tôi cảm tình với mọi cuộc cách mạng, nay thì cùng dị ứng với cách mạng, coi phim nào có xuất hiện khăn quàng đỏ, là tắt phụt. Xưa, cảm tình với mọi cảnh nghèo khổ, nay thích cảnh giàu sang phú quí người người khoẻ mạnh đẹp trai đẹp gái, dĩ nhiên trong phim ảnh…Và phần riêng tôi, khi đọc báo biết cách mạng, nhất là cách mạng đỏ, thành công ở xứ nào Phi châu, Nam Mỹ, tôi không khỏi ngậm ngùi thương cảm cho dân tộc đó vì họ sắp đói khổ hơn xưa. Trước, chỉ đói khổ một, bây giờ sẽ đói khổ mười lần nhiều hơn. Chỉ có dư một thứ không ăn được, là khẩu hiệu…
Sau khi bản thân đã sống nhiều năm trong xã hội đỏ, tôi hết tin tưởng vào mọi thứ cách mạng bạo lực, đổ máu, kể cả những thứ cách mạng phục quốc, quang phục quê hương. Chỉ còn cảm tình với cách mạng cung đình, cách mạng nhung, cách mạng tiệm tiến, diễn tiến hoà bình.
Bây giờ về bút pháp tôi trở lại cổ điển, thích kể truyện khề khà như Somerset Maugham. Nhường việc thí nghiệm những cách viết mới cho lớp trẻ, như Thấm Vân, Đình Đình…Lớp sóng sau đè lớp sóng trước, tre già măng mọc, là tốt (chứ không phải “hơi tốt” hay “cũng tốt thôi” ). Xin nói thêm sau những năm xhcn, tôi dễ tính dễ sống hơn và cũng học hỏi được ít điều tích cực…Thí dụ như chúng ta ăn nhiều quá, chân thật và nhân đạo quá, so với những người Cộng sản.
Đạm Thủy: Trong những truyện dài, người văn sĩ thành thạo thường có một lộ đồ trước khi khởi hành, hay phải để cho cốt truyện dẫn đường đi cho tác giả? Theo anh, người viết “thành thạo” có nhất thiết là người viết “thành công”
Thế Uyên: Cả hai thứ thưa chị. Vậy mà kinh nghiệm riêng cho biết nhiều khi tôi kết luận khác với nhừng dự trù ban đầu. Còn thành công hay không, không “nhất thiết” được. Còn tuỳ nhiều yếu tố khác nữa.
Đạm Thủy: Đọc một trích đoạn rất lý thú sau đây, chúng tôi liên tưởng đến những đoạn tả tình “cụp lạc” trong các tác phẩm của nhà văn Thế Uyên. Xin anh cho biết phản ứng của anh về quan niệm hôn nhân được đề cập trong ấy (một trong những bức thư của cố Tổng thống Reagan, viết thư an ủi và khuyên nhủ người bạn cùng quê Florence Yerly về cuộc sống, tình yêu, chuyện chăn gối và số phận).
“…Một ông già rất tốt bụng đã chỉ cho tôi con đường đúng bằng cách dẫn ra tập quán, hay đúng hơn là các chuẩn mức đạo đức của những thổ dân chưa từng tiếp xúc với nền văn minh của chúng ta –chẳng hạn người (quần) đảo Polynesia. Những người này thực sự là những đứa con của Thiên nhiên, và vì vậy cũng là con của Chúa., họ chấp nhận ham muốn thể xác là một một lạc thú tự nhiên, bình thường, cần được thoả mãn không có gì phải sợ sệt, không có màu sắc tội lỗi bao quanh hay những tiếng thì thầm lén lút trong bóng tối…
Điều tôi muốn nói là tôi phản đối những giáo điều của một số tổ chức tôn giáo coi hôn nhân là một quan hệ tội lỗi “được tha thứ” nhằm cho mục đích sinh con, và tin rằng tất cả trẻ em đều được sinh ra trong tội lỗi. Cá nhân tôi tin Chúa không tạo ra cái xấu, bởi vậy những ham muốn Người reo vào lòng chúng ta đều tốt lành và quan hệ thân xác với một đàn bà là hình thức cao nhất của tình tri kỷ …”
Thế Uyên: Dĩ nhiên là tôi đồng ý với Reagan trên nguyên tắc ngay từ căn bản, vì tôi là người không-công giáo, chịu ảnh hưởng hơi nhiều của đạo Khổng. Các cụ Việt nam xưa đã từng minh định : “Có âm dương có vợ chồng, Dẫu trong thiên địa cũng vòng phu thê” (Nguyễn Gia Thiều). Sex không là xấu hay tốt chi cả, không nên đặt vấn đề đạo lý ở đây, mà chỉ nên đặt vấn đề thực tiễn là điều hoà sex như thế nào tốt nhất cho con người và xã hội hắn đang sống. Và luôn luôn ghi nhớ rằng những qui tắc điều hoà đó phải thay đổi theo không gian và thời gian, nhất là sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật. Đừng cứng ngắc, bất biến vì như thế biến thành giáo lý thần thánh cho một tôn giáo nào đó.
