Trang chính » Biên Khảo, Chuyên Đề, Ngày 30 tháng Tư, Nhận Định, Văn Học Miền Nam Việt Nam 1954-1975 Email bài này

Đọc lại Kỷ Vật cho Em (*)

 

 

 

Ky Vat Cho Em lyric cover 

 

Trước và sau thập niên 70, chiến tranh Việt Nam bùng phát dữ dội và đó cũng là hệ quả tất yếu khiến hàng hàng lớp lớp thanh niên, sinh viên học sinh đến tuổi phải từ giã sự nghiệp, sách vở, giảng đường để tham gia cuộc chiến với nhiều cách khác nhau. Đó cũng là thời gian xã hội miền Nam có nhiều biến động nhất: chiến tranh lan rộng sâu tận thành phố, những cuộc biểu tình lớn nhỏ dưới nhiều chiêu bài, khuynh hướng hỗn tạp, đã ít nhiều làm cho thanh niên tỏ vẻ hoài nghi về những hoài bão, lựa chọn của mình. Và chính sự khủng hoảng chính trị, xã hội dẫn tới một hiện tượng không thể phủ nhận: văn đàn miền Nam xuất hiện những khuôn mặt trẻ đầy bất ngờ, mới mẻ, phần nào làm mới sinh khí văn chương vốn dĩ bị che mù bởi dòng văn học hiện sinh, bị lấn át bởi những đàn anh tên tuổi. Đó là những Phạm Thiên Thư, Nguyễn Tất Nhiên, Nguyễn Bắc Sơn, Trần Hoài Thư, Hoàng Ngọc Tuấn, Y Uyên, Vũ Hữu Định, Trần Thị Ngh… Công chúng, nhất là giới trẻ đã đón nhận họ như đón nhận một luồng gió mới, một sinh khí mới trong dòng văn học miền Nam.

Thật ra luồng gió hay sinh khí mới kia cũng chẳng có gì lạ. Họ, những người trẻ viết văn, làm thơ không mang kiểu cách buồn nôn, chán nãn xa lạ mà, họ viết bởi cảm xúc chân thật bắt nguồn từ những gì xảy ra chung quanh, gắn liền với tình cảm, đời sống: một chút nhớ nhung về mối tình thời trai trẻ “anh theo Ngọ về/đường mưa nho nhỏ” hay một chút giận dỗi “nghe nói em vừa thi rớt Luật/môi trâm anh tàn héo nụ xa vời…rớt đi Duyên, rớt để thương người”. Và lắm khi là ngông nghênh, ngang tàn của người “lính thư sinh” sau những lần hành quân “mai ta đụng trận ta còn sống/về ghé sông Mao phá phách chơi/chia sớt nỗi sầu cùng gái điếm/đốt tiền mua vội một ngày vui”“xin cảm ơn một mái tóc mềm/mai xa lắm trên đồn biên giới/còn một chút gì để nhớ để quên”. Và một tiếng kêu não lòng, xé ruột của Y Uyên: “chiến tranh mẹ gì mà lâu dữ vậy?

Những tâm tình bùi ngùi như thế lại được âm nhạc tiếp sức, đẩy lên một bậc khiến giới công chúng càng yêu thích luồng gió mới kia nhiều hơn.

