Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 11 Email bài này

Nhìn qua một số nền văn học da màu ở Hoa Kỳ: Văn chương di dân Triều Tiên

biên khảo
Trần Hữu Thục
Văn chương di dân Triều Tiên: Chang-rae Lee

Người Triều Tiên biết đến nước Mỹ rất sớm, sớm hơn rất nhiều so với người Việt Nam. Năm 1882, một hiệp ước hòa bình, hữu nghị và thương mại được ký kết, đánh dấu sự thiết lập quan hệ chính thức giữa hai nước. Sau đó, lần lượt các nhà ngoại giao, những kẻ lưu vong chính trị, các thương gia và sinh viên du học đến Hoa Kỳ để làm việc, buôn bán và học hành.
Nhưng phải đến năm 1903, nước Mỹ mới ghi dấu bước chân đầu tiên của những người Triều Tiên đến định cư ở đây. Từ đó đến nay, người ta ghi nhận có ba đợt di dân:
– Đợt đầu từ năm 1903 đến 1905. Đợt này gồm những người – hầu hết là đàn ông – đến làm việc tại các đồn điền trồng mía ở Hạ Uy Di. Ông Lý Thừa Vãn cũng đến Hoa Kỳ vào giai đoạn này để du học và trở thành lãnh tụ của phong trào giành độc lập. Ông trở về nước và làm tổng thống đầu tiên của Đại Hàn Dân Quốc – tức là Nam Hàn hay bây giờ được gọi một cách trân trọng là Hàn Quốc – từ năm 1948, trở thành nhà độc tài và bị sinh viên nổi dậy lật đổ năm 1960.
– Đợt hai bắt đầu từ năm 1950, lúc cuộc chiến Triều Tiên bùng nổ với hàng trăm ngàn lính Mỹ hiện diện để chống lại Cộng Sản Băc Hàn và chí nguyện quân Trung Quốc. Khi chiến tranh chăm dứt năm 1953, thường xuyên vẫn có hàng chục ngàn quân Mỹ đóng ở đó để bảo vệ. Những mối tình Triều Tiên-Mỹ phát sinh, mang cả trăm ngàn “bà vợ lấy chồng ngoại quốc” (internationally maried women) – hay còn được gọi là những “cô dâu quân đội” (military brides) – cùng con cái họ đến định cư tại Hoa Kỳ. Thêm vào đó, tính đến năm 1989, có đến 300 ngàn trẻ em Triều Tiên khác được nhận làm con nuôi, đến Mỹ. Những cư dân mới này phân tán đi định cư ở khắp các vùng nông thôn hay ngoại ô, thường là gần các căn cứ quân sự, hình thành nên những cộng đồng riêng, tách khỏi cộng đồng di dân Triều Tiên gốc. Thế hệ con cái họ, về sau này, lớn lên bắt đầu nói lên kinh nghiệm của họ. Họ thành lập nên các hiệp hội quốc tế và quốc gia, tổ chức hội thảo, sinh hoạt và xuất bản báo chí, thơ văn, chứng tỏ sự hiện diện văn hóa của mình.
– Đợt thứ ba bắt đầu từ năm 1967, khi đạo luật Di Dân 1965 (Immigration Act) ra đời. Người Triều Tiên đến Mỹ hàng loạt để đoàn tụ gia đình hay làm việc.
Theo thống kê dân số năm 2000, có khoảng từ 1 triệu đến 1 triệu 200 ngàn người Triều Tiên gốc Mỹ, kể cả con lai, sống rải rác khắp nước, đông nhất là ở California, New York, rồi đến New Jersey, Illinois, Washington State, Texas, Maryland, Pennsylvania và nhiều nơi khác.
Năm 2003, cộng đồng di dân Triều Tiên trên toàn nước Mỹ làm lễ kỷ niệm 100 năm tổ tiên họ đến định cư tại đất nước này.
Với một lịch sử định cư lâu dài như thế, thì nếu người Triều Tiên có những đóng góp lớn lao cho đất nước này là điều không có gì đáng ngạc nhiên. Ấy thế nhưng chỉ mới đến mấy thập niên gần đây, người ta mới lưu ý đến hiện tượng “Triều Tiên”. Lý do chính một phần có lẽ cũng xuất phát từ sự trỗi dậy khá ngoạn mục của “mẫu quốc” Nam Triều Tiên bên kia bờ đại dương. Hiện nay, số những người Mỹ gốc Triều Tiên viết văn bằng tiếng Anh nổi tiếng khá nhiều như Don Lee, Heinz Insu Fenkl, Linda Sue Park, Richard E. Kim, Susan Choi, Leonard Chang vân vân. Nhưng Chang-rae Lee – cùng với Amy Tan, Gish Jen và Ha Jin (cả ba đều gốc Trung Hoa) – là những khuôn mặt sáng giá đuợc truyền thông chính mạch chú ý nhất trong số các nhà văn gốc Á Châu.
Lee nhỏ tuổi hơn Ha Jin (về Ha Jin, xem damau.org số ra mắt ngày 10/8/2006), viết không nhiều bằng (mới chỉ in có ba tác phẩm) và tuy không đoạt được giải thưởng văn học quốc gia (National Book Award) như Ha Jin, nhưng cũng đoạt khá nhiều giải thưởng văn chương khác. Ngoài ra, trong lúc Ha Jin chỉ chú tâm viết về nước Trung Quốc Cộng Sản thì đề tài Lee đưa vào xây dựng truyện được đánh giá là “nặng ký” hơn, có tính hiện thực cao và văn phong thì “Mỹ” hơn, không thua gì một nhà văn Mỹ chính gốc.
Chang-rae Lee sinh ngày 29 tháng 7 năm 1965 tại Hán Thành, thủ đô Nam Triều Tiên (tức Đại Hàn). Gia đình di cư sang Mỹ khi ông mới lên ba tuổi. Ông lớn lên ở Westchester, New York và theo học đại học Phillips Exeter Academy dành cho những sinh viên ưu tú tại New Hampshire rồi chuyển qua Yale. Tốt nghiệp đại học môn Anh Văn tại Yale, ông học tiếp và tốt nghiệp bộ môn sáng tác văn chương tại đại học Oregon. Ra trường, ông làm việc tại khu Wall Street với tư cách là một chuyên viên phân tích tài chánh một năm, sau đó dành hẳn thì giờ cho sáng tác. Hiện ông là giám đốc của Chương trình Sáng Tác tại đại học Princeton và phụ trách giảng dạy về lớp sáng tác tại đó.
