Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

Màu thời gian và cách nhìn đời trong “Thơ Bạc Tóc” của Ngu-Yên

 

 

 

Nói tới màu thời gian là nói về sự thay đổi. Thay đổi trên đá trên rêu, trên cò cây vạn vật và trên cái dáng vẻ của con người. Hai chữ “bạc tóc” , tác giả dùng làm tựa cho thi phẩm thứ sáu của ông cũng là một cách nào đó mang dấu tích của một sắc màu thời gian qua nhiều biến thiên của trời đất. Ngoài ra, cái nghĩa “bạc tóc” không hoàn toàn đồng nghĩa với “tóc bạc”, mà nó còn nói lên sự tương phản giữa hai từ này nữa. Thông thường người ta khi nói “tóc bạc”, ngoài cái nghĩa đen là màu tóc từ đen dần dần biến ra màu trắng bạc, mà nó còn cho thấy con người không cưỡng lại nổi với sự hủy hoại của thời gian sau sáu bảy mươi năm sống giữa cõi đời trần tục này . Còn “bạc tóc”, không hẳn là như vậy .

Bởi trong đời sống không phải ai cũng phải đợi đến tuổi già rồi tóc mới bạc, mà có nhiều người chưa già mà do suy tư nhiều, do lo nghĩ nhiều, do ưu phiền nhiều rồi tóc ngã sang màu trắng lúc nào mà họ cũng không hay biết. Thế rồi, một hôm soi gương nhìn lại mái tóc đen ngày nào của mình, chợt bàng hoàng , thương tiếc mới hôm nào tuổi trẻ một thời nay đành “bạc tóc” mái đầu.

Phải chăng hiện trạng “bạc tóc” trong thơ Ngu-Yên , ngoài cái nét màu thời gian trên cây cỏ, đá núi rong rêu, và với cả con người phôi pha cùng năm tháng, mà nó còn là một cách nhìn đời rất khác lạ so với nhãn quan của nhiều người qua mấy mươi năm làm thơ và sống giữa cõi đời mà tác giả có được

Ngay bài thơ đầu tiên kể chuyện “Sài Gòn Tóc Bạc”, Ngu-Yên đã cho người đọc thấy sau 33 năm rời xa chốn cũ và nay lại trở về nhìn lại dáng dấp Sài Gòn quả là 33 năm dài làm cho Sài Gòn “bạc tóc” qua những năm dài. Nhưng với chính mình, ông cũng cảm thấy mình lại già nua đi nhiều so với tuổi đời chưa lấy gì gọi là già . Cái tâm trạng giữa cũ và mới, giữa xưa và nay, giữa dấu tích một thời và những tàn phai một thuở là nỗi lạc loài giữa chính mình với cảnh vật, giữa chính mình với con người và rồi cái nét cũ mang mang đó là nỗi đau xé lòng bất cứ người nào, huống gì một tâm hồn nghệ sĩ như Ngu-Yên :

“Tôi và Sài Gòn thấy nhau
Vừa lạ vừa quen vừa thân vừa khó chịu”

và:

“Đi lại vỉa hè
Thấy bềnh bồng đường phố
Người nào cũng quen tôi lạ vô cùng
Lá cây vẫn vậy
Nắng mưa vẫn vậy.
Tiếng kèn xe lấn áp tiếng ve
Cây me cũ cao hơn trước
Dấu cành xưa cưa cụt còn vết thương
Góc quán cũ tân trang hơn trước
Người khách xưa vô thường miên man
Tôi không biết làm gì hay đang rướm máu
Hạt bụi rơi giữa thê thiết tung hê
Nén hơi sống vào hình hài lắng đọng
Chịu đựng ngàn năm cho hết trăm năm
Sài Gòn Tôi đứng đội trời bất lực
Chân có đôi mà cô đơn
Mây ngàn lối tập trung vào giọt nước
Mưa
Tôi ướt như xưa xa Sài Gòn”.

(Sài Gòn tóc bạc ,trang 2)

Thử hỏi, “Giọt nước mưa” hay nước mắt của người về nhìn lại mình qua trùng trùng biển nhớ xót xa, đâu có kém gì khi xa Sài Gòn năm xưa đầy nước mắt.?!?

Với Sài Gòn là thế, nhưng khi về lại Nha Trang, đứng trước căn nhà cũ “76 Bạch Đằng Nha Trang” là một nỗi lạc loài thê thiết nữa. Với nơi chốn thân quen nhất của những ngày thơ ấu cũ mà rồi sau 33 năm xa xứ trở về không còn ai biết ra cậu bé ngày xưa nay đã già và đã có những năm dài sống trong ngôi nhà ấy, đành phải nói với gió, với mây.:

“Ngày tôi về
Đường dẫn vào quá khứ không ai quen
Đứng trước căn nhà cũ
Kỷ niệm lần khân 33 năm
Cô hàng xóm hỏi :
- Bác tìm ai ?
Buồn buồn trả lời gió :
- Bác già rồi, đọc sai địa chỉ”

Dường như chỉ có người trong cuộc biết quá nhiều về gió, về mây, nên chỉ một lòng muốn nói chuyện cùng mây với gió :

“Hôm sau quay trở lại
Đứng trước căn nhà xưa
Cô hàng xóm nói :
- Bác lộn địa chỉ rồi
Buồn buồn trả lời gió
- Bác muốn mua căn nhà này”

…………………………

Tôi đứng trước nhà tôi
Cô hàng xóm nhiều chuyện
- Chủ nhà không bán đâu
Buồn buồn hỏi gió :
- Ai bán căn nhà này ?”

Nhìn ở khía cạnh sâu kín nào đó, những câu hỏi và trả lời vừa đơn giản, vừa gọn gàng, vừa tức cười ấy như những câu hỏi và trả lời của các bậc sư tổ tiền bối ở một thời nào sau bao nhiêu năm tu tập sắp thành các bậc chân tu đạt đạo. Không ai hiểu mình. Thôi đành hỏi gió đở buồn !!!

Nhưng có lẽ khi lên nhìn lại thành phố sương mù của những ngày tuổi trẻ thiết tha yêu, thì hởi ơi, Đà Lạt của những cuộc tình, những rong chơi bất tận giờ sao nó đã quá già nua với biết bao “thân ái mất” dù người trong cuộc cố tìm lại những những dấu tích xưa mà hồn thời lãng đãng xa xăm quá những tháng ngày xa cách :

“Lâu lắm rồi
Theo con dốc
T
ìm lại Đà lạt đêm
A
nh nắm tay em
Nắm bao thân ái mất
Dắt những ngày đại học
Về lại nụ hôn đầu .”

Màu thời gian đã trùm phủ lên Đà Lạt, lên con dốc Hoà Bình, lên hồ Xuân Hương, lên sân Cù và cà phê Tùng một thời trai trẻ “hai mươi” :

“Cà phê Tùng
Già vời già tìm về kỷ niệm
Thầm xuýt xoa thấm thía buồn hai mươi
Hãy ngồi lại nơi góc ghế cũ
Tình nhân xưa
Xung quanh đầu hói da nhăn tóc bạc
Bóng tối nhạt nhòa
những linh hồn sống sót
Phất phơ .”

“Đà Lạt đêm không giống đêm Đà Lạt
Khoác quê mùa lấn áp thân kiêu sa
Con đường mất vong hồn bác Tư cô Tám
Thủy tạ đếm tiền lãng mạn khuất chìm sâu”

(Đà Lạt còn anh và em, trang 9)

Tác giả viết về Đà Lạt qua bao mùa gió mưa làm phôi pha đường nét một thời bằng những vần thơ vô cùng thâm thúy với tứ thơ quen mà chữ dùng và câu thơ rất lạ đã tạo cho tôi, một người từng có những ngày lang thang giữa phố phường cùng rừng thông Đà Lạt, với những con dốc, với người tình có cảm giác như trong thơ Ngu- Yên có bóng dáng của chính mình :

Đêm anh ngủ nghe tiếng sương rất cũ
Rơi ểnh ương rung hồi hộp lá thông
B
ao năm quay lưng bây giờ quay mặt
Ôm em vô cùng sợ hãi thời gian
12 giờ khuya trời đã sáng
Nghe ủ ê dân tộc tiển linh hồn
Sớm cùng em hẹn xôi gà cà phê bít tất
Cà phê Trung Nguyên nghẹn thở Đuôi Chồn
Có mấy kẻ biết nơi đây ổ gà năm ấy
Bước sụp hồn té mấy chục năm
Đại học cỏ rau xanh chữ nghĩa
Anh đi lui đi tới
Ngắm tìm
Nhất định không giống
Nói sao cũng không giống
Một đường đi xa lạ trăm lối về
Khu Hòa Bình điểm trang loang lổ
Thiếu phụ cười lâu quá thấy răng vàng
Những cửa hàng tiu nghỉu
Bậc cấp tróc sơn chấp vá đìu hiu
Đà Lạt xưa chập chùng đồi núi
Nay chi chit nhà
N
hững chiếc hộp con sơn màu cẩu thả
Cạnh những villa
Thiếu nữ quí phái sáng chiều áo nảo
Giai nhân thất thế bán chợ Trời
Biết son phấn ngậm ngùi khi rửa mặt
Giữ làm sao trinh tiết gái bị thua
Đà Lạt có ngàn nơi kỷ niệm
Đi loanh quanh thấy mất quá nhiều
Chiều trời lạnh không lạnh bằng quá khứ
Một chút mưa sao ướt hết cả ngày
Biết nói gì giữa cơn đau bụng
Mữa vào trong đở đói tiếc thương…”

(Đà Lạt còn anh và em, trang 11)

Vì mạch thơ của bài thơ này là một chuỗi những hình ảnh, ký ức, ý nghĩ, kỷ niệm giữa ngày xưa và hôm nay trộn lẫn vào nhau dẫn người đọc băng qua những trùng trùng biển nhớ, nên chúng tôi đành bất lực và mê say nên không nỡ lòng nào cắt một đoan thơ nào trong mạch thơ liền lạc, chập chùng những bóng hình thân yêu của Đà Lạt một thời trong tác giả và cả trong chính mình nữa.

Với Hà Nội, tôi chưa bao giờ gặp, nhưng tôi có đọc nhiều bút ký ghi lại Hà Nội những ngày sau này như “Lô Sơn Yên Tỏa” của Trần Doãn Nho và vài tác giả khác và họ viết bằng văn xuôi. Ở đây, với tập bản thảo “Thơ bạc tóc” của Ngu-Yên, tôi được biết Hà Nội qua bài thơ “Hà Nội thơm héo hoa người”. Với cái tựa lạ làm cho tính mò mò của người đọc muốn biết Hà Nội đang có gì. Thì ra Hà Nội trong trí tưởng của nhiều người là Hà Nội của Thạch Lam với “Ba mươi sáu phố phường”. Cho nên Ngu-Yên mở đầu bài thơ với vỏn vẹn ba câu mà xác định được cái nhìn về Hà Nội :

“Tôi nghe về Hà Nội
Như nghe một bài thơ
Bài thơ đóng đinh treo trên bàn thờ”

(Hà Nội thơm héo hoa người, trang 12)

Với tâm hồn nghe và nghĩ về Hà Nội của một tâm hồn thi sĩ thì Hà Nội như một bài thơ chỉ để thờ thế đó, nhưng khi tác giả tới gặp Hà Nội, dưới cái nhìn thật sau mấy mươi năm nghe nói, nghe kể, thì :

“Hà Nội
Từ dười nhìn lên
Trăm năm mây mù che phủ mắt em
Hà Nội
Từ trên nhìn xuống
Thành phồ hóa trang nụ cười
Từ lòng trồng vắng
Hoan hô”

Và rồi, tác giả kết bài thơ với cái “nhìn sâu” khá lạ :

“Hà Nội
Nhìn sâu trong mắt tôi
Hà Nội lạ lùng
Thơm héo hoa người.”

(Hà Nội thơm héo hoa người, trang 13)

Hà Nội, hay bất cứ thành phố lạ hay quen nào, mỗi người nhìn ngắm nó mỗi khác, không ai giống ai ; nhưng với Ngu-Yên, Hà Nội trong mắt ông là thế với cái tựa bài thơ rất bắt mắt bởi những chữ “thơm héo hoa người”. Với cái tựa này người nào hiếu kỳ có thể hoán vị các chữ trong tựa bài thơ sẽ cho ta vài ba cái tựa mới như “Hà Nội héo hoa thơm người”, “Hà Nội thơm người héo hoa”, “Hà Nội người héo hoa thơm” vân.. vân…. Với cái tựa nào, dường như những chữ không lạ này nhưng khi đặt tên cho bài thơ, đều làm bài thơ thấy lạ . Là người đọc thơ của một người làm thơ trên dưới năm mươi năm, tôi chắc không ai dám sửa lại tựa bài thơ của tác giả ”Hà Nội Thơm Héo Hoa Người”.

Trên đây là những bài thơ tác giả viềt về bốn nơi , trong đó có ba nơi tác giả gặp lại sau 33 năm xa cách với cái nhìn khách quan về chốn cũ những ngày xưa thân ái . Nhưng Ngu-Yên, không chỉ có bốn bài thơ mới ấy với nỗi lòng tiếc thương về những lớp bụi thời gian làm mờ kỷ niệm, mà dường như những bài thơ còn lại trong suốt mấy mươi trang bản thảo “Thơ Bạc Tóc”, bài nào tác giả cũng trăn trở về nỗi mình, nỗi người, về cuộc đời, về thân phận con người. Những trăn trở có pha chút lãng mạn của một tâm hồn nghệ sĩ, đôi lúc pha chút chán đời nhưng rất thật với lòng, một thứ chơn thật làm nên tính cách riêng của thơ và của chính tác giả . Xin mời các bạn nghe Ngu- Yên nghĩ ngợi về dòng đời đã kéo đời ông theo con đường của nó :

“Khi tôi còn trẻ thơ
Người bán hàng rong
Xoay xoay trò chơi
Vui cuộc đời tôi
- Kẹo kéo, kẹo kéo đây….
Khi tôi vừa lớn khôn
Đời hết ngọt thơm
Chua cay trò chơi
Đôi co hồn tôi
Đời kéo, đời kéo….
Đời kéo tôi đi theo dòng ngiệt ngã
Để lại thơ ấu khóc lóc chờ tôi
Đời kéo tôi đi qua đường thăng trầm
Chết giữa phù sinh
Lòng vẫn chưa tin
Đời kéo tôi dài ngàn khúc phân ly
Đời kéo tôi cao đụng đáy sân si
Đời xô tôi té
May mà có em
Dìu tôi đứng lên
Một lần
Trẻ thơ
Ra tắm dòng sông
Nào ngờ sẽ trôi suốt dòng sông buồn

……….

Thôi, xa lìa tuổi thơ
Giờ đã già nua
Tôi tin đời tôi
Chỉ là trò chơi.”

(Hát soi đáy giếng, trang14)

Với quan niệm dòng đời như “dòng sông” lôi kéo mình “xa lìa tuổi thơ” để rồi đời mình chỉ là “trò chơi” như tác giả đã khắc họa chân dung cuộc đời mình qua bài thơ vừa dẫn, thì không có gì ngạc nhiên khi Ngu-Yên lại một lần nữa hay nhiều lần nữa trong thi phẩm này, tác giả đã nói về cái sống của mình giữa nơi chốn nhân sinh này chỉ là sống tạm, sống chơi, chứ không bao giờ là sống thiệt :

“ Nói cho đúng
Anh tầm thường hơn tất cả mọi người
Vì họ sống
Còn anh sống tạm.”

(So sánh, trang 48)

Cho nên, trong một bài thơ khác với cái tựa “ Ngày 7 tháng 8 năm 2002”, tác giả đã kết thúc bài thơ ngắn bằng ba câu gọn lỏn mang chút triết lý giữa đêm và ngày, giữa mộng và thực chỉ cách nhau có một giấc ngủ là biết đời không gì là chắc chắn trăm phần :

“Đêm qua mơ vinh hiển
Sáng ngày gặp vận cùng
Cách nhau giấc ngủ .”

(Thơ bạc tóc, trang 62)

Giấc ngủ thì gần và mong manh thế đó, nhưng đêm và ngày nào có hơn gì nhau :

“Biên giới giữa đêm và ngày là sương mỏng
Là quá thời trăng dang díu giấc mơ”

(ngày I tháng 9 năm 2007, trang 38)

Nhưng có lẽ những câu hỏi rất gần, rất thật mà ít ai dám hỏi về một đời sống nơi trần gian này, nhưng tác giả thì bâng khuâng trăn trở với sự sống chết mỗi ngày bằng những câu hỏi khó vô cùng :

“Tại sao yêu nhau lại cởi áo cởi quần ?
Tại sao sống lại phải ăn phải uống ?
Tại sao gió phải thổi ? Mây phải bay ?
Tại sao phải chết ?
Ai bắt đầu ? Ai chấm dứt ?
Ai trên trời ? Ai chôn đất sâu ?
Ai là vợ ? Sao cô không làm vợ ?
Cứ yêu thôi, đừng cởi áo quần
Suy nghĩ mãi mới biết đời không hiểu
Sống chưa xong, hiểu làm gì
Kệ mẹ nó, bắt đầu chấm dứt
Ta cười cười đoạn giữa thong dong .”

(Ngày 12 tháng 8 năm 2008, trang 39)

Chính vì đời có những điều tưởng chừng rất dễ hiểu nhưng nhiều khi nó lại khó hiểu biết như thế đó. Và Ngu-Yên đã làm bài toán trừ để tìm ra đáp số “Dễ hiểu = Không hiểu – Khó hiểu”” như tứ thơ cô đọng này :

“Tôi được hiểu
Bất thường
Là bình thường ít gặp

………

Tôi được hiểu
Sống
Là bất thường không chết

………

Tôi được hiểu
Thời gian
Là bất thường muôn thuở…”

(Thơ bc tóc, trang 37)

Trong ý hướng tự vấn chính mình, với “Thơ bạc tóc”, tác giả có bài thơ “Ngày 18 tháng 4 năm 2006” rất lạ và thú vị :

“Đối chiều cao building
Choáng váng
Người xây chiều cao
Chiều cao cao hơn người.

………

“Người làm tự điển
Tự điển nhiều chữ hơn người
Tôi tra chữ : Hiểu
Nghĩa là Không biết
Đối với mình
Nói sao đây
Mình nuôi mình sống để chôn mình.”

(Thơ bạc tóc, trang 51)

Nhưng có lẽ giữa những gì hiểu được và không hiểu được, vấn đề là làm sao hiểu được mình già cũng là điều không phải lúc nào cũng suôn sẻ, dễ dàng . Chợt nhận ra mỗi ngày trôi qua hai mươi bốn giờ như cơm bữa, thế mà thời gian 24 giờ ấy lại giết chết dần tuổi thanh xuân một cách lạnh lùng, “ghê gớm” :

“Vẫn không hiểu vì sao tôi già
Mỡi ngày nhỏ nhoi vậy mà ghê gớm
Mỗi giờ ngắn ngủi xếp lên da nhăn
Thảng thốt lạnh mình không thể tưởng tượng

……

Đọc câu thơ cũ
Nhớ ngày còn trẻ

……

Chuyện làm tôi: chuyện hoang đường có thật
Kể lại không ngờ có kẻ vậy sao
Rồi một lúc ngạc nhiên vì tuổi tác
Hóa ra trẻ nít cũng phải già.”

(Thôi, Chuẩn bị. Không còn xa, trang 43)

Nhơn nhắc đền màu thời gian nhuộm tóc mỗi ngày, chợt bắt gặp thơ Ngu-Yên đang lay hoay với sống và chết như một trăn trở nữa về cuộc đời :

“Sống là chết dần thiếu can đảm
Đi biết không về vẫn gửi thư
Khi hiểu rõ nổi da gà đã muộn
Muộn càng muộn thêm khi bắt ngờ”

………

“Sống là chôn vào đời chờ mất
Chờ vô tâm vô tính vô tri
Chờ thoải mái trong khó cực
Chờ thời gian đụng bắt ngờ”

(Bắt ngờ, trang 100)

Thơ về nhân sinh, về cõi người, Ngu-Yên viết hoài không chán. Còn nhiều lắm những bài thơ với tứ thơ quen quen mà rất lạ theo cách tự hỏi mình, trong bài thơ “Biết mình biết ta”, tác giả mở và kết :

“Khi không biết mình là ai
Người ta tưởng mình ai là
Tỷ tỷ người đã sống
Mấy ai biết ta.

………..

Một đời người tóc rụng bao nhiêu rồi bạc
Mấy bữa cơm rồi ung thư
Mấy lần yêu rồi bất lực
Biết mà không ưa ý của Trời

………

Khi hết biết mình là ai
Tôi biết tôi là ta.”

(Thơ bạc tóc, trang 99)

Chính vì hằng tỷ, hằng tỷ người “mấy ai biết” cái “ta” của mình nên tác giả nhận ra các bậc thánh nhân ngàn xưa càng im lặng bao nhiêu thì con người sống nơi cõi nhân sinh này lại nói quá nhiều như bốn câu kết bài thơ “Một ngày như nhiều ngày đã” :

“Ngàn năm im lặng
Trăm năm sao nói nhiều ?
một ngày sao quá nặng
Một hơi thở phiêu phiêu.”

(Thơ tóc bạc , trang 63)

Tóm lại, mỗi bài thơ của Ngu-Yên trong “Thơ bạc tóc” dường như bài thơ nào cũng khó đọc. Khó đọc không phải vì tác giả làm thơ không hay mà vì có những điều quá thật mà người đời không dám tự đặt câu hỏi với chính mình. Thơ Ngu-Yên là tiếng nói được cất lên, trước nhất như một lời tự vấn với lương tâm mình, với ý nghĩa cuộc đời, với kiếp làm người; sau nữa, tác giả lên tiếng giùm cho những ai chưa có can đảm nhận ra những điều chưa dám nói ấy. Những bài thơ trong “Thơ bạc tóc” là những trăn trở của một tâm hồn nghệ sĩ với chất liệu sống phủ đầy màu thời gian qua bao mùa biến thiên của trời đất và dòng đời . Ở đó, những tứ thơ rất quen mà ý thơ phong phú, lời thơ lạ mà gần, chữ dùng nhiều lúc thấy bình thường nhưng lại “bất thường”; tất cả làm thơ Ngu-Yên ở đây cũng như nhiều tập thơ khác khó “câu” người đọc một cách nhẹ nhàng; nhưng ai đã đọc thơ tác giả rồi, thì thế nào cũng tìm đọc lại thơ Ngu-Yên vài ba bận nữa vì tính lạ mà gần gũi và ý tứ đơn giản mà thâm thúy ấy . Giống như “thuốc đắng dã tật” vậy!

Boston, ngày 19-11-2008

(Nhơn đọc bản thảo thi phẩm “Thơ Bạc Tóc” của Ngu-Yên)

bài đã đăng của Lương Thư Trung


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)