Rồi theo trào lưu thơ phổ nhạc ngày càng thịnh hành, bất ngờ công chúng lại được nghe trên đài phát thanh Sài Gòn, trong các phòng trà đô thành, các quán cà phê: “em hỏi anh, em hỏi anh bao giờ trở lại…xin trả lời mai mốt anh về… anh trở về có khi là hòm gỗ cài hoa…” khiến mọi người ngơ ngác hỏi: Linh Phương, tác giả bài thơ, là ai vậy? Hắn trong bưng làm thơ địch vận hay trong nhóm phản chiến? Thần hồn và tứ trong bài thơ cứ bình-thản-nức-nở, bình-thản-nghẹn-ngào, coi như không có gì ghê gớm. Rồi khi cái tứ đó đi qua những cung bậc cao thấp của nhạc sĩ Phạm Duy, cộng với chất giọng của Thái Thanh lại cảng run rẩy, thê thiết hơn. Những năm tháng ấy, kẻ viết bài này chỉ mới là anh sinh viên trong giảng đường, tình cờ đọc trên tờ nhật báo Độc Lập đã thoáng giật mình! Càng giật mình hơn khi được biết Linh Phương viết bài Kỷ vật cho em trong lúc đang hành quân ở Chương Thiện khoảng đầu năm 1970! Trong khi đó, những người bạn tôi đang có mặt trên khắp bốn vùng chiến thuật lại cười ha hả từ những kbc có con tem anh chiến binh bồng súng xông tới, phong bì lấm lem bùn đất, sờn rách: “… mình chắc mẩm hắn cũng là lính. Hắn mô tả tâm trạng, hoàn cảnh sao đúng hoàn cảnh tụi mình quá trời. Mai mốt tụi mình có về trên đôi nạng gỗ về hòm gỗ cài hoa hay trên trực thăng sơn màu tang trắng… thì các cậu chớ có ngạc nhiên, chớ có buồn! Đời trai chinh chiến mấy thằng sống sót trở về?”. Mấy câu ngắn ngủn kia mãi ám ảnh tôi. Ám ảnh bởi vẻ lạc quan, coi sống chết như chuyện có không của người bạn. Mà hắn đâu để mắt tới Ngũ uẩn giai không, hắn đâu biết gì về tâm kinh đâu ảnh hưởng gì về triết học Phật giáo? Chẳng qua khi đối mặt quá nhiều với cái chết, luôn rình rập bên cạnh, không báo trước thì con người ta chẳng còn buồn để ý đến nó? Cứ chờ đón nó một cách thản nhiên như trong bài thơ Kỷ vật cho em của Linh Phương.

bach khoa cover

Bìa tập thơ Kỷ Vật Cho Em – Cơ sở Động Đất xuất bản năm 1971 tại Sài Gòn

Vào độ tuổi ra trận mạc ấy, hẳn ai cũng có người yêu, chí ít cũng em gái hậu phương, thản hoặc một Dạ Lan từ trời cao thầm thì, chia sẻ với các anh mỗi đêm. Ấy vậy nhưng khi em của Linh Phương hỏi: Em hỏi anh bao giờ trở lại thì nhà thơ cứ thẳng đuột trả lời mai mốt anh về, có thể bằng nhiều cách về khác nhau:

…Anh trở về hòm gỗ cài hoa
Anh trở về bằng chiếc băng ca …
…Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt …
…Mai anh về trên đôi nạng gỗ
Bại tướng về làm gã cụt chân …

Về bằng con đường nào thì thân thể thế hệ các anh không còn nguyên vẹn như lúc ra đi. Họ đã chắc chắn như vậy, nên chi cứ tạo một tâm thế trong những tình huống khắc nghiệt để em chuẩn bị đón nhận những bất toại trong cuộc sống chỉ có khói lửa trước mặt!

 Nhatho LinhPhuong 1949

Những tình huống Linh Phương đặt ra trong bài thơ là sự thường tình, vì tự cổ kim các tình huống đó đã đến với mọi chiến binh, như trong Lương châu từ của Vương Hàn:

…Túy ngọa sa trường quân mạc tiếu
Cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?

Nhưng sự “không trở về” của người xưa có vẻ nhẹ nhàng, thanh thản còn với Linh Phương thì lại ưu uất, dằn xé tâm can:

Thì thôi! Hãy nhìn nhau xa lạ
Em nhìn anh ánh mắt chưa quen
Anh nhìn em anh sẽ cố quên
Tình nghĩa cũ một lần trăn trối.

Một sự chia cắt bi thảm, không phải lỗi ở nơi hai người, anh và em gây ra, mà chỉ vì một viên đạn màu đồng và hàng triệu viên đạn vô tình hay cố ý như thế trong giai đoạn máu lửa kinh hoàng bất ngờ găm thẳng vào ngực, từ những tranh chấp về chủ nghĩa và quyền lực điên cuồng!