Tác phẩm đầu tay của ông là Native Speaker (Người nói tiếng bản xứ), nxb Riverhead Books, 1995, liên tiếp đoạt nhiều giải thưởng và bằng khen, trong đó có các giải văn bút PEN/Hemingway Award, American Book Award, Great New Discovery Writers Award, Oregan Book Award, Barnes & Noble Award. Tác phẩm cũng được chọn vào danh sách chung kết (finalist) giải National Book Award. Ngoài ra, Native Speaker còn được tạp chí New York Times vinh danh là một trong những tác phẩm hay nhất năm 1995 (Year’s Best Book). Tác phẩm đã được dịch sang tiếng Triều Tiên và Ý.
Bốn năm sau, ông cho ra đời tác phẩm thứ hai, A Gesture Life (Ngoại diện), nxb Riverhead Books, 1999. Tác phẩm này đã được Jean Pavans dịch sang tiếng Pháp, tựa đề “Les sombres feux du passé” (nxb Olivier,2001).
Tác phẩm thứ ba, Aloft (Lơ lửng) nxb Penguin Group, New York, ra đời vào năm 2004.
Ngoài truyện dài, Lee còn viết nhiều truyện ngắn, đăng tải trên các tạp chí văn học nổi tiếng Hoa Kỳ như The New Yorker, The New York Times, The Best American Essays và xuất hiện trong nhiều tuyển tập truyện ngắn Hoa Kỳ. Tạp chí The New Yorker vinh danh ông là một trong 20 nhà văn của thế kỷ 21.
Điểm đáng chú ý đầu tiên trong các tác phẩm của Lee là văn phong. Theo nhận xét của một số nhà nhà phê bình thì ông có một văn phong sắc sảo, nhạy bén, nhất là khi mô tả các xúc động. Không khí truyện lúc nào cũng phảng phất một nét trào lộng tinh tế. Những hành vi, cử chỉ, thái độ biểu lộ các trạng thái nội tâm thường xuyên bị dằn vặt, được Lee viết với một thứ tiếng Anh hoàn chỉnh, tự nhiên, sắc bén và đầy ấn tượng. Hình ảnh và ngôn ngữ sống động, trực tiếp, ít sử dụng ẩn dụ. Nói chung, chủ đề chính của các tác phẩm là sự xung đột; trong Native Speaker là xung đột về văn hóa giữa quê hương cũ và quê hương mới, trong A Gesture Life là sự xung đột nội tâm giữa hiện tại và quá khứ, giữa ý thức và vô thức; và trong Aloft là xung đột trong cá nhân con người.
* Native Speaker (Người nói tiếng bản xứ): Lee viết tác phẩm này lúc 28 tuổi. Không khí toàn truyện là sự căng thẳng giữa một bên là nỗ lực hội nhập với xã hội mới và một bên là sự trì kéo tự nhiên của di sản văn hóa gốc của người di dân. Với lối diễn tả khá sôi nổi tạo nên không khí hồi hộp của những âm mưu y như trong các tiểu thuyết hình sự, Native Speaker là một kết hợp giữa đề tài muôn thuở của tình yêu và gia đình với ý tưởng về sự chuyển dịch văn hóa (dislocation of culture). Nói chung, đó là sự vong thân văn hóa tiềm ẩn của hiện tượng di dân. Nhân vật chính trong truyện, Henry Park, không thể xác định chắc chắn về vị trí của mình trong cuộc sống. Anh là một kẻ xa lạ, một kẻ ngoại cuộc vĩnh cửu (perpetual outsider), tuy sống hết mình để đồng hóa với xã hội Mỹ nhưng mãi mãi cái xã hội đó vẫn là một thứ “kính nhi viễn chi”, theo nhận định của Vogue. Đó là một người của hai thế giới khác biệt cùng một lúc – vừa thuộc về cả hai, nhưng đồng thời phản bội cả hai. Anh dành hết nỗ lực trong cuộc sống chỉ để thực hiện một điều: trở thành một người Mỹ thực thụ, một native speaker, nghĩa là một người giống y chang như người bản xứ. Nhưng điều bất hạnh là, mãi mãi xã hội này vẫn xem anh như là con hoang trong lúc gia tài văn hóa truyền thống của anh thì trôi dạt khỏi anh càng lúc càng xa.
Henry Park là con của một gia đình di dân Triều Tiên. Vì đến Hoa Kỳ từ lúc còn nhỏ, nên hầu như cuộc sống của anh chẳng khác gì một người Mỹ chính gốc. Anh lấy một cô vợ Hoa Kỳ, có một đứa con trai. Khi lên 7 tuổi, đứa nhỏ bị tai nạn chết. Cuộc sống vốn dĩ chẳng mấy êm ấm của đôi vợ chồng, gặp phải biến cố này, trở nên một cú sốc khủng khiếp, khiến Leila, vợ anh, bị suy sụp tinh thần hoàn toàn và đưa đến đổ vỡ. Thực ra, sự đổ vỡ này có một nguyên nhân sâu xa hơn: khác biệt về văn hóa. Tuy yêu Henry và tuy Henry rất “Mỹ”, cô vợ Leila lúc nào cũng nhìn anh như một người Triều Tiên qua liên hệ của chồng với gia đình nhà chồng, ở đây, là với cha của Henry, một người cha rất “Triều Tiên” mà trong thâm tâm anh coi thường, nhưng bên ngoài, anh vẫn phải tỏ ra kính trọng theo truyền thống văn hóa đông phương. Sau khi tốt nghiệp đại học, anh được tuyển làm mật vụ viên cho một công ty tình báo tư và được giao một nhiệm vụ tréo cẳng ngổng: điều tra một nhân vật chính trị Mỹ gốc Triều Tiên nổi tiếng và có uy tín trong cộng đồng hiện đang nhắm tranh ghế thị trưởng New York, tên là John Kwang, nhằm mục đích đánh đổ tham vọng của người này. Tất nhiên, anh hào hứng nhận nhiệm vụ. Nhưng càng tìm hiểu Kwang, anh lại càng khâm phục người đàn ông này vì Kwang là khuôn mặt điển hình của một người cha mà anh mơ ước: khác với cha anh, ông ta quyết định rủ bỏ tất cả di sản văn hóa Triều Tiên trong huyết quản để được hoàn toàn đồng hóa vào xã hội mới.
Henry lâm vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan. Cuối cùng, do thủ đoạn của các đối thủ chính trị, khi Kwang bị tố cáo là có những hoạt động tài chánh bất hợp pháp, Henry đau đớn đứng về phía luật pháp (có nghĩa cũng là đứng về phía xã hội mới) chống lại người mà anh ngưỡng mộ. Kwang thất bại, trở về lại Triều Tiên, hoàn toàn từ bỏ giấc mơ trở thành người thị trưởng New York sinh trưởng ở nước ngoài đầu tiên. Trong lúc đó, Henry cũng chịu đựng một sự đau khổ tương tự. Dù nói tiếng Anh y như Mỹ, anh cuối cùng tìm thấy anh chẳng thể nào trở thành một người Mỹ thực sự, một “native speaker”. Vì “anh tìm thấy giọng phát âm rất Mỹ của anh và khuôn mặt đầy chất di dân Châu Á luôn là một hỗn hợp kỳ quặc” (He finds the white sounds coming from his lips and immigrant face a strange mix).
