Trang chính » Biên Khảo, Giới Tính, Phê Bình Email bài này

Em Không Mềm Không Trong Không Thẳng Không Trắng (1/2)

 

tutto_mundo_keith_haring_pisa_mural

Nếu ta gọi đích đáng mỗi chàng ngố

là một thế giới nhỏ, thì ta nên gọi em là gì?

Em không mềm, không trong, không thẳng, không trắng

như tơ ngỗng, như sao, như tuyết tùng, như huệ,

Nhưng bàn tay phải, má, mắt em, kìa

với bàn tay kia, và má, mắt, giống như in

For, if we justly call each silly man
A little world, what shall we call thee then?
Thou art not soft, and clear, and straight, and fair,
As down, as stars, cedars, and lilies are,
But thy right hand, and cheek, and eye, only
Are like thy other hand, and cheek, and eye ….

John Donne, Sappho to Philaenis (Sappho Gửi Philaenis)

 

Trong luật pháp cũng như trong lĩnh vực văn chương, kinh nghiệm của cộng đồng LGBT, như kinh nghiệm của bất cứ tiểu cộng đồng nào bị áp chế bởi cái nhìn thống trị của đa số, luôn luôn bị phán xét giữa mức độ “cần thiết” và “thái quá.”

Bài nhận định dưới đây sẽ tóm tắt và so sánh tiến triển trong luật pháp Hoa Kỳ và quốc tế cùng với khuynh hướng của văn chương hôm nay về đề tài LGBT. Hiện nay, khuynh hướng lý tưởng (vì chưa đuợc thực hành toàn vẹn trong đời sống) trong cả hai lĩnh vực luật và văn chương là hòa hợp những dị biệt về tâm lý, tình cảm và đời sống giữa người khác phái và người đồng tính, để nhóm LGBT được chấp nhận như một phần tử “nhập tịch” vào xã hội giòng chính, vượt ra khỏi bức tường “tiểu văn hóa.” Đây cũng là cách mà luật pháp và văn chương muốn dung hòa/thương lượng sự cách biệt giữa khái niệm “cần thiết” và “thái quá” khi đề cập đến cộng đồng LGBT. Trên phương diện pháp lý, sự thương lượng này tùy thuộc vào những cách lập luận dựa trên khoa học, tôn giáo, và truyền thống văn hóa xã hội.

Đề cao khía cạnh căn bản và “thiên nhiên” của quyền lợi dành cho người đồng tính, tòa Tối Cao Pháp Viện của tiểu bang Connecticut đã ra phán quyết xác định quyền tự do kết hôn của người đồng tính qua sự phân tích về khuynh hướng tình dục như yếu tố bẩm sinh, “căn bản” và “không thể thay đổi” của bản sắc. Trái lại, cũng có những tòa án địa phương trong nước Mỹ và ở những quốc gia Âu Châu không chấp nhận khái niệm “bẩm sinh” của khuynh hướng tình dục, nhưng cho phép nhóm LGBT được một số quyền lợi xã hội “cần thiết.” Thật sự, hiện trong lãnh thổ Hoa Kỳ, quyền tự do hôn nhân vẫn chưa được nhìn nhận ở trình độ liên bang, và chưa có luật ngăn ngừa chuyện kỳ thị người LGBT ở chỗ làm việc—vì những đặc quyền này hiện bị coi là vượt qua sự “cần thiết” cho người LGBT. Tươmg tự, như vị trí bấp bênh của quyền lợi LGBT trên phương diện pháp luật, trong văn chương gay hiện được phổ biến, hoàn cảnh và đời sống đồng tính không có những đặc thù cố định, có lúc vay mượn cấu trúc của văn hóa giòng chính để chứng minh cho sự hiện hữu, nhưng cũng có lúc tách biệt ra khỏi ngôn từ của giòng chính. Văn chương đồng tính, nhất là những tác phẩm sáng tác bởi những nhà văn Á Đông di dân, cũng bị dày vò giữa khái niệm “cần thiết” và “thái quá” khi mô tả tâm cảnh LGBT.