Những bài khác trong tập Kỷ vật cho em, giọng điệu thì bớt đi vẻ đau xót, bi thương nhưng những cách nhà thơ đưa hiện tượng cuộc sống vào thi ca, thì bức tranh nguyệch ngoạc kia lại có vẻ tàn nhẫn hơn nhiều, dưới những góc cạnh khác nhau trong xã hội chiến tranh. Chất thơ bớt đi vẻ nồng nàn sâu lắng, nhường chỗ cho loại ngôn ngữ kể sắp lớp, như thể buổi sáng thức dậy đi ngang qua quảng trường, bổng thấy người ta trưng bày xác quân địch cụt đầu, mất chân, ruột gan phơi tràn ra ngoài… với một cảm giác buồn nôn, ớn lạnh:

Có người vợ nào không tủi thân
Trước giờ sinh đẻ
Được tin chồng nằm xuống
Trận Đakto-Đồng Xoài-Bình Giã
Đức Cơ-Phủ Cũ-Tam Quan
Có người mẹ nào không tủi thân
Khi đứa con đầu lòng mở mắt
Đã để tang cho bố.

(Làm vợ người cầm súng)

Càng kinh khủng hơn nữa, khi nàng góa phụ đã chấp nhận mọi cái giá phải trả, thì sợi dây cuối cùng còn lại của tình yêu giữa chàng và nàng là đứa con trai đầu lòng. Hẳn rằng đứa con trai ấy còn rất nhỏ, chưa biết giận hờn, chưa biết yêu ghét, đầu óc sáng trưng như tờ giấy trắng. Vậy nhưng, vì những tai ách giáng xuống, khiến nàng mất tất cả, đến nỗi ngày sinh nhật con nàng phải tặng:

Mẹ cho con viên đạn AK còn ngời sáng
Mẹ cho con quả lựu đạn M.26 còn thơm mùi thép mới tinh
Mẹ cho con mảnh mìn Claymore nằm trong lồng ngực bố
vừa chết trận U Minh
Con ơi con!

(Cho đứa con trai đầu lòng)

Trên đời này hiếm có người mẹ nào hành động như vậy. Rất có thể người mẹ giữ được tất cả các vật dụng vũ khí gây chết chóc kia, nhưng hành động và thái độ tặng cho con những thứ giết người dã man ấy, nhân ngày sinh nhật, thì không hẳn là hận thù chồng chất lên mãi. Nó mang tính chất tố cáo nhiều hơn. Cách dàn trải ngôn ngữ liệt kê như trên, nhà thơ chỉ muốn phơi bày bộ mặt thật, tàn nhẫn của hậu quả chiến tranh. Đó là tiếng gào bi thống, là sự phản kháng không cân sức giữa một góa phụ hay nhiều góa phụ với chiến tranh. Họ biết rõ họ không thể ngăn được cuộc chiến dừng lại, họ cũng không đủ sức trả thù. Và sự trả thù ngọt ngào nhất là sự phản kháng bằng những hành động tưởng chừng phi nhân bản, nhưng kỳ thực đó là tiếng kêu bi thương của loài người đang đứng bên bờ vực hủy diệt, tàn sát phi nhân.

Tâm trạng não nề, chán ngán của tầng lớp thanh niên, trí thức thời kỳ ấy như một đám mây u ám, cứ vần vũ mãi trên bầu trời, che lấp khoảng không gian không xanh, không hồng. Họ chán ngán bởi cuộc chiến kéo dài khủng khiếp, tranh chấp triền miên. Họ tuyệt vọng bởi ngày nối tiếp năm là bom rơi đạn nổ, sự bình yên, niềm hạnh phúc như một miền mơ ước không bao giờ có thực: “Đại bác đêm đêm dội về thành phố, người phu quét đường dừng chổi đứng nghe…”.