Lee xây dựng nhân vật Henry “khá phức tạp, đời sống có vẻ kỳ dị. Một nhân vật nhiều mặt, nhưng lôi cuốn” (a multi-faceted and fascinating protagonist), theo một bài điểm sách trong tạp chí Eugene Weekly. Anh ta làm bối rối người đọc từ đầu chí cuối vì những mâu thuẫn gần như thường xuyên trong hành động và suy nghĩ của anh. Anh luôn luôn tranh đấu với chính mình, cố hình dung cái căn cước thực sự của mình. Thực tế là anh chẳng thuộc Triều Tiên cũng chẳng thuộc Mỹ. Anh là một “chênh vênh”. Mặc dầu sống trong một gia đình di dân, anh biết rất ít về văn hóa và ngôn ngữ của quê hương cũ. Và mặc dù anh nói tiếng Mỹ giỏi, sống kiểu Mỹ, anh vẫn có cảm giác bất toàn, là một loại “người Mỹ khiếm khuyết”. Bởi thế, anh luôn bị khủng hoảng, không lúc nào anh cảm thấy mình là một người con, một người cha hay một người chồng thực sự.
Frederick Busch, một nhà điểm sách, nhận xét về Native Speaker: “Từ thứ tình yêu bị thương tổn của những người Mỹ gốc Á Châu đối với quốc gia của họ, từ nhịp điệu trầm bổng và lối phát âm xì xào của ngôn ngữ chúng ta, Chang-rae Lee đã viết nên những điệu nhạc blues mới cảm động và hồi hộp. Thứ âm nhạc này đưa câu chuyện của những điệp viên, những chính trị gia và những người yêu nhau vào trong một tác phẩm vừa đẹp một cách khác thường lại vừa đau đớn”.
* A Gesture Life (Ngoại diện): Tác phẩm này được dịch sang tiếng Pháp với tựa đề “Les sombres feux du passé” (những ngọn lửa u tối của quá khứ) làm rõ nghĩa hơn nội dung của tác phẩm. Cũng đề cập đến sự xung đột, nhưng ở đây, chủ yếu là xung đột nội tâm giữa cuộc sống hiện tại và ám ảnh từ quá khứ, một quá khứ đầy khúc mắt. Đề tài ít nhiều mang tính phân tâm. Tuy thế, trong quá trình dựng truyện, Lee không chỉ giới hạn trong đề tài đặc thù này mà triển khai rộng hơn, xa hơn khiến mối xung đột trở nên phức tạp và vì thế, A Gesture Life là sự đan xen lẫn nhau giữa nhiều mối xung đột: chủng tộc, thế hệ và văn hóa. Ngay nhân vật chính, ông già Franklin Hata, cũng đã phức tạp hơn Henry của Native Speaker nhiều. Hata là người Triều Tiên, lại được một gia đình Nhật nuôi làm con nuôi, sau này trở thành sĩ quan trong quân đội Nhật, hết chiến tranh sang Mỹ định cư và trở thành người Mỹ. Trong nhân vật Hata, có đến ba nền văn hóa pha trộn lẫn nhau. Cuộc sống của ông luôn luôn là một cuộc tranh đấu: lúc nhỏ, tranh đấu để hội nhập với văn hóa Nhật, về già tranh đấu để hội nhập vào nền văn hóa Mỹ, đồng thời tranh đấu để cách ly với quá khứ, một quá khứ đầy bi kịch khi, trong chiến tranh, một Hata sĩ quan Nhật phải coi sóc cho những người đàn bà Triều Tiên bị Nhật bắt đi làm nô lệ tình dục cho binh lính Nhật.
A Gesture Life diễn tiến qua hai tuyến thời gian khác nhau: một xảy ra trong hiện tại và một là những đoạn hồi tưởng về quá khứ. Truyện mở đầu với ông già Hata 70 tuổi, một người Mỹ gốc Nhật, từ năm 1963, đến cư ngụ tại một thành phố nhỏ ở ngoại ô New York. Ông sống cuộc sống rất bình thường, rất đàng hoàng và có lẽ là rất hạnh phúc. Vì không có gia đình, ông nuôi một đứa con gái nuôi gốc Triều Tiên và có một người tình tạm bợ là một người đàn bà Mỹ láng giềng. Dưới con mắt mọi người, Hata sống mẫu mực, lịch sự, lúc nào cũng tỏ ra tốt bụng. Đó là một người đàn ông muốn được thừa nhận như một công dân tốt, một người bạn tốt và một người tình, người cha tốt. Ông luôn luôn muốn bảo vệ thanh danh của mình. Một cuộc sống với những hành vi, cử chỉ bên ngoài được tính toán thận trọng, nghiêm túc – một “gesture life”. Nhưng đó là một người cô đơn tột cùng. Các hành vi, cử chỉ đó chỉ để che đậy một nội tâm đầy sóng cuộn: ám ảnh ghê gớm của quá khứ. Hồi chiến tranh, ông được giao nhiệm vụ coi sóc những người đàn bà làm nô lệ tình dục cho quân đội Nhật (comfort women). Lúc đầu, ông cố gắng chu toàn nhiệm vụ của một người chuyên môn. Nhưng về sau, ông phá rào, quan hệ tình cảm với một người trong số đó. Mối tình bất bình thường này để lại những di lụy. Và chính những di lụy đó đã đầu độc tất cả các quan hệ sau này trong cuộc sống bình thường của ông. Ông càng cố gắng quên, càng cố gắng tách khỏi thì quá khứ đó, bằng những ngõ ngách vô thức, liên lỉ trồi lên, chi phối cuộc sống của ông. Ông không thể nào trốn khỏi ám ảnh về những người đàn bà Triều Tiên – đồng chủng của ông – bất hạnh, bị hành hạ, bị cưỡng dâm, bị tước hết những giá trị tối thiểu của con người. Dù hiểu theo nghĩa nào đi nữa, chính ông cảm thấy mình dự phần vào cái tội ác vĩ đại đó.
