Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 09, Nhận Định Email bài này

Chất liệu bình dân trong thơ Tô Thùy Yên

 

 

 

Rải rác trên các tạp chí văn học dưới đất cũng như trên liên mạng, người đọc đã có dịp được đọc nhiều bài viết về thơ Tô Thùy Yên như Bùi Vĩnh Phúc, Nguyễn Hưng Quốc, Lê Thị Huệ, Ngô Nhân Dụng, Phạm Phú Minh, Phan Nhật Nam, Phương Triều. Đặc biệt tác giả Trần Hữu Thục đã dành ra 34 trang sách để nói về hai khía cạnh mang tính triết lý trong thơ Tô Thùy Yên qua tiêu đề “Thơ Tô Thùy Yên, chênh vênh siêu hình / hiện thực” (1). Riêng Võ Phiến trong bộ Văn Học Miền Nam (2), ông đã dành cho Tô Thùy Yên 17 trang sách, trong khi đó nói về Thanh Tâm Tuyền ở trang liền trước đó tác giả Văn Học Miền Nam chỉ viết vỏn vẹn chưa đầy nửa trang. Với chừng ấy bài viết mà tôi được đọc và có lẽ còn nhiều bài viết khác mà tôi không được biết, kể ra thơ Tô Thùy Yên đã được người đọc biết đến nhiều so với nhiều thi sĩ đương thời. Thành ra, là một người đọc, tôi chỉ xin góp thêm một điều hết sức bình dị đó là chất liệu bình dân trong thơ Tô Thùy Yên.

Chừng như trong bất cứ bài thơ nào của Tô Thùy Yên cũng có chút ca dao, vài dòng tục ngữ hoặc cả những điển tích cũ . Tô Thùy Yên nhận ra cái nét sâu sắc và đậm đà trong các chất liệu bình dân đó và hồn ông cứ thấp thoáng đâu đó bóng hình của ca dao, tục ngữ không rời. Do vậy mà thơ ông không xa bình dân nhưng rất nhiều ẩn dụ làm cho nhiều tác giả khi nhận xét về thơ ông phải mày mò tim óc, chắt lọc ý tưởng, đẽo gọt từng câu, gọt giũa từng lời để nêu lên được những nét độc đáo mà những vần thơ của ông chở đầy trong đó.

“Ta Về”(3) là một bài thơ đượm hồn ca dao mặn mà nhứt của Tô Thùy Yên. Với 31 khổ thơ gồm 124 câu, Ta Về như một biến khúc của ca dao. Ngay ở hai câu mở đầu :
”Ta về- một bóng trên đường lớn.

Thơ chẳng ai đê` vạt áo phai..”

nó mang mang lời thống trách qua hồn ca dao bình dị:

“Mình về ta chẳng cho về,

Ta nắm lấy áo, ta đề câu thơ.

Câu thơ ba chữ rành rành:

Chữ “Trung”, chữ “Hiếu”, chữ “Tình” là ba.

Chữ Trung thì để phần cha,

Chữ Hiếu phần mẹ, đôi ta chữ Tình.”

Hai cầu thơ :

“Ta về qua những truông cùng phá,

Nếp trán nhăn đùa ngọn gió may.”

Làm cho người đọc liên tưởng đến bài ca dao quen thuộc:

“Nhớ em anh cũng muốn vô,

Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.

Phá tam Giang ngày rày đã cạn,

Chuông nhà Hồ nội tán phá tan.”

Đặc biệt hai câu thơ sau đây đọc lên nghe như âm điệu của một lời ca dao:

“Tưởng tượng nhà nhà đang mở cửa,

Làng ta, ngựa đá đã qua sông”

Ở đây là một điển tích dân gian vô cùng súc tích nhưng không phải là ngựa đá của thời vua Trần Nhân Tôn qua lời cảm tạ của Ngài trong trận thắng giặc Mông Cổ tại Bạch Đằng giang khi thấy những con ngựa đá chưn dính đầy bùn: “Xã tắc lưỡng hồi lao thạch mã. Sơn Hà thiên cổ điện kim âu”, mà là câu chuyện đời xưa. Câu chuyện đại ý: Tương truyền ngày xưa có một làng mà hai bờ sông, một bên thì dân quê nghèo hèn dốt nát, một bên học hành đỗ đạt làm quan. Bên có người làm quan lập cái miếu có thờ con ngựa đá. Một hôm có vị thần hiện lên về làng, dân chúng bờ sông nghèo mới trình lên vị thần hỏi sao bờ sông bên này từ thuở khai thiên lập địa tới giờ qúa nghèo và không có ai học hành đỗ đạt ra làm quan ráo trọi. Vị thần mới phán rằng chừng nào ngựa đá qua sông dân tình mới có người làm quan. Nghe nói vậy, dân chúng mừng lắm vì bờ sông bên kia đang lở, mà bên này đất lại bồi, nên một đêm mưa gió nổi lên đền thờ và con ngựa đá bị nước cuốn trôi và lù lù nổi lên ở bên này sông. Từ đó dân chúng nghĩ là điềm trời và nhớ lời căn dặn ráng cho con học hành và sau này đỗ đạt rồi ra làm quan thoát đời nghèo khó. Tô Thùy Yên biến cải tích xưa này với cách gieo vần ở ông làm cho câu thơ nghe qua như một lời ca dao mà hàm súc..

Trong câu thơ khác:“ta về như lá rơi về cội” là thoát ý từ tục ngữ “lá rụng về cội” như một chân lý có thật. Rồi đoạn thơ kế :

“Ta khóc tạ ơn đời máu chảy

Ruột mềm như đá dưới chân ta

Mười năm chớp bể mưa nguồn đó,

Người thức nghe buồn tận cõi xa.”

Ta thấy gì qua cách dùng chữ trong bốn câu thơ này. Phải chăng “máu chảy ruột mềm”, “nước chảy đá mòn” là những câu tục ngữ mà người đời thường dùng mỗi ngày trong đời sống? Rồi “Mười năm chớp bể mưa nguồn đó”, ý từ hai câu ca dao:

“Đêm qua chớp bể mưa nguồn

Đấy vui có biết đây buồn hay không?”

Trong câu “Nước non ngàn dặm, bèo mây hỡi” hai chữ “bèo mây” từ thành ngữ “bèo nổi mây trôi” trong bài ca dao:

“Bực mình lên tận thiên cung

Đem ông Nguyệt Lão xuống hỏi thăm vài lời

Nỡ lòng trêu ghẹo chi tôi

Lênh đênh bèo nổi mây trôi một thời.”

Trong hai câu thơ:

“Ai gọi ai đi ngoài quãng vắng?

Phải, ôi vàng đá nhắn quan san?”

Hai chữ “vàng đá”, phải chăng tác giả đã tạo ra một từ ngữ thật ngắn gọn mà hàm súc từ thành ngữ “đá nát vàng phai” trong ca dao:

“Trăm năm đá nát vàng phai

Đá nát mặc đá, vàng phai mặc vàng.”

Hoặc:

“Chừng nào đá nát vàng phai,

Biển hồ tát cạn mới sai lời thề”

Hoặc:

“Giao ngôn đá nát vàng phai

Em đừng nhẹ dạ nghe ai bao giờ.”

Đến hai câu :

“Hoa bưởi, hoa tầm xuân có nở?

Mười năm, cây có nhớ người xa?”

Người dọc nhận ra ngay bài ca dao “trèo lên cây bưởi hái hoa” sau đây:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa,

Bước xuống vườn cà, hái nụ tầm xuân.

Nụ tầm xuân nở ra cánh biếc,

Em đã lấy chồng , anh tiếc lắm thay.

Thoạt vào anh nắm cổ tay.

Sao trước em trắng mà rày em đen,

Hay là lấy phải chồng hèn,

Cơm sống, canh mặn nó đen mất người.

-Ba đồng một mớ trầu cay.

Sao anh không không hỏi những ngày còn không.

Bây giờ em đã có chồng,

Như chim vào lồng, như cá cắn câu,

Cá cắn câu biết đâu mà gỡ,

Chim vào lòng biết thuở nào ra…”

Hai câu thơ:

“Đau khổ riêng gì nơi gió cát..

Hè nhà, bụi chuối thức thâu đêm.”

Những từ ngữ “hè nhà, bụi chuối” thoát ý từ câu ca dao:

“Gió đưa bụi chuối sau hè”

Đoạn thơ:

“Ta về như nước tào khê chảy.

Tinh đẩu mười năm luống nhạt mờ.

Thân thích những ai giờ đã khuất?

Cõi đời nghe trống trải hơn xưa.”

Ngay câu thơ đầu với các chữ “tào-khê”, “tinh đẩu”, ta nghe như cái chất ca dao trong thơ Tô Thùy Yên đã hòa quyện vào nhau làm cho thơ và ca dao thành một, khiến người đọc liên tưởng đến hình ảnh bốn câu ca dao sau đây:

“Đêm đêm tưởng dải ngân hà,

Bóng sao tinh đẩu đã ba năm tròn.

Đá mòn, nhưng dạ chẳng mòn,

Tào-khê nước chảy vẫn còn trơ trơ.”

Đến đoạn thơ dưới đây:

“Người chết đưa ta cùng xuống mộ.

Đêm buồn, ai nữa đứng bờ ao?

Khóc người, ta khóc ta rơi rụng.

Tuổi hạc, ôi ngày một một hao.”

Người đọc không thể không nhớ sáu câu đầu của bài ca dao vừa dẫn :

“Đêm qua ra đứng bờ ao,

Trông cá, cá lặn, trông sao, sao mờ!

Buồn trông con nhện giăng tơ,

Nhện ơi! Nhện hỡi! Nhện chờ mối ai?

Buồn chông chênh chếch sao mai,

Sao ơi, sao hỡi, nhớ ai sao mờ?”

Cái khéo của Tô Thùy Yên là ở chỗ nguyên bài ca dao dài, ông chỉ chọn lựa ra ba bốn chữ dùng như “tào khê”, “tinh đẩu”, “đêm”, “đứng bờ ao”, những chữ không mới, mà khi ông sắp xếp nó vào khổ thơ của ông thì những chữ đó nó bỗng có thần hồn rồi lan tỏa ra làm bao quát cả hồn ca dao và hồn nghệ sĩ chính mình.

Đễ nhận ra thêm vài hình ảnh ca dao khác trong các bài thơ sau này, để thấy Tô Thùy Yên rất ưa thích và gần gũi với ca dao như một niềm thích thú của một thi sĩ không quên mình sinh ra và được nuôi dưỡng tâm hồn bằng chính cái chất liệu ca dao bình dị ấy. Nhóm chữ “chó sủa trăng lu” trong một đoạn cuối bài thơ “Người ở lại” trang 151 của Thơ Tuyển:

“Vô thủy lạc rồi nay lạc nữa

Đành như sao rụng dưới trời sâu.

Tàn đời mạt kiếp liệu còn gặp?

Dai dẳng sầu, chó sủa nguyệt lu.”

Cũng như trong bài thơ “Nhà xưa, lửa cất ủ” trong Thắp Tạ trang 60, ta bắt gặp câu thơ:

“Tiếng con chó nhỏ bên hè

Sủa bóng trăng lu”

Làm ta nhớ hai câu ca dao:

“Bực mình con chó sủa dai,

Sủa nguyệt lâu dài, sủa bóng trăng lu.”

Hễ có trăng là chó sủa gọi là “sủa nguyệt lâu dài”, mà nhất là hình ảnh con chó “sủa bóng trăng lu” là hình ảnh quen thuộc ở làng quê mà dân quê thường gọi là chó sủa trăng hay chó sủa ma. Vì trăng lu trời tối mờ mờ, gió đưa bóng cây thấp thoáng như có bóng ma vờn qua vờn lại và rồi chó tưởng bóng người và cứ thế mà sủa sáng đêm hay còn gọi chó sủa dai. Nhóm chữ “chó sủa trăng lu” không có gì là thơ nhưng qua tài nghệ chơi chữ, Tô Thùy Yên để lại một âm điệu mới và lạ không thua gì ca dao đã chìm vào trăng và nghe chó sủa trăng.

Nhơn nhắc đến bài thơ “Người ở lại”, có hai câu:

“Thôi, em tiếc thêm chi cái sợi dây dài

Để đến nỗi ngồi hoài bên giếng cạn?”

Phải chăng đây là hình ảnh mới của hai câu ca dao cũ mà vẫn làm tăng thêm nỗi luyến tiếc thật tha thiết nhờ sử dụng thêm chữ “nỗi” đệm vào :

“Tưởng giếng sâu, nối sợi dây dài,

Hay đâu giếng cạn, tiếc hoài sợi dây.”

Tiếp đến ở một câu thơ khác:

”Các em thay anh một mai phò giá triệu, hầu minh tinh”

thoát ý từ hai câu ca dao:

“Một mai ai đứng minh tinh,

Ai phò giá triệu, ai vin quan tài.”

Hai câu thơ khác:

“Bạn về quê bạn, đường xa ngái,

Trong nớ, ngoài ni, nhớ chẳng yên.”

Rất mật thiết với hai câu ca dao:

“Rồi mùa, tót rã, rơm khô,

Bạn về quê bạn, biết mô mà tìm.”

Hoặc:

“Người lỡ thời đi tới xứ mô?”

Phải chăng cũng do hai câu ca dao:

“Cây khô xuống nước cũng khô,

Vận nghèo đi tới chỗ mô cũng nghèo.”

Thơ Tô Thùy Yên còn nhiều chất liệu ca dao như thế như các câu thơ sau đây:”Em về giồng dưới, qua bưng gió”, “Muối mặn, gừng cay, trắng tóc xanh”, “Người lạc người bởi ngọn Đông phong”, “Sao lúc rời nhau chẳng đổi áo”, “Bờ giếng xưa, còn ai đứng trông?”, “Mất chiếc áo để quên, Nhớ dấu cành sen đó…”. Tất tất đều thắm đượm những hình ảnh của “em về giồng dứa, qua truông”; “tay bưng dĩa muối chấm gừng, gừng cay, muối mặn xin đừng bỏ nhau”; “ngọn gió Đông phong thổi lạc vợ xa chồng” qua trận bão năm Thìn ở Gò Công; “anh về để áo lại đây, để khuya em đắp, gió tây lạnh lùng”; “tới đây, dây vắn, gàu thưa, hỏi người cố cựu giếng xưa ai đào”; “đêm qua tát nước đầu đình, để quên cái áo trên cành hoa sen.”vân.. vân..

Qua hai thi tập Thơ Tuyển và Thắp Tạ, những câu thơ đượm chất liệu bình dân tương tự như thế còn nhiều lắm, nhưng với chừng ấy ví dụ, chúng tôi nhận ra thơ Tô Thùy Yên rất gần với ca dao tục ngữ. Nhưng có một điều dường như rất bất công đối với khía cạnh chất liệu bình dân trong thơ Tô Thùy Yên và nhất là đối với tục ngữ ca dao, là các nhà phê bình không quan tâm đến khía cạnh bình dân này hoặc nếu có nhắc cũng chỉ lướt qua cho có lướt chứ không phải là một điểm nổi bật và đặc thù cần phải nhận ra trong thơ của ông. Phải chăng ca dao tục ngữ thuộc về văn chương bình dân, quen quá, biết quá, không cần đề cập nữa dù nó đã được Tô Thùy Yên cần nó?!? Đành rằng dùng ca dao như một điển tích trong các bài thơ sẽ không tránh khỏi cái lợi và cái hại đi liền kề trong việc dùng điển tích với những ưu và khuyết điểm của nó, nhưng có một điều phải thành thật nhận ra rằng, với dụng công của mình, Tô Thùy Yên đã làm mới thơ của ông bằng ca dao và chính ca dao đã góp phần làm nên tên tuổi Tô Thùy Yên!

Houston, tháng 8 năm 2006

Cước chú:

1/ Tác giả, tác phẩm & sự kiện của Trần Hữu Thục, nhà xuất bản Văn Mới, Hoa Kỳ, năm 2005.

2/ Văn Học Miền Nam(Thơ) của Võ Phiến, nhà xuất bản Văn Nghê., Hoa Kỳ, năm 1999.

3/ Thơ Tuyển Tô Thùy Yên, tác giả xuất bản, Hoa Kỳ, năm 1995.

4/ Thắp Tạ của Tô Thùy Yên, nhà xuất bản An Tiêm, Hoa Kỳ, 2004.

bài đã đăng của Lương Thư Trung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)