Hệ lụy của những tháng năm khói lửa triên miên là thái độ buông thả, thất vọng. Họ hối hả sống, hối hả yêu, hối hả bấu víu mỗi sáng thấy thân thể còn nguyên vẹn:

Tuổi trẻ tôi biết yêu và yêu rất vội
Sợ không kịp yêu đến ngày mai
Sợ chiến tranh còn dài
Đời người thì quá ngắn

(Giấc mơ màu đỏ)

Ngày xưa một mình chàng Kinh Kha qua sông Dịch với con chủy thủ trên tay và vĩnh viễn không quay lại điểm xuất phát! Ngày nay, hàng ngàn Kinh Kha qua hàng trăm sông Dịch như thế với nỗi băn khoăn ồn ào, hy vọng và thất vọng trộn lẫn. Thoắt một cái đời thư sinh chuyển thành đời chiến binh, rồi phế binh: buổi sớm mai anh thay áo học trò/buổi sớm mai anh mặc đồ nhà binh, chỉ một tích tắc, một chớp mắt chuyển dịch! Vậy là:

Thôi trước ngày anh vào lính
Hãy ngủ cùng em đêm nay lần cuối cùng
Hãy dã man trên thân thân thể con gái còn đẹp

(Trước ngày anh vào lính)

Chuyện dã man trên thân thể con gái còn đẹp giữa em và anh trước ngày anh vào lính không phải là vấn đề tình dục, không phải là sự trao đổi thân xác thông thường hay tệ hơn là bán buôn, mà chính là vội vã tranh cướp lấy đời sống ngắn ngủi bởi cảnh ngộ đẩy đưa, bởi sống-chết khó lường/chỉ cần tích tắc.

Phải sống mãi trong những hoài nghi, thất vọng… cũng có lúc lóe lên chút niềm tin, hy vọng. Họ tin ngày mai sẽ có hòa bình, ngày mai tiếng súng sẽ im, sẽ mở ra những viễn tượng tươi sáng trên quê hương. Họ, những chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt sẽ nghĩ gì, làm gì trong những ngày tươi đẹp mai sau?

Một ngày mìn định hướng không đặt
Lựu đạn không gài
Máy bay không bỏ bom
…Tôi vui mừng như lần cắp sách đến trường.

Nhưng đó mới chỉ là một ngày tạm yên tiếng súng. Còn mai kia, nếu hòa bình sẽ đến trên quê hương khốn khổ này thì sao? Và Linh Phương đã vẽ ra:

Ngày với chuyến tàu suốt từ Sài Gòn ra Hà Nội
…Ngày em hân hoan mặc áo dài dạo phố
Ngày em hân hoan ngồi trong rạp Rex xem phim lãng mạn ái tình …
…Ngày tôi không còn mặc đồ quân nhân ở nhà nuôi vợ đẻ.

(Trong ngày hòa bình)

Câu thơ như câu nói giữa hai người với nhau. Chất thơ mất đi và thay bằng ngôn ngữ đời thường để tỏ bày một ước vọng nhỏ nhoi, như thể tiếng kêu cứu của những kẻ bị đắm tàu giữa biển khơi mênh mông, trùng trùng sóng dập!

Đó cũng là khuynh hướng chung của những người làm thơ trẻ thuộc thế hệ anh. Những Nguyễn Bắc Sơn, Vũ Hữu Định hay Đinh Trầm Ca, Nguyễn Dương Quang… đều có cùng một tâm trạng như vậy, và bày tỏ niềm hy vọng, mơ ước mong manh như vậy, để cuối cùng chút ánh sáng ở cuối đường hầm vẫn cứ lùi xa tít và tắt ngấm đâu đó trong các trận chiến ngày càng tàn khốc hơn.