Theo các nhà phê bình, A Gesture Life là một cái nhìn có tính cách hiện tượng (phenomenal look) vào đời sống đơn giản bên ngoài của một người đàn ông, phản ảnh một cuộc sống nội tâm phức tạp bên trong. Có thể gọi giải thích tác phẩm theo quan niệm “tâm cử học” (behaviourism): những cử chỉ bên ngoài bao giờ cũng phản ảnh một cách nào đó những “chất liệu” nội tâm liên hệ.
* Aloft (Lơ lửng): Khác với hai truyện trước đề tài nhắm trực tiếp vào cuộc sống của người di dân Á Châu với những xung đột và chênh vênh giữa hội nhập và truyền thống, Lee nhìn chủng tộc và chuyện hội nhập từ một góc độ mới, góc độ của một người da trắng. Aloft có vẻ như muốn khai thác hẳn một đề tài mới, đầy chất Mỹ, phản ảnh cuộc sống của một người da trắng bản địa. Thực ra, khuất lấp bên dưới vẫn chứa đựng dấu vết ngầm của những xung đột và chênh vênh văn hóa vốn đã đi vào tiềm thức. Aloft phản ảnh sự vong thân của con người trong một gia đình hợp chủng, văn hóa pha trộn, mọi người cố đi tìm căn cước của chính mình.
Truyện được viết dưới ngôi thứ nhất. Với gần 350 trang chữ nhỏ, Aloft là tâm sự của một người da trắng gốc Ý, tên là Jerry Battle, sắp tới tuổi 60. Jerry xuất thân từ một gia đình trung lưu, làm việc bán thời gian cho một công ty du hành tại đảo Long Island, một địa điểm du lịch nổi tiếng ở New York. Vào những giờ rảnh rỗi, cái thú tiêu khiển của ông ta là lái chiếc Cessna nhỏ của mình bay vòng vòng trên khu ngoại ô của đảo. Từ nới đó, nơi “một chỗ ngồi như cái hộp riêng tư trong thế giới mà đồng thời cũng hoàn toàn nằm ngoài thế giới”, ông có thể nhìn thấy khung cảnh phía dưới hiện ra rất đẹp, rất hoàn hảo, gọn gàng, thứ tự, không bị chi phối bởi nhửng nét thô xấu của cuộc sống xô bồ bên dưới với đủ thứ rác rưởi bẩn thỉu. “Lên đến đây, chừng nửa dặm cách mặt đất, mọi sự trông toàn bích đối với tôi”, Jerry suy nghĩ.
Chiếc máy bay là một ẩn dụ cho đời sống cô độc, xa lánh của nhân vật “tôi”. Ông ta thích nhìn đời sống từ một khoảng cách xa, vì từ xa, mọi thứ đều đẹp đẽ, toàn bích như vùng quê hiện ra dưới cánh máy bay. Jerry nhìn ngắm đời sống như một quan sát viên, một kẻ ngoài cuộc.Với quan niệm như thế, nên ông ta trở thành một người vô tâm,đến độ như ích kỷ, không ưa dính líu vào bất cứ chuyện gì rắc rối, phức tạp. Jerry tránh xa mọi phiền lụy, kể cả những phiền lụy đến từ trong gia đình. Người cha già tâm tính bất thường được gửi vào nhà dưỡng lão. Daisy, người vợ, chết chìm ngay trong hồ bơi vì bị bệnh thần kinh. Rita, người bạn gái, vì yêu, tự nguyện nuôi nấng hai đứa con như một người mẹ kế, luôn mong chờ Jerry đáp lại tình yêu của mình. Jack, đứa con trai được giao việc kinh doanh để cậu ta tùy nghi; đứa con gái Theresa thì theo học ngành phê bình văn chương, môn học Jerry chẳng mấy ưa thích. Dường như trong vô thức, thái độ xa cách gia đình của Jerry phần nào xuất phát từ mối xung đột chủng tộc: ông ta gốc Ý, Daisy gốc Triều Tiên, Rita gốc Puerto Rico, con gái Theresa có xu hướng gần gũi với truyền thống Triều Tiên của mẹ, có người yêu là một nhà văn gốc Á Châu, cô con dâu Eunice lai Anh-Đức.
Jerry tránh các biến cố, nhưng các biến cố không tha cho ông ta. Rita, sau 20 năm tận tụy với ông ta mà không được đáp lại, buồn tình bỏ đi lấy một người khác; Jack thì nợ nần chồng chất, hậu quả của sự xa hoa phung phí; Theresa tự ý đính hôn, có thai đồng thời phát hiện ra bị bịnh ung thư, nhưng không chịu chữa vì muốn bảo vệ thai nhi; người cha già không chịu nổi cô đơn ở nhà dưỡng lão, nổi loạn đòi về nhà. Vân vân và vân vân. Ông ta nhận ra là con người “không thể bay trên cao mãi mãi, ngay cho dù cỏ đủ nhiên liệu”. Jerry buộc phải đáp xuống mặt đất, đối diện với hiện thực mà cũng là đối diện với chính mình.
Truyện bắt đầu từ trên một chuyến bay với cảm giác hạnh phúc của một người tách khỏi hiện thực và kết thúc với cảnh sống bận rộn, phiền toái của gia đình đoàn tụ dưới mặt đất sau một bi kịch gia đình: cái chết của Theresa. Người-đi-trên-mây đã trở về mặt đất nhưng có vẻ như vẫn chưa xóa hết cảm giác lửng lơ.
Khác với Native Speaker A Gesture Life, qua đó, độc giả dễ dàng bị cuốn hút vào các biến cố, Aloft chủ yếu tập trung vào việc diễn tả cá tính và cách nhìn đời sống của nhân vật chính, chứ không nhắm vào cốt truyện. Bởi thế, độc giả sống trong cái nghịch lý của không khí truyện. Trong khi truyện không thiếu biến cố, độc giả không hề “đụng độ” với các biến cố, trái lại chỉ được tiếp cận với những điều lặt vặt, khi thì khá ấn tượng khi thì lại nhạt nhẽo, đôi lúc hài hước qua cái nhìn của của nhân vật Jerry, dửng dưng và vô tâm. Ngay cái chết của cô con gái Theresa cũng chỉ được Jerry đề cập đến qua vài giòng vô cảm. Các biến cố mất tính cách kích động của nó, điều mà độc giả thường đòi hỏi. Nhưng đó là dụng ý của Lee trong Aloft.