Đạm Thủy: Với sự phát triển và thông dụng của ngành điện tử ngày nay, kiến thức của mỗi người có thể được tràn ngập nhiều hay ít tùy theo ý muốn và khả năng thu thập của mình từ các mạng thông tin . Anh có thấy điều gì phiền toái (về tác quyền chẳng hạn) đối với sự phát triển này không?
Thế Uyên: Các website Anh Mỹ Pháp …chắc có mục tác quyền cho những người cộng tác, nhất là các website có tính cách quảng cáo thương mại. Đối với các website tiếng Việt ngoài nước kiểu như Tiền Vệ, Da màu, Talawas…tôi chưa được nghe ai nói tới tác quyền. Chắc các người hợp tác đều theo tinh thần “trước vui thích sau làm việc nghĩa”. Còn các website về sex, như Tình đơn phuong, Cõi thiên thai, Con heo, Cô gái Việt… có tôn trọng và trả tác quyền không, tôi chưa được biết, và nếu vẫn là không xin phép không trả thì không có gì ngạc nhiên: cái nạn piracy hiện nay là quốc tế rồi.
Đạm Thủy: Anh còn vấn đề văn học nào làm anh trăn trở trong thời gian còn lại của một nhà văn già?
Thế Uyên: Đã là một nhà văn đã già, tôi ít có vấn đề phải “bức xúc trăn trở” về văn học. Ai muốn viết sao cũng được cả, miễn là hay, đọc không chán là được rồi. Dĩ nhiên tôi vẫn để ý tới văn học trong nước và ngoài nước, ‘nghề của chàng” mà, nhưng “trăn trở” thì không. Vẫn giành nhiều thì giờ đọc và viết về những nhà văn, nhất là nữ, như Thấm Vân, Dương Như Nguyện, Lynh Bacardi, Nguyễn Ngọc Tư…
Gần đây, mưa gió đầy trời, không gian là vàng tơi tả, làm chợt nhớ tới những bạn văn đồng thời, bèn kiếm e.mail hỏi thăm một lượt. Nhật Tiến, Lê Tất Điều , Nguyễn Mộng Gíác …đều OK. Võ Đình vừa giải phẫu mắt đang phục hồi, trả lời bằng cỡ chữ 18 và yêu cầu tôi lần sau viết to hơn, mặc dù tôi từ lâu đã viết bằng size 14. Khánh Trường mới email tôi bằng cỡ chữ không thua kém Võ Đình , cho biết chỉ còn sử dụng được một ngón tay phải (tôi may hơn, còn tới những năm ngón bàn tay trái)…Toàn những “cát bụi mệt nhoài” (Trịnh Công Sơn), “used car” đã chạy trên 300,000 miles cả rồi…Không có gì để buồn nhiều, Phật có nói một câu ở đâu đó, làm người đâu ra khỏi vòng “sinh tử lão bịnh”…Bởi vậy tôi rất chịu câu chót trong email của Khánh Trường: còn viết văn được là hạnh phúc.
Bothell tháng 11, 06

bài đã đăng của Đạm Thùy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)