Về lĩnh vực văn chương, bài sẽ chú trọng đến những nhà văn và nghệ sĩ Anh, Mỹ, Việt đã khai phá đề tài đồng tính và giới tính như Jeanette Winterson, Sarah Waters, André Aciman, Alison Bechdel, David Henry Hwang, Monique Truong và Đỗ Lê Anh Đào. Trừ David Henry Hwang và Monique Trương là những người viết straight, đã dùng ẩn dụ giới tính/đồng tính như một suy niệm về sự bất bình đẳng trong chính trị, ngôn ngữ và màu da giữa người da trắng và người Á Đông, Jeanette Winterson, Sarah Waters, André Aciman, Alison Bechdel và Đỗ Lê Anh Đào—áp dụng đề tài đồng tính tùy tiện như biến tấu hoặc điệp khúc từ những đề tài classic đã được khai thác thường xuyên trong văn chương quốc tế, từ John Donne đến Proust: tình yêu đồng tính như ký ức ghi lại trên thân thể, trong tâm khảm (Winterson; Bechdel); như một cuộc giải phóng/phiêu lưu xã hội ra khỏi giai cấp và chế độ gia trưởng (Waters, Đỗ Lê Anh Đào); như một quê hương đẹp nhưng đã mất (Aciman); như một nỗi hổ thẹn căn bản làm người mang “bệnh” đồng tính bị đày ải ra khỏi thiên đường, bị bắt buộc phải tái tạo lại bản sắc, hay bị lâm vào tình trạng “như tâm thần hoang tưởng”(Bechdel, Đỗ Lê Anh Đào).

Người Đồng Tính trong Bối Cảnh Pháp Lý: Bình Quyền hay Biệt Lập?

Vào ngày 28 tháng 10 năm 2008, tòa Tối Cao Pháp Viện của tiểu bang Connecticut, theo gót chân ba tiểu bang Hoa Kỳ là Vermont, Massachusetts và California, đã hợp thức hóa hôn nhân cho những người đồng tính. Đây là một sự hợp thức hóa đi xa hơn luật ký năm 2005 đã cho phép người đồng tính đuợc quyền “phối hợp dân sự” (civil union)—với tất cả quyền lợi như những người lấy vợ hoặc chồng khác phái. Trong phán quyết ra ngày 28 tháng 10, tòa đã tuyên bố rằng quyền tự do hôn nhân dựa trên định hướng tình dục là nền tảng của văn minh, lớn lao và “thiêng liêng “ hơn quyền “phối hợp dân sự”:

Khuynh hướng tình dục, như màu da, chủng tộc và giới tính, là một trong những đặc điểm chính có ảnh hưởng bao quát và sâu đậm trong quá trình cấu tạo bản sắc con người. Chuyện kỳ thị [qua những phán quyết không công bằng và hà khắc] là trừng phạt một người chỉ vì họ không thể hoặc không muốn thay đổi … một đặc điểm căn bản của bản sắc cá nhân hoặc tập thể; đó là chuyện phản lại những tiêu chuẩn từ trước đến nay đã làm linh động lý tưởng cao quý của Hiến Pháp Hoa Kỳ: sự bảo vệ bình đẳng của luật pháp. [1]

Dựa trên lý tưởng “bảo vệ bình đẳng của luật pháp,” tòa Tối Cao Pháp Viện tiểu bang Connecticut cũng đã phán quyết rằng quyền tự do kết hôn bất kể người đồng tính hay khác giới tính là quyền căn bản của người dân Hoa Kỳ.

Phán quyết của tòa là một thành tích lịch sử, nối gót quyết định của tiểu bang Vermont Masschusetts và California (tuy luật cho phép người đồng tính kết hôn ở California có thể sẽ bị thử thách trong kỳ bầu cử sắp đến qua Proposition 8). Xứ sở Hoa Kỳ, vì nguồn gốc nặng về luân lý của nhóm người Thanh Giáo (Puritans) cũng có thể coi là đi chậm hơn Tây Ban Nha, Bỉ và Nam Phi Châu. Theo thống kê của đài BBC ra cuối năm 2005, Tây Ban Nha Và Bỉ, mặc dù bị Tòa Thánh Vatican chống đối kịch liệt, đã ban cho người đồng tính những quyền lợi toàn vẹn của hôn nhân, ngang hàng với những người lập hôn nhân khác phái. Bỉ hợp thức hóa hôn nhân đồng tính năm 2004, Tây Ban Nha vào năm 2005. Vào năm 2005, Tòa Tối Cao Pháp Viện hậu-apartheid của Nam Phi Châu ra phán quyết tuyên bố rằng chuyện cấm người đồng tính kết hôn là phản hiến pháp, và cũng hướng dẫn quốc hội trong việc tu sửa lại những đạo luật về hôn nhân để cho phép người đồng tính kết hôn trong vòng một năm của phán quyết.[2]

Cũng theo thống kê của đài BBC, ở những quốc gia Âu Châu khác, đạo luật về vấn đề hôn nhân đồng tính cũng vẫn còn ảnh hưởng bởi những giới hạn tôn giáo, văn hóa và xã hội.