Qua ba tác phẩm, các nhà phê bình thừa nhận rằng, Lee đã chọn lựa những đề tài nghiêm túc, nặng ký, đầy chất tư tưởng. Ông không chỉ kể chuyện mà còn nhằm đào sâu một cách triết lý vào một hiện tượng khá đặc thù trong thời đại ngày nay: hiện tượng di dân, từ đó, phát sinh ra hiện tượng chuyển dịch về môi trường sống và chuyển dịch văn hóa (dislocation of culture). Đây cũng chính là đề tài mà nhà văn Anh gốc Ấn Độ V. S. Naipaul (giải Nobel 2001) triển khai qua nhiều tác phẩm khác nhau: khủng hoảng về căn cước của người di dân. Khủng hoảng đó không chỉ xuất phát từ sự xung đột ngay trong cuộc sống và tinh thần của người di dân mà theo Lee còn ở chỗ: chính những người mở rộng vòng tay (ở đây là người Mỹ da trắng) đón nhận di dân, không bao giờ muốn di dân thực sự trở thành người Mỹ như họ. Nói tóm lại, dù cho anh có nói tiếng Anh giỏi đến đâu, hội nhập với đời sống Mỹ thành công đến đâu, rốt cuộc, giấc mơ trở thành một “native speaker” hoàn toàn chỉ là ảo tưởng về mặt văn hóa và xã hội. Kinh nghiệm di dân, nói cho cùng, là một kinh nghiệm thất bại.
Về quan niệm viết lách, Lee cho biết, theo ông, “một truyện hay là chuyến du hành của tâm hồn chứ không phải là hồ sơ của những sự kiện” (a good story is a journey of the mind, not a record of facts). Phát biểu này khiến ta liên tưởng đến nhận định khá thời danh của Jean Ricardou, một cây bút của trào lưu tân tiểu thuyết Pháp độ nào: “Viết là cuộc phiêu lưu của một ngòi bút hơn là ngòi bút của một cuộc phiêu lưu” (l’aventure d’une écriture plutôt que l’écriture d’une aventure)
Cũng theo ông, cái mà một chuyện hư cấu nên làm là mang đến cho độc giả “không phải chỉ là một cốt truyện, dù có thật hay không mà là những hậu-hiệu-quả (after-effects) của nó, tức là cái xảy ra tiếp nối với cốt truyện”.
Triều Tiên là một nước bị chia cắt vì tranh chấp ý thức hệ như Việt Nam, nhưng hoàn cảnh lịch sử và yếu tố địa dư khiến cho số phận của Triều Tiên khác hẳn Việt Nam. Sau một cuộc chiến dài, Việt Nam trở thành thống nhất, nhưng chậm tiến và nghèo. Triều Tiên tuy còn chia cắt, nhưng miền Nam (Đại Hàn Dân Quốc), sau mấy thập niên nỗ lực trên mọi phương diện, bây giờ là một nước dân chủ với một nền kinh tế phát triển vượt bực, được xếp vào hạng “top ten” trên thế giới, vượt cả Úc và nhiều nước Châu Âu. Phát triển về kinh tế đưa đến sự phát triển trên nhiều lãnh vực khác nhau. Về chính trị nội bộ, Nam Triều Tiên hào phóng giúp đỡ người anh em miền Bắc trái tính trái nết, nghèo đói nhưng độc tài và bướng bỉnh, từng bước tiến đến thống nhất đất nước trong hòa bình và danh dự. Về thể thao, các thể tháo gia đạt được những thành tích vô cùng ngoạn mục trong các môn điền kinh và trong bóng đá. Năm 1988, Nam Triều Tiên đứng ra tổ chức Thế Vận Hội Olympics. Năm 2002, tổ chức World Cup. Phim ảnh Hàn Quốc hiện nay chiếm lĩnh thị trường điện ảnh Đông Nam Á, cạnh tranh ngang ngửa với phim ảnh Hồng Kông và đang có xu hướng tràn sang Hoa Kỳ và các nước Châu Âu. Về ngoại giao, Nam Triều Tiên vừa thâu đoạt một thắng lợi rực rỡ: ngoại trưởng Ban Ki-moon được bầu làm Tổng Thư Ký Liên Hiệp Quốc nhiệm kỳ 5 năm sắp tới. Và giải Nobel văn chương năm nay (2006), nhà thơ Triều Tiên Ko Un “suýt” được ghi tên trên bảng phong thần: trước khi công bố giải vào ngày 12/10/2006, Ko Un là một trong bốn, năm finalists của Hàn Lâm Viện Thụy Điển, theo giới thạo tin ở Thụy Điển.
Riêng tại Hoa Kỳ, trong thời gian gần đây, cộng đồng di dân Triều Tiên nổi tiếng với hai sự kiện lớn: cuộc nổi loạn của người da đen năm 1992 tại khu Triều Tiên ở Los Angeles chống lại các cơ sở kinh doanh Triều Tiên vì cho là các ông chủ Á Châu này có tinh thần kỳ thị; và một bài xã luận trên tờ New York Magazine ca ngợi di dân Triều Tiên, so sánh họ với người Do Thái. Về phương diện văn hóa nghệ thuật, hiện nay, có hai khuôn mặt nổi bật. Một là Chang-rae Lee. Còn người kia là nữ diễn viên hài kịch Margaret Cho, phụ trách một chương trình riêng của cô có tên “All American Girl” (Thiếu nữ rất Mỹ) trên đài truyền hình ABC. Cả hai đều được các phương tiện truyền thông chính mạch xem như biểu trưng cho cộng đồng Mỹ gốc Triều Tiên. Tuy được ca ngợi nhưng cả hai đều không được mọi người thuộc cộng đồng di dân Triều Tiên ưa thích. Lý do là vì họ “không gắn bó với cộng đồng di dân” như một nhà văn Triều Tiên (lai Mỹ) khác – Heinz Insu Fenkl (1) – nhận xét. Theo Fenkl, Margeret Cho thì đem các thói tục của cha mẹ mình ra chế giễu và diễn giải sai lạc các tập quán sinh hoạt của người Triều Tiên, còn Lee thì diễn tả nhiều điều không đúng về ngôn ngữ và văn hóa Triều Tiên trong truyện của mình. Cả hai đều “lợi dụng tính cách Triều Tiên (Koreanness) để đạt được thành công mà lại chẳng bù gì cho nền văn hóa mà họ chiếm dụng. Rốt cuộc, họ chỉ phục vụ cho ý hệ đồng hóa của người Mỹ mà không biết (và có lẽ không quan tâm) rằng họ đã bị mua đứt và bị lợi dụng trong mục đích chống lại người đồng chủng của mình vốn chỉ là một thị phần (market share) đối với các công ty điện ảnh và nhà xuất bản do người da trắng khống chế”.