Hỡi hòa bình lạ mặt yêu dấu
Sao người cứ kiêu hãnh như giai nhân
Hoài hoài lỗi hẹn
Khi tuổi xuân chúng tôi chỉ có một lần
Làm sao chờ được trăm năm
Mà đến trăm năm còn gì xương máu anh em

(Hà Thúc Sinh – Xin hãy đến Hòa Bình)

Cảnh chiến tranh tàn khốc đã biến các nhà thơ trẻ thành những người cà khịa, ngông nghênh, bất cần đời nhuốm chút ngang tàng dễ thương, trở thành những bài thơ khẩu khí, ví như Nguyễn Bắc Sơn:

Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng quân đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy dựa gốc cây hãy ngắm mây trời
Hãy tưởng tượng mình đi picnic
Kẻ thù ta ơi các ngài du kích
Hãy tránh xa ra đừng chơi bắn nheo
…Lúc này đây ta không thèm đánh giặc.

(Nguyễn Bắc Sơn – Chiến tranh Việt Nam và tôi, nxb Đồng Dao, SG 1971)

Họ ăn nói, sử dụng ngôn ngữ thơ một cách thoải mái tự do, như giỡn như đùa, không vì chính kiến, không lý tưởng này nọ mà nếu như ở một thể chế khác, các nhà thơ không thể có gan trời như thế!

Còn một Phan Xuân Sinh thì:

Hãy rót cho ta thêm cốc nữa đi
Ngồi với bạn hôm nay làm ta hứng chí
Chuyện ngày mai có chi đáng kể
Dẹp nó đi cho khỏi bận tâm
Thằng lính nào mà không rét lúc ra quân
Khi xung trận mà không té đái
…Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun ngút

(Phan Xuân Sinh – Uống rượu với người lính Bắc phương)

Có trời mới giải thích tại sao người lính Bắc phương lại dám ngồi “đối ẩm” với người lính phương Nam? Họ đã nhận ra điều gì trong những ngày điên cuồng bắn nhau? Họ đã nhận ra điều gì trong câu khẩu hiệu: “Nhắm thẳng đầu thù mà bắn”. Là anh em với nhau rồi sao? Là máu mủ ruột thịt rồi sao? Hay là chiến tranh làm họ mệt mỏi, buông xuôi là hệ lụy của một thái độ, một chọn lựa từ ý thức trong sạch?

Có thể đó là thái độ bất cần. Nhưng thái độ bất cần đó đâu hẳn là tính vô kỷ luật trong quân đội? Cũng chưa phải là tinh thần phản chiến đang bắt đầu nhẩn nha, đậm đặc trong đầu óc họ? Mà chỉ là sự bày tỏ cách nhìn, cách nghĩ của tuổi trẻ về cuộc chiến tranh quái gỡ phi lý kia. Tuổi trẻ Bắc Nam can cớ chi mà thù hận nhau? Tôi nhớ man máng một truyện ngắn của Lê Văn Thiện trên tạp chí Bách Khoa trước 75, có tựa “Xuất ngoại bằng trực thăng võ trang” có đoạn viết đại ý: Không biết quốc vương Shihanouk có ngồi ỉa như tụi mình?… Sao cứ bắt ra trận đánh nhau hoài? Muốn tranh bá đồ vương thì lãnh tụ hai bên chọn bãi đất đẹp, hai người tha hồ quần thảo, kẻ thắng thì được, ai thua thì mất hết. Sao lại bắt dân đen phải hứng chịu?

Nếu chỉ có vậy thì đâu có E.M. Remarque, đâu có E. Hemingway hay một P. Gallico với những tác phẩm viết về chiến tranh hay đến vậy? Và nếu như thế thì làm gì có một Phan Nhật Nam với Mùa hè đỏ lửa, Thế Uyên với Tiền Đồn, Y Uyên với Bão Khô, Bảo Ninh với Nỗi buồn chiến tranh hay một Kiều Mỹ Duyên với Chinh chiến điêu linh…?

Chiến tranh thật quái gở, bởi không do nhân dân chọn lựa, không phát khởi từ ý thức của nhân dân, mà từ những chủ nghĩa quái gở, từ những quyền lợi của kẻ cả khống chế.