Vào năm 1989, ngay trong thời kỳ nạn AIDs hoành hành, Đan mạch đã cho phép người đồng tính có đầy đủ quyền lợi xã hội như người khác phái, tuy nhiên họ vẫn bị cấm không được làm phép cưới trong nhà thờ. Na-Uy, Thụy Điển và Iceland cũng nối gót Đan Mạch với những phán quyết tòa án hoặc quyết nghị hiến pháp phát hành trong năm 1996. Phần Lan nối gót năm 2002.

Nước Đức cho phép người đồng tính ghi danh “bạn đời” (life partnerships) năm 2001. Nhưng luật chỉ cho người đồng tính có quyền thừa hưởng gia tài và bất động sản tương đương như những cặp vợ chồng khác phái, nhưng không được bình đẳng như những vợ chồng khác phái ở những lãnh vực xã hội khác.

Năm 1999, nước Pháp giới thiệu một hợp đồng dân sự gọi là le Pacte civil de solidarité, ban lợi tức cho từng cặp chung sống cùng nhà, bất kể giới tính. Nhưng những lợi tức này không được toàn vẹn như trong hôn nhân được hợp thức hóa, như lợi tức thuế má, thừa hưởng tài sản và chuyện bảo lãnh con nuôi. Vào năm 2004, một thị trưởng người Pháp làm phép cưới cho một đám cưới gay đầu tiên, nhưng sau đó tòa án địa phương đã vô hiệu hóa đám cưới này.

Ở Bắc Mỹ, Gia Nã Đại hợp thức hóa hôn nhân đồng tính vào năm 2005. Từ đó đến nay, hôn nhân đồng tính đã được hợp thức hóa khoảng 8 trong 10 tỉnh (provinces) của Gia Nã Đại và 1 trong 3 lãnh thổ của quốc gia này.

Argentina, vào năm 2003, là quốc gia Nam Mỹ đầu tiên cho phép người đồng tính được có phối hợp dân sự. Argentina cho phép người đồng tính đuợc quyền lợi đa số tương đương với như những cặp vợ chồng khác phái, chỉ không bao gồm luật bảo lãnh con nuôi và chuyện thừa hưởng tài sản.

Quốc hội New Zealand, vào năm 2004, đã ký đạo luật nhìn nhận sự phối hợp dân sự giữa những người đồng tính.

Nước Anh, với đạo luật ký tháng 12 năm 2005, ban cho những cặp đồng tính đã ghi danh phối hợp (registered partnership) quyền lợi xã hội tương tự như những cặp vợ chồng khác phái, như lợi tức về hưu, tài sản, tiền xã hội, và nhà cửa.