Phê phán Cho và Lee chạy theo đuôi dân da trắng, Fenkl nhằm bày tỏ sự kiêu hãnh ngầm về sự thành công của người Triều Tiên hiện tại và không giấu giếm tham vọng đưa văn chương Triều Tiên lên tầm mức thế giới. Ông viết: “Lịch sử của nền văn chương Mỹ gốc Triều Tiên ở Hoa Kỳ cung cấp những cái nhìn thấu suốt đầy ý nghĩa và hữu ích vào địa vị hiện tại và tương lai của văn chương Triều Tiên trên bình diện toàn cầu. Trong khi tầm quan trọng của văn chương Triều Tiên đối với thế giới – đặc biệt là trong thời kỳ hậu thuộc địa và hậu hiện đại này – không còn gì phải nghi ngờ nữa, thì vấn đề là làm thế nào khiến cho nó tiếp cận với, làm thế nào cho nền văn hóa và ngôn ngữ độc đáo của Triều Tiên không chỉ được nhìn nhận và đánh giá cao, mà còn được độc giả toàn thế giới coi trọng. Mục đích của toàn cầu hóa (segyehwa) đối với Triều Tiên là làm cho sức mạnh văn hóa của Triều Tiên tương xứng với sức mạnh kinh tế, khiến cho tất cả những người tiêu thụ nước ngoài đánh giá cao cái đẹp của tiếng Triều Tiên (Hangul) khi lái chiếc xe hơi hiệu Hundais và tất cả những người dùng các sản phẩm của hãng Samsung biết thưởng thức truyện cổ Samguk Yusa y như người Triền Tiên biết thưởng thức truyện cổ tích Grimms (2) vậy”.
Trong tình hình nước Triều Tiên hôm nay, tham vọng đó không có gì là quá đáng.
Nhưng trông người lại nghĩ đến ta.
Đến bao giờ thì người Việt Nam chúng ta mới có thể nói lên một “tham vọng” như thế!
Trần Hữu Thục
(11/2006)
Ghi chú:
(1) Xem bài “Asian American Literature and Korean Literature: Common Problems and Challenges from a Segyehwa Perspective” kèm theo
(2) Truyện cổ Đức

___________________________________

Tài liệu tham khảo:

Đọc thêm:
 
Asian American Literature and Korean Literature: Common Problems and Challenges from a Segyehwa (*) Perspective
 
* Heinz Insu Fenkl (**)
The world’s most noted post-modern anthropologist, founder of the school of “Symbolic Anthropology,” Clifford Geertz, has observed that the role of the anthropologist is like that of a literary critic, reading the interwoven traffic of symbols in one culture and interpreting it in a meaningful way for the other culture. (1) This is old news in cultural studies, but its corollary — the role of literary critic as anthropologist — has become an important consideration in this time of segyehwa when the need for the competent and innovative interpretation of cultures is both urgent and a cause for grave concern. In anthropology, it has traditionally been the colonizer who has interpreted the colonized, the center that has created and given meaning (sometimes forcibly) to the periphery. In Korea’s move towards segyehwa, it would be instructive to keep a cautious eye out for the replication of this phenomenon in order to avoid more of what in the last decade was labeled “cultural imperialism.” In this age we are dealing with the insidious power of global capital, not merely with the encroachment of AFKN onto the Korean airwaves, but in any case, it is Koreans who should rightfully maintain control over representations of Koreanness to the world. Korea needs to participate actively in the creation of meanings given its representations abroad, and that entails that Koreans themselves be particularly discerning about how such meanings get reflected back as transformative elements in local Korean culture. As we all know, transculturalism is a potentially dangerous thing, particularly in the shadow of global capital, but those dangers can be reduced and anticipated if one’s participation is as conscious and as willfully understood as possible.
In my talk today, I would like to address the issues of cultural interpretation and cultural translation, specifically in terms of literature. I will explore some general parallels which can be found between Asian American literature in the American context and Korean literature in the world context. What I would like to do by the end of my talk is to draw on the commercial and literary history of Asian American writing in the U.S. to suggest some strategies for the most effective dissemination of Korean literature abroad. In the process, I will be speaking about such things as readability, authenticity, marketability, and ultimately, responsibility.
Over the past two decades, literature by Americans of Asian origins has moved from relative obscurity in the American literary landscape to high visibility in the literary mainstream, with works ranging from those acknowledged as commercial best-sellers (e.g., Amy Tan’s The Joy Luck Club) to ones critically acclaimed by both the academy and the arts community for their innovation and high aesthetic value (e.g., Theresa Hak Kyung Cha’s Dictee). In the process of moving from the margins to finding their tenuous place in the problematic contours of the mainstream, Asian American writers have faced particular and complex challenges. These generally have to do with making their own cultural experience and relationship to language(s) not only comprehensible and meaningful, but also aesthetically interesting and artistically legitimate to a readership which is predominantly white and English-speaking — these are issues that might be considered issues of cultural and linguistic translation. Despite significant hurdles, Asian American writers — a group among which Korean Americans have always been a significant part (and currently are perhaps the most innovative part) — have overcome many of the challenges of marginalization, at the same time finding common ground among themselves in which to construct and maintain a unique cultural and aesthetic space. In the past year, not a month has gone by without some recently-published Asian American work (a novel, a memoir, a collection of poetry) being promoted in bookstores, often in sections devoted to featuring new writers section or the ethnic literature.
It is important to keep in mind that Asian American literature has always been marginal in the U.S. and that it is probably the commodification of particular books more than the success of multiculturalism or the mythical “melting pot” phenomenon that has brought Asian American literature such recognition in recent years. (2) Early representations of Asians by white writers were terribly racist, and unfortunately, many early works by Asian Americans were successful precisely because they reiterated the broad spectrum of racist ideas already familiar to the white readership.
In their most overt form the racist stereotypes used by Asian Americans themselves mirrored such caricatures as the nefarious Tong master, the aphorism-spouting Confucian father, or the virtuous and yet eroticized China Doll woman. In subtler ways, Asian Americans have also appropriated and reiterated the narrative of victimization, a simplistic trope that meets with near universal approval by a so-called “enlightened” white audience during this time of multicultural ideology in America.
The first “authentic” Asian American works (and I use the term advisedly) built upon racist subtexts whether they wanted to or not. Maxine Hong Kingston’s The Woman Warrior was successful in large measure because her narrative was familiar in its reference to the exoticism of things Chinese; even when it quietly subverted stereotypes of the Chinese, that subversion was not recognized so much as her powerful critique of Chinese misogyny and her very personal and feminist mythification of her own life experiences. It is important, in this respect, to remember that The Woman Warrior was first discovered and used as a feminist text during the height of the late 70’s American Women’s Movement. It was marketed as an Asian American narrative only after the fact, and re-categorized when the Asian American movement had high visibility.