Nhìn nhận được chỗ phi lý kia, lớp người trẻ tuổi bị bắt buộc tham chiến bắt đầu chửi đổng. Chỉ là chửi đổng sau những cuộc hành quân, chửi đổng trong mấy ngày phép được về thành phố… và rồi bật ra những câu “không thể tha thứ” đối với quân kỷ, chủ nghĩa…

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân
Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh Kha vác súng qua Dịch thủy
Thề chẳng trở về với tay không
Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
“Hận kẻ bạc tình” trên cánh tay
Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo vô
Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân
Mai mốt này đây ra trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung

(Hành quân)

Trích trọn bài, bởi tôi nghĩ, đây là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất của Linh Phương, và có thể là tiêu biểu cho cả thế hệ anh trong cuộc chiến tranh không có lối thoát. Hẳn nhiên sẽ có người không đồng tình theo cách nghĩ của tôi, vì trong hàng ngàn bài thơ của hàng trăm nhà thơ thời kỳ đó cũng hay, cũng tiêu biểu? Đồng ý. Tuy nhiên cái hay cái tiêu biểu của những bài thơ kia là những cảm xúc, những phơi bày ở khía cạnh khác; trong khi Hành quân, linh Phương đã phác họa thành công khuôn mặt méo mó của thế hệ anh, đầu óc méo mó với cái nhìn cũng méo mó và chân thực không kém của hàng triệu người hai bờ Nam Bắc phải cúi đầu, nén lòng cầm súng.

kyvatchoem THT cover

Hình bìa Kỷ Vật Cho Em (Thư Ấn Quán tái bản năm 2006)

Nơi xứ người giá rét, đọc được tập thơ này, bỗng nhói đau một thời kỳ đen tối hiển hiện trước mặt và không thể dằn lòng, bèn thốt lên vài tiếng, vẽ vời vài dòng về Linh Phương về tuổi trẻ và chiến tranh Việt Nam kéo dài, tàn phá mọi nhân phẩm đạo đức, đảo lộn mọi trật tự xã hội suốt hai mươi năm trời: Hai mươi năm nội chiến từng ngày. Và để lại một gia tài “di căn mụt nhọt” cho nhiều thế hệ tiếp theo!

(Seatle, đầu đông tuyết phủ mịt mù)

NLU

(*) Linh Phương – Kỷ vật cho em, Thư Ấn quán tái bản, 2006

bài đã đăng của Nguyễn Lệ Uyên


6 bình luận »

  • Phan Đức viết:

    Bài viết của Nguyễn Lệ Uyên về văn nghệ miền Nam 1954-1975 khá hay tuy nhiên tác giả đã
    “trật đường rầy” khi đem vào bài thơ của Phan Xuân Sinh.Theo chổ tôi biết,PXS.là một người
    mới viết sau 1975,thậm chí viết muộn từ sau năm 1990,sau khi tác giả qua Mỹ.
    Như vậy,không hiểu tại sao Nguyễn Lệ Uyên lẫn lộn người viết trước và sau thế này nhỉ ,khi
    bài viết chủ ý nói đến thời kỳ trước 1975 ?  

  • nguyễn Lệ Uyên viết:

    Thưa anh Phan Đức,
    Cảm ơn anh đã chỉ ra chỗ “trật đường rầy” khi dẫn bài thơ của Phan Xuân Sinh. Vâng, đúng! Có thể Phan Xuân Sinh bắt đầu viết khi định cư ở Hoa Kỳ. Tuy nhiên, cả bài thơ Uống rượu với người lính Bắc phương lại là bối cảnh trong thời chiến tranh Nam-Bắc Việt Nam mà Phan Xuân Sinh đã từng “sống”. Lại nữa, người cầm bút có thể viết ngay những gì mình chứng kiến, cảm xúc… Và đôi khi những cảm xúc phải đợi đến 10 năm thậm chí 20 năm sau mới lắng sâu và bật lên thành câu chữ tràn những “nỗi niềm”. Tôi nghĩ, rất có thể, lúc đó, Phan Xuân Sinh lăn lộn trong khói lửa, đạn bom… hết trận đánh này đến cuộc hành quân khác, và kinh nghiệm bản thân khi “tham dự” kia mãi sau này mới chỗi dậy sau một đêm thao thức, hoặc lúc ngồi một mình trong công viên, trên bãi biển… và rồi, toàn cảnh của những cảnh tượng anh đã trải qua, hiển hiện trước mắt, gây chút xao động trng lòng va bật thành thơ:
    Uống với bạn hôm nay ta phải uống thật say
    Để không phải còn nhìn nhau hận thù ngun  ngút.
    Thứ đến khi dẫn mấy câu thơ này, tôi không ý định phân biệt rạch ròi những người viết trước hay sau năm 1975. Tôi chỉ chú trọng đến nội dung của những câu thơ hay đoạn văn dẫn vào bài viết của mình mà thôi.
    Anh đã chỉ ra chỗ chưa thật hợp lý Đó cũng là ý kiến khá thú vị. 
    Chân thành cảm ơn anh.
    Nguyễn Lệ Uyên 
     

  • Lương Thư Trung viết:

    Thưa hai anh Phan Đức và Nguyễn Lệ Uyên,
    Qua ý kiến “viết trước và sau 1975″, có lần trong “Thư gởi ông Nguyễn Văn Lục, tác giả bài viết Hiện trạng lão hóa nơi các nhà văn hải ngoại” đăng trên Talawas, ngày 2-2-2005, tôi có nêu ý kiến về việc này, xin trích lại chia sẻ cùng hai anh: 

    “Thêm vào đó, ông lại nhận định một phần nhà văn hải ngoại bắt đầu viết văn quá trễ, có người khởi đầu ở tuổi 60, trung bình tuổi cũng trên 40; nhưng ông cũng quên một điều là tuần trăng mật của đôi tân lang và tân giai nhân mới cưới nhau năm 20 tuổi và tuần trăng mật của một đôi uyên ương ở tuổi 50, chắc gì ai hạnh phúc hơn ai. Trăng mật thì không mới nhưng niềm hoan lạc chắc cũng nồng nàn không thua gì nhau. Tuổi trẻ có cái lợi là nhìn đời theo nhãn quan trẻ và người già giàu có ở chất liệu mà họ đã tích lũy được nhiều năm. Tựu trung tác phẩm hay không phải do nhà văn bắt đầu sớm hay muộn, mà do cách diễn đạt của họ, vì viết vốn dĩ là một cách diễn đạt ý tưởng, không hơn không kém. ” (@2005 talawas)

    Trân trọng kính chào,
    Lương Thư Trung

     

  • Bắc Phong viết:

    nghĩ buồn cho người lính miền Nam
    đi tù cải tạo sau chiến tranh
    toán lính Bắc phương anh mời rượu
    bao kẻ thành quản giáo trại giam

    Cám ơn anh Nguyễn Lệ Uyên đã phác họa lại phần nào chân dung người lính miền Nam và những mơ ước hòa bình.  BP

  • Phan Đức viết:

    Cám ơn anh Nguyễn Lệ Uyên đã phần nào hiểu ý tôi nhưng anh Lương Thư Trung có lẽ
    đã đưa vấn đề đi hơi xa,cũng lại “trật đường rầy” khi viết rằng tác phẩm hay hay không
    chẳng phải vì viết trễ hay muộn để góp vào ý kiến của tôi.Ý của tôi là bài viết của anh
    NLU. thiếu tính nhất quán về thời điểm cũng như bối cảnh chiến tranh mà từ đó,người
    lính miền Nam bày tỏ thái độ và tâm tư về cuộc chiến ĐANG diễn ra,chứ không phải ĐÃ
    diễn ra như trường hợp PXS bày tỏ SAU cuộc chiến !
    Trân trọng.

  • Trần Hoài Thư viết:

    -  Trong cuộc chiến vừa qua, có những tác giả “khuyết danh” hay ít biết tên đối với nhiều người. Họ viết có thể cho người yêu, cho người thân