Như đã thấy, luật pháp Hoa Kỳ và quốc tế trong hai thập niên qua, từ biến cố AIDS, dù sao cũng đang nhìn nhận sự hiện diện của người đồng tính. Ở Hoa Kỳ, phe chống đối chuyện cho người đồng tính quyền tự do hôn nhân cho rằng luật cho phép người đồng tính được “phối hợp dân sự” đã đạt được bình quyền về phương diện xã hội, và hơn nữa, người đồng tính từ hơn 20 năm qua đã có đủ thế lực chính trị, họ không cần thêm những chú ý hoặc biệt đãi từ luật pháp như chuyện cho họ quyền tự do kết hôn. Nhiều người cũng cho rằng quyền tự do kết hôn của người đồng tính chỉ có ý nghĩa trừu tượng, vì nó không khác gì quyền phối hợp dân sự đã thịnh hành ở Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới. Tòa Tối Cao Pháp Viện của Connecticut mới đây đã bác bỏ lập luận này, và duy trì rằng khuynh hướng “biệt lập nhưng bình quyền” (separate but equal) dành cho cộng đồng người gay là một khuynh hướng đạo đức giả và phi lý. Theo tòa, khuynh hướng “biệt lập nhưng bình quyền” đã đày ải những người da màu khi còn luật kỳ thị màu da, và nó cũng đã đày ải phụ nữ về mặt giới tính. Khuynh hướng này, ở chuyện giới hạn người đồng tính trong khuôn khổ “phối hợp dân sự” thay vì hôn nhân thực thụ, đã đối xử với họ không khác gì cách ngày xưa luật pháp đã áp dụng chính sách chia cách (segregation) giữa người da đen và người da trắng: tiệm ăn riêng, trường học riêng, khu cư ngụ riêng rẽ. Tòa cũng nói thêm rằng luật bảo vệ quyền lợi người đồng tính vẫn cần phải có sự biệt đãi cho nhóm người này—không phải vì họ hiện yếu đuối trong lĩnh vực vận động quyền lợi chính trị—mà vì sự kỳ thị mà họ đã phải chịu nhận từ xã hội đã quá hà khắc, quá dai dẳng cho nên—như chuyện kỳ thị giới tính và màu da—vẫn phải đuợc luật pháp dành cho “sự xem xét kỹ hơn” (heightened scrutiny) để dần dà nhóm người đồng tính mới có được sự bình đẳng thật sự.[3]

Sự phân tích của Tòa Tối Cao Pháp Viện Connecticut được nhiều người ca ngợi là hợp thời và quả cảm, tuy nhiên, nó có thể bị nhóm bảo thủ coi là một thí dụ đáng chê trách về chuyện “luật pháp lạm dụng quyền của hiến pháp,” vì tòa đã định nghĩa khuynh hướng tình dục, một khía cạnh không hiển nhiên như màu da hay chủng tộc, tương đương như những đặc điểm cố định của một con người. Phán quyết này cũng có thể sẽ bị hạn chế bởi nhóm bảo thủ theo đạo Thiên Chúa của phe Cộng Hòa khuynh hữu, và cũng có thể bị hiến pháp của tiểu bang thử thách hoặc làm vô hiệu hóa sau này. Proposition 8 của California trong kỳ bầu cử ngày 4 tháng 11 cũng là cách nhóm bảo thủ muốn vô hiệu hóa đạo luật ban quyền tự do hôn nhân cho nhóm LGBT. Nói chung, trong hiện tại quyền căn bản của người đồng tính—cũng như quyền tự do phá thai của phụ nữ (quyền “tự do [giới hạn] sinh sản”)–vẫn chưa được bảo đảm toàn vẹn bởi pháp luật Hoa Kỳ ở đầu thế kỷ 21. Những quyền này đuợc coi là nằm trong thành phần “quyền tự quyết đời sống riêng tư” (privacy rights) và chưa được Tòa Tối Cao Pháp Viện Hoa Kỳ nhìn nhận là những quyền hiện hữu trong Hiến Pháp Mỹ hay luật pháp liên bang, vì vậy vẫn chưa được bảo vệ triệt để.

Văn Chuơng Đồng Tính: Không Biệt Lập Để Bình Quyền?

Nếu pháp luật ở một vài tiểu bang cấp tiến trong nước Mỹ đang cổ võ chuyện “nhập tịch”/bình đẳng hóa toàn diện quyền lợi của người đồng tính, thì trong lĩnh vực văn chương, khái niệm “biệt lập nhưng bình quyền” vẫn còn tồn tại. Văn chương gay, như văn chương di dân, vẫn còn nằm ở vị trí bên lề ở Hoa Kỳ, vì nó vẫn chưa được coi là một nhu cầu “phổ quát” hay “cần thiết,” mà vẫn còn ở tình trạng “thái quá.” Vì yếu tố thương mại và khuynh hướng mass production trong địa hạt xuất bản, những nhà văn gay, như những nhà văn di dân, thường chỉ được chính cộng đồng họ tôn vinh, và không đuợc nhiều người biết đến trong giòng chính vì tác phẩm của họ nằm trong thể loại “đặc biệt” (niche) được coi là chỉ thích hợp cho một nhóm độc giả, thay vì là “best-sellers” mà cả quần chúng độc giả “trung bình” muốn mua đọc. Đây là một điểm mâu thuẫn chính của quốc gia Hoa Kỳ–một hợp chủng quốc đa hóa, đa diện, nhưng hiện hữu như những mảnh vỡ, những cộng đồng biệt lập dưới danh từ “những thể chế thống nhất” (United States).

Bà Sarah Schulman, một kịch sĩ và lịch sử gia lesbian của Hoa Kỳ đã than phiền rằng nếu muốn nhìn thấy chuyện bình quyền giữa văn chương LGBT và văn chương giòng chính, người ta phải qua bên Anh để theo dõi sự nghiệp văn chương của những nữ văn sĩ lesbian nhưng rất đuợc yêu chuộng trong giòng chính như Jeanette Winterson và Sarah Waters:

Ở nước Anh … Jeanette Winterson và Sarah Waters đuợc đối xử như những con người thực, và sách của họ đuợc coi như sách thực. Họ được những nhà sách nổi tiếng trong giòng chính xuất bản sách của họ; quyền lợi nhà văn của họ được đại diện bởi những nhà đại diện tiếng tăm; và sách của họ đuợc những nhà phê bình có giá trị để ý đến; [quan điểm của họ] được so sánh với quan điểm của những nhà trí thức Anh cùng thời. Sách của họ cũng được những giải thưởng trong giòng chính; đuợc quay thành phim chiếu trên TV …và từ những sự trọng vọng này họ có đuợc một lực luợng độc giả hùng hậu ở Anh và cả thế giới. Đối với những nhà văn hiện đang sinh sống bằng nghề viết ở nuớc Mỹ, Anh quốc quả là Đất Hứa.[4]

Theo bà Sarah Schulman, ở Hoa Kỳ, những nhà sách lớn có nhiều chi nhánh sách ở các địa phương (như Borders và Barnes and Noble) thường cách loại những tiểu thuyết của gaylesbian ra khỏi khu Fiction và sắp xếp vào khu LGBT, thường là một khu “ghetto” nằm khuất ở chỗ khó tìm, “đằng sau hàng cây kiểng, trên tầng thứ tư” trong một tiệm sách đồ sộ và miên man như một siêu thị. Bà Schulman cũng nói rằng những nhà văn lesbian, nếu muốn ở trong khu Fiction giòng chính phải tránh cho các nhân vật chính trong chuyện của họ có những đặc điểm đồng tình luyến ái quá rõ rệt. Vì vậy, bà Schulman lập luận rằng chính kỹ nghệ xuất bản của nền tư bản Mỹ đã khuyến khích một chuyện trớ trêu: tạo dựng văn chương LGBT “như một thể loại văn chương duy nhất trên thế giới không có sự hiện hữu trung thực của nhà văn.”[5] Theo bà, thí dụ hiển nhiên nhất là Susan Sontag, người đã nổi danh trong lúc sinh thời là Nhà Trí Thức Hàng Đầu của Hoa Kỳ, nhưng đã không bao giờ dùng tài nghệ phân tích xuất chúng để viết vế tình trạng đồng tính của mình. Sarah Schulman nói Susan Sontag viết hẳn một quyển sách về “vết ô nhục” (stigma) của bệnh AIDS, nhưng cả cuộc đời đã “dấu mình trong tủ áo” (hiding in the closet—trốn trong tủ áo, tiếng lóng dành cho những người gay và lesbian không muốn lộ diện sự đồng tính của mình.)

Bà Schulman cũng nói là trong không khí văn hóa bảo thủ hiện nay, cấu trúc quen thuộc sẽ đuợc trọng vọng, còn những gì xa lạ với văn hóa giòng chính sẽ bị nghi vấn, bài bác hoặc áp đảo. Vì vậy, rất khó để cho một nhà văn lesbian viết một tiểu thuyết bán chạy về một nhân vật đồng tính, vì những gì hoàn toàn mới lạ hoặc táo bạo về đời sống và những ham muốn tình dục của người gay hoặc lesbian sẽ bị coi là “đồi trụy” hoặc “không thích hợp”—nói chung là “thái quá” với chiều hướng của đám đông.

Lập luận của bà Schulman, như lập luận của những nhà tranh đấu cho quyền lợi của người đồng tính, tự nó cũng biểu lộ nhiều mâu thuẫn khó giải. Nếu muốn tránh ảo tưởng “biệt lập nhưng bình quyền,” nhà văn gaylesbian, như những nhà văn di dân (thí dụ tiêu biểu nhất là Salman Rushdie, Kazuo Ishiguro và Amy Tan), thường phải “vay mượn và chiếm đoạt” những khái niệm quen thuộc từ giòng chính—từ siêu thị văn hóa phổ quát–để có đuợc sự nhìn nhận từ giòng chính. Từ những khái niệm quen thuộc và phổ quát nguời ta mới biết rằng “kẻ lạ/quái thai” chính ra là người anh em của mình. Hai nhà văn Anh lesbian, Jeanette Winterson và Sarah Waters, được quần chúng Anh yêu chuộng vì họ đã sáng tác những tác phẩm lesbian như cách đối thoại /tranh luận với những cấu trúc và ẩn dụ văn chương classic tương đối quen thuộc với độc giả giòng chính. Kinh nghiệm lesbian của hai nhà văn này chỉ là phương pháp, một ngõ đi vào, chứ không hẳn là mục đích nghệ thuật, dùng để khai phá hoặc chất vấn những suy niệm hiện hữu về ký ức, tình yêu xác thịt và tình yêu lãng mạn, những khiếm khuyết của ngôn ngữ, chuyện kỳ thị giai cấp xã hội.

cover_written_on_the_body Trong tác phẩm Written on the Body (Được Viết Trên Người) của Jeanette Waterson, nhân vật không tên và không giới tính của tiểu thuyết cũng là một dịch giả, dịch những tiểu thuyết Nga qua tiếng Anh. Sự vô giới tính của nhân vật chính cũng là cách Winterson không muốn tác phẩm bị đè nặng bởi vấn đề đồng tính, hoặc bị chi phối bởi khuynh hướng truyền thống và phổ quát của độc giả về giới tính. (Có lẽ Winterson—trên phương diện là một nhà văn–sẽ không đồng ý với Tòa Tối Cao Pháp Viện của tiểu bang Connecticut. Bà chắc sẽ không chấp nhận lập luận rằng giới tính hoặc định hướng tình dục là một đặc điểm căn bản của bản sắc, mà duy trì rằng khái niệm về giới tính là một khái niệm phong phú nhưng có trạng thái mơ hồ vĩnh viễn, và không hề bị làm chủ bởi bất cứ một phe phái nào.

Ngôn ngữ và dịch thuật, lồng trong bối cảnh giới tính và tình yêu đồng tính, là đề tài chính của tác phẩm Được Viết Trên Người của Winterson. Ảnh hưởng bởi thi hào John Donne, Winterson đặt câu hỏi, “Làm sao ta có thể diễn dịch khái niệm huyền bí và siêu hình của tình yêu thành một quan niệm mà thể xác và thời gian có thể thấu hiểu?” và ngược lại, “Nếu giả thử ta không nhìn nhận thể xác (giả thử tác giả từ bỏ cấu trúc của ngôn ngữ quen thuộc), thì liệu có tái tạo được một tình yêu thực sự qua nghệ thuật (liệu ý tưởng và cấu trúc thử nghiệm của tác giả qua tác phẩm có được độc giả thấu hiểu) hay không?” Winterson, khi mô tả tình yêu giữa nhân vật không tên và người tình tên Louise, đã dùng cái tên Louise như một ẩn dụ ngôn ngữ–Louise cũng có thể là loues—tiếng Latin là bệnh giang mai.[6] Bệnh tật là một trope của văn chương lãng mạn của thế kỷ 19. Winterson cũng áp dụng ẩn dụ của bệnh tật (trong truyện Louise bị bệnh ung thư máu) để nói về sự khiếm khuyết của ngôn ngữ khoa học. Nhưng nếu tác giả chối từ ngôn ngữ khoa học—ngôn ngữ mà truyền thống văn hóa coi là của “nam giới”—liệu ngôn ngữ lãng mạn của thi văn, của “nữ giới,” có thể diễn dịch toàn vẹn kinh nghiệm của bệnh tật, của tình yêu, của thể xác? Cuối cùng, chính Winterson cũng nhận thấy rằng khuôn khổ văn chuơng lãng mạn—như giới hạn của khoa học–cũng là một nhà tù, tách rời nghệ thuật ra khỏi đời sống hiện thực:

Có phải đó là cái giá phải trả của sự hoàn hảo? Những cử chỉ anh hùng cao thượng cải lương và một kết thúc bi thảm? Hay là một kết thúc phung phí? Phần nhiều những nhạc kịch cải lương kết thúc hết sức phung phí. Những đoạn kết hạnh phúc chỉ là những thương lượng. Đây có phải là sự lựa chọn của nghệ thuật? [7]

Nếu Winterson đã mổ xẻ kinh nghiệm lesbian qua những quan tâm triết lý đã hiện hữu trong giòng chính về sự xung đột giữa nghệ thuật và đời sống, thì nữ văn sĩ và học giả Sarah Waters, người đồng hương với Jeanette Winterson, đã rất khôn ngoan trong cách áp dụng kinh nghiệm lesbian vào Tipping the Velvet (Dốc Mầm Nhung—tiếng lóng về chuyện tình dục của những phụ nữ đồng tình luyến ái), một tác phẩm có tình tiết lôi cuốn, theo thể loại “giang hồ” (picaresque) của những tiểu thuyết viết từng kỳ bởi Charles Dickens. Mặc dù Dốc Mầm Nhung tả rất thẳng thừng về đời sống tình dục của những phụ nữ lesbian vào cuối thế kỷ 19 ở bên Anh, nó cũng dùng ẩn dụ đồng tính và giới tính như những đề tài biến tấu—những “người anh em họ” của sự kỳ thị giai cấp xã hội. Trong tiểu thuyết, nhân vật chính, Nan.một cô gái thuộc giai cấp hạ lưu lớn lên trong một gia đình làm nghề nuôi sò, yêu Kitty, một nữ ca sĩ thích ăn mặc như đàn ông và cũng hát những bài hát dành cho đàn ông. Kitty về sau lấy chồng giàu, khuyên Nan nên tiếp tục gian díu với mình nhưng giữ kín chuyện tình của hai người vì không muốn bị giai cấp thượng lưu của chồng lên án. Tờ New York Times ca ngợi Sarah Waters như một tác giả tiên phong trong nỗ lực hội nhập văn chương đồng tính vào giòng chính, vì những nhân vật trong Dốc Mầm Nhung rất “thật, rất sống động, rất ‘người’như bất cứ mọi người” trong những bối cảnh éo le, gay cấn của một truyện soap opera phổ thông. Dốc Mầm Nhung đã đuợc đài BBC quay thành kịch dài hạn.

Nỗ lực muốn được nhìn nhận/hội nhập, như đã phân tích ở trên, có hai điều cực kỳ mâu thuẫn: (1) như Jeanette Winterson, vay mượn để diễn dịch, nhưng cuối cùng chối từ những định nghĩa và cấu trúc sẵn có trong giòng chính, để giải thoát tâm trạng đồng tính ra khỏi những khái niệm sáo mòn. Nhưng sự chối từ này của nhà văn đã bị kết án là “mánh lới” (gimmicky) vì không nhìn nhận khía cạnh “phổ quát” của kinh nghiệm đồng tính, làm thế giới của LGBT bị giam hãm trong biệt lập hay một nỗi mơ hồ dai dẳng, thậm chí còn bị “vô hình thể/vô giới tính;” (2) sự so sánh và hội nhập giữa kinh nghiệm lesbian và kinh nghiệm giòng chính, tuy đã giúp xã hội hiểu thêm về đời sống LGBT, đã cố tình không chú trọng vào những khác biệt giữa bản sắc LGBT và bản sắc của người “bình thường.” Đây là một sự chọn lựa khó xử giữa “quái thai” và “siêu thị.”

Ở Hoa Kỳ, văn chương LGBT vẫn chưa được nhiều độc giả trong giòng chính đọc hay biết đến. Chỉ trong thời gian khi bệnh AIDS còn là một mối quan tâm lớn, các tác phẩm nghệ thuật của sân khấu, điện ảnh, hội họa mô tả kinh nghiệm LGBT mới giữ vị trí “có tinh dịch”–seminal, từ chữ semen (tinh trùng)–liên tục vào khoảng 1988-1998 trong văn hóa giòng chính:

(a) Kịch M. Butterfly (ra mắt lần đầu trên Broadway năm1988; quay thành phim năm 1993), áp dụng cấu trúc từ nhạc kịch Madame Butterfly (Hồ Điệp) của Puccini, và dựa trên chuyện thật về cuộc tình của một nhà ngoại giao Pháp và một gián điệp Trung Hoa giả làm đàn bà, trong kịch có tên là René Gallimard và Song Liling. David Henry Hwang, kịch sĩ Hoa Kỳ gốc Trung Hoa, dùng mối quan hệ tình dục giữa Gallimard và Song Liling như một suy niệm về lịch sử, chính trị, văn hóa và chủng tộc giữa Tây Phương và Đông Phương;

(b) Phim Henry and June (1990) về cuộc đời văn chương và tình dục lưỡng tính của nữ văn sĩ Anais Nin–người yêu một thời của Henry Miller–dựa trên những quyển nhật ký của Anais Nin;

(c) Kịch Angels in America (1992), của kịch sĩ Hoa Kỳ Tony Kushner, sau được đài truyền hình HBO của Mỹ quay thành phim từng kỳ năm 2003, nói về những xung đột tôn giáo, chủng tộc và văn hóa về đời sống gay ở những trung tâm thành thị của Hoa Kỳ;

(d) Phim The Crying Game (1992) của đạo diễn/nhà văn Ái Nhĩ Lan Neil Jordan về sự hỗn loạn bản sắc liên hệ đến tôn giáo, chính trị, tình yêu và giới tính của những chiến sĩ khủng bố trong đảng binh Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan (IRA) ;

(e) Phim Philadelphia (1993), dựa trên truyện thật, với nghệ sĩ Tom Hanks đóng vai một luật sư AIDs tranh đấu cho quyền lợi nghề nghiệp của mình ở tổ hợp luật sư Baker & MacKenzie—một tổ hợp luật sư hàng đầu của Hoa Kỳ nhưng đầy những kỳ thị về chủng tộc, giai cấp và giới tính.

(f) Phim Love and Death on Long Island (1997) (phỏng theo tiểu thuyết cùng tên của Gilbert Adair—cũng có hơi hướm từ Death in Venice của Thomas Mann, về amour fou và những cách biệt trong ngôn ngữ và văn hóa giữa một nhà văn gay người Anh (John Hurt) và một nam diễn viên màn ảnh đẹp trai nhưng “bình dân” của Mỹ (Jason Priestley).

(g) Phim Gods and Monsters (1998) về đạo diễn gay James Whale, người đạo diễn loạt phim classic của Hollywood trong thập niên 1930 phóng tác từ những “quái thai” trong văn chương: Frankenstein (của Mary Shelley) và Người Vô Hình (Invisible Man) (của H.G. Wells). Phim so sánh ẩn dụ “quái thai” và “vô hình” với đời sống và định hướng gay của James Whale.

(h) Những tác phẩm hội họa hậu hiện đại đề cập đến ngôn ngữ học, giới tính, văn hóa và bản sắc, như bức tranh tường Tuttomondo (Tất Cả Mọi Người) của Keith Haring (gay), áp dụng ký hiệu tượng hình Ai cập để tôn vinh nhịp sống đa hóa, đa màu của thành phố Nữu Ước; hay bức Flexible (Uyển Chuyển) của Jean-Michel Basquiat (lưỡng tính), cay cú chất vấn khái niệm bản sắc như một “chiến trường thương lượng” giữa những yếu tố gia truyền như màu da, văn hóa, giới tính và định hướng tình dục.


[1] 2008 Conn. LEXIS 385 (October 28, 2008). Đinh Từ Bích Thúy tóm tắt hoặc dịch từ tiếng Anh tất cả những đoạn trích trong bài.

[2] BBC News, “Gay Marriage Around the World,” (Thursday, 22 December 2005), http://news.bbc.co.uk/1/hi/world/americas/4081999.stm

[3] Như trên.

[4] Sarah Schulman, “Separate and unequal: lesbian and gay literature is for everyone” (“Biệt lập và bất bình đẳng: văn chương lesbiangay thích hợp cho mọi người”) (Ý kiến), trong Publisher Weekly (June 30, 2008), tr. 188.

[5] Như trên.

[6] Molly Hoff, “Winterson’s Written on the Body,”  The Explicator (Spring 2002),  p. 179.

[7] Jeanette Winterson, Written on the Body, tr. 187 (Vintage: 1994).

bài đã đăng của Đinh Từ Bích Thúy


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)