The more outspoken writers and activists like Frank Chin, author of such works as Chickencoop Chinaman and Donald Duk, succeed precisely because they can respond against both the American racist subtexts (and the new subtext of Asian Americans who serve mainstream tastes). In fact, Chin, although he is far more sophisticated an intellectual, often poses as an anti-feminist Confucian in order to outrage readers into doing their own research (3) and thereby educate themselves directly about Chinese and Chinese American culture instead of relying on representations by popular white-approved writers like Kingston and Tan. (4)
Let me draw some parallels now. In the U.S., and in the world (and this is largely because both the English language and American popular culture are so prominent) the perception of Korea even after the ’88 Olympics has largely been controlled by representations in popular media. Shortly before and after 1988, the world was inundated with images of Korea’s economic miracle, and during the Olympics there was a corresponding spectacle: Korea’s unexpectedly large number of gold medal winnings (although that was mediated somewhat by the other unfortunate spectacle of the boxer who occupied the ring in protest of the referee’s decision). (5) But the world forgets quickly. Perceptions have returned to an oddly contradictory mix of the images from M*A*S*H and recent high-visibility news in relation to the nuclear crisis. In the U.S., perceptions of Korea are also linked to the news coverage from the recent past: the aftermath of the L.A. riots (Koreans represented as racist, gun-wielding shopkeepers), and most recently, a New York Magazine article comparing Koreans to the Jews. (6) In fictional representations, Koreans are most closely associated with the recent half-hour sit-com, Margaret Cho’s All American Girl, and Chang-Rae Lee’s 1995 novel, Native Speaker — both very problematic texts by Korean Americans who seem to have little concern for their role as prominent representatives of their people. Margaret Cho has made a career of making fun of her Korean parents and their odd customs while Lee has allowed his novel to be misrepresented as the first Korean American novel published by a major press, thereby suppressing the rich history of Korean American writing in the U.S. (7) Cho and Lee have tenuous connections to their Korean heritage, and unfortunately, the predominantly white public that consumes their works find it entertaining and non-threatening to “read” their playing out of their insecurities and their criticisms — both subtle and overt — of Korean culture; and unlike the Korean American audience more connected to their culture, they do not notice Cho’s and Lee’s misrepresentations.
Even a Korean American with a shallow understanding of things Korean could easily spot the fact that the rice eaten by the family in the first episode of All American Girl was cooked improperly and scooped with the wrong utensil, or that it was inappropriate, in another episode, for the grandmother to thank her grandson in honorifics. (8) In Lee’s novel, although the protagonist is supposedly a “native speaker,” there are many cultural and linguistic things that the narrator cannot properly depict, one prominent example being the narrator’s confusion of the words param and parum. Figures like Lee and Cho make use of their Koreanness to achieve their success without following through with their reciprocal obligation to the very culture they appropriate. They ultimately serve the American ideology of assimilation without realizing (or perhaps without caring) that they have been bought out and used against people of their own background who, to the white-dominated studios and publishers, are a mere market share. One might note that when Younghill Kang’s East Goes West (perhaps the most important early Asian American novel) was published in the late ’30s, critics responded very favorably to his problematizing of Korean culture but found his criticism of American culture distasteful. In the popular media, works like All American Girl (which has fortunately been canceled after its first season) and Native Speaker do more to negate than complement or draw necessary attention to the achievements of writers like Younghill Kang, Richard Kim, Kim Ronyoung, and Theresa Cha.
What I’ve reviewed thus far probably sounds profoundly pessimistic, but I wanted to point out precisely how it is the interpreter, in this case the white consumer, who to a large degree controls the sorts of representations of otherness that become widely available. I also wanted to recall the parallels between colonialism and cultural exchange. With the pressures of capital controlling both the world of journalism and literary publishing, this is especially true. You’ve probably noticed by now that what I’ve mentioned about representations of Korea either have nothing to do with literature and culture (or are related to criticisms or caricatures of a culture which is inadequately understood in the first place). Relying on the interpreter makes one victim to the interpreter’s agenda, and that is why Koreans themselves need to become more engaged in the act of interpretation.
In Asian American literature, there is great reward for playing into the interpreter’s agenda. Amy Tan’s The Joy Luck Club relies precisely on well-understood and non-threatening stereotypes of Asians for its great commercial success. It then becomes appropriated into a Hollywood production by Oliver Stone, a director notorious for appropriating things Asian, and yet ironically, the movie plays with great resonance and poignance for those Asian Americans who do not have a close connection to their culture to begin with. Both the novel and the movie received high praise from the white audiences and poor marks from Asian American activists and intellectuals (although many of them also fell victim to the power of formulaic melodrama). On the other hand, there are, in fact, works that have their origins as what one might call more “authentic” endeavors, endeavors in which the author has not bowed to commercial pressures or the needs of white consumers (and publishers) but maintained an intense devotion to personal ideals. One such work, which is gaining more and more prominence in the U.S. and abroad, is Dictee, by the late Theresa Cha. (9)
The history of Asian American literature in the U.S. provides meaningful and useful insights into the current and future status of Korean literature in a global context. While the significance of Korean literature to the world –particularly in this post-colonial and post-modern age — is unquestionable, the problem is how to make it accessible, how to make Korea’s unique culture and language not only recognized and appreciated, but also valued by a world-wide readership. The goal of segyehwa for Korea is to match Korea’s economic power with cultural power (10), to get all foreign consumers who drive Hundais to appreciate the brilliance of Hangul and all users of Samsung products to know stories from the Samguk Yusa as well as Koreans know Grimms’ Fairy Tales.
Since the figures associated with Koreanness in the popular limelight are so problematic, the burden of conscientious interpretation falls squarely on those with the ability to make the concerns of local Korean culture readable to others. These are the translators of Korean literature, almost all of them working in obscurity, and most of whom do not communicate with each other. (11)
If Asian American writer’s are faced with the task of cultural translation in making their stories understood to the American readership, then one can see how the issue of translation is even more essential for Korean literature in the face of segyehwa. In this case it is all the more complicated because there are a greater number of languages involved. Translation into English is particularly important because it is the language most convenient for world-wide dissemination of a literature and also the language essential towards consideration of a writer’s works for the Nobel Prize in literature (the most recognized means towards world-wide literary recognition). Translators must be intimately familiar with language and culture for the sake of accuracy, yet at the same time, the aesthetic requirements of translation pose a significant challenges and require compromises.
Good translators — those who have devoted a large part of their lives to the endeavor — have themselves achieved world-wide recognition for their work. Yasunari Kawabata would not have won his Nobel Prize without Edward Seidensticker, who has written several respectable books on Japan himself, and Gabriel Garcia Marquez would not have received his without Gregory Rabassa whom some have since called “the finest translator who ever drew breath.” Korea has yet to have its Seidensticker or Rabassa, and that is one reason why Korea has not yet matched its world stature in economy an d sports with a world-renowned literature.
I’ve already talked about how the role of cultural interpreter and translator has been easily appropriated by commercial interests in the case of Asian American literature in the U.S. When the primary artistic or literary impulse becomes compromised by the promise of fame or fortune, the underlying meanings get compromised as well. When the motivational force behind translation originates with the academy or some government ministry (each of which have their agendas), the products are not always of the best quality or compatible with the interests of the target readership.
What I’m suggesting, somewhat obliquely, is that government and academy actively support translation projects but let the translators themselves select the works based on passionate personal interest and commitment. A translator with free rein and personal motivation will always do a better job than one who works under the funding and editorial control of some organization (no matter how significant that funding may be). The ultimate test for a translation is to measure how successful it is in the target language. For example, the Korean Culture and Arts Foundation, for years, has been funding the translation of works by Hwang Sun-won and Kim Dong-ni, but in America the most widely-read Korean works are White Badge by Ahn Jung-hyo and the Words of Farewell anthology containing the works of Kang Sok-kyong, Kim Chi-won, and O Jong-hui. (12) These are not exactly the works that the Korean government or the academy would rank highest priority for translation, but in each case, the books resonate with a particular interest in the American readership; they also reflect the personal interest and commitment of their translators and authors.
Korea will only be able to contribute the valuable lessons in its literature to the world once it understands the complex dynamics of translation. The burden in this is not on the original writers, nor should it be on the academy or some government ministry — it should be upon the translators to adequately address the issues of language, culture and aesthetics. It is only by creating an appropriate theory and practice of translation, which requires the cooperation of literary and cultural scholars of many nations, that Korea will either find or create the kind of translators necessary to carry out the mandate of segyehwa. But where do the translators come from?
To comfort himself when it was clear that I wouldn’t follow in his footsteps, my father, who was a soldier, used to quote an old saying: “We are soldiers so that our sons may be farmers and their sons philosophers.” A similar sequence of vocations is playing out among members of the Korean diaspora. First generation immigrants are often shopkeepers, custodians, or factory workers so that their children become doctors, lawyers, and engineers, and their children writers, artists, and musicians. I see this third generation of Korean Americans in the classes I teach at Vassar. In fact, everywhere in the American academy, there are young Korean Americans who are engaging in literature and the arts as they get their undergraduate and graduate degrees, and many of them — after suffering the often traumatic identity politics of being Korean Americans — come away with a deep commitment to maintaining and pursuing their connection with their parents’ culture. This group of young Korean Americans is an audience that already craves Korean literature, but since most of them have lost touch with their parents’ language and are only beginning to learn it in college, it is for them that good translations are first necessary. Also, they are the very audience that is disappointed by the quality of Korean Literature in translation. But they are not only an audience — they are the very group from which the bilingual and bicultural individuals emerge who will return to their parents’ language and culture and help in making Korea find its deserving place in the global culture. (13)

Weguk Munhak
(A Korean Journal of Contemporary World Literature), Fall 1995.
Endnotes
1 See The Interpretation of Cultures, particularly the chapters: “Thick Description” and “Deep Play.”
2 As this goes to press, the Regents of the University of California have voted to discontinue afirmative action considerations in admission and hiring.
3 See the interview with Frank Chin in April issue of A Magazine.
4 Amy Tan, author of The Joy Luck Club and The Kitchen God’s Wife, is the most prominent example of an Asian America writer whose popularity relies on serving mainstream tastes. She is the best selling Asian American in recent years, and the Oliver Stone production of The Joy Luck Club is the most prominent Asian American film. Among Asian American critics, Tan is most often invoked as an example of “selling out.” She is represented by one of the best known literary agents in the U.S.
5 See the opening chapters of Michael Shapior’s The Shadow in the Sun: A Korean Year of Love and Sorrow for an excellent description.
6 As I prepare this transcript for submission, CNN which initially covered the collapse of the Sampoong Department Store, focusing on rescue efforts highlighted by the story of the shopgirl who survived 16 days in the rubble, is now covering the riots concerning inadequate rescue efforts. This is an odd and contradictory reference to both Korean resilience and Korean fallibility, but it is typical of American coverage of Korea and Japan. The American media prefers to keep the final images of Korea and Japan somewhat problematic. In coverage of the Kobe earthquate, for example, the American media delighted in making comparisons with the San Francisco quake, always emphasizing Japan’s negligence and hubris, focusing particularly on the comparatively low casualty figures in San Francisco.
7 It is ironic that Lee’s academic mentor and literary agent are both Japanese Americans while his publicist is Korean American. This does not strike Americans, with their melting pot ideology and their inability to distinguish Asians, as odd in any way, but a Korean cannot help but read this as an example of Japan’s power over Korea even in a disaporic context. It is particularly ironic that the subject of Lee’s next novel is Korean comfort women.
8 The white producers of the show did not even remember that the family was Korean American. They referred to them simply as “oriental.” One of the concerns of Korean Americans was that Margaret Cho was the only Korean American on the cast, which included five other family members. Of course, the simple fact that such interchangeability goes unnoticed by the white audience is one clear sign that Korea has not made a distinct impression of its people or culture on the typical American viewer.
9 See Walter Lew’s talk for further discussion of the Korean American writers I mention in this talk.
10 The July 31 issue of BusinessWeek devoted its cover story to Korea’s economy, citing some rather startling figures: Korea is now eleventh among the top economic powers in the world, ahead of Australia, Sweden, and the Netherlands. It claims the largest numbers of PhDs per capita in the world. Per capita income is expected to exceed $10,000 within the year. It is the fifth largest auto manufacturer in the world. This is quite a challenge to match on the cultural front.
11 Recognition in Korea is a step in the right direction, but even winners of the Taehan Minguk Munhaksang like Bruce Fulton are still struggling to get major presses to accept Korean books. The recent death of Professor Marshall Pihl is especially saddening, since he was one of the major facilitators of dialogue among translators.
12 In fact, it is rather ironic that White Badge only became a hit in Korea after it was well received in the U.S. A quick look at the inclusion of American reviews at the front of the Korean edition of the novel is enough to show that validation in the U.S. is a great marketing tool in Korea. But under the ideals of segyehwa, shouldn’t it be the other way around? Shouldn’t novels first validated by the Korean public be the ones to become hits in the U.S.?
13 This is the very audience that has been most responsive to Muae.
__________________________________________________________
Ghi chú:
(*) Segyehwa : tiếng Triều Tiên có nghĩa là “toàn cầu hóa” (globalization)
(**) Nhà văn Mỹ lai Triều Tiên (mẹ Triều Tiên, cha Mỹ), Giám Đốc Chương Trình Sáng Tác
tại Đại Học Tiểu Bang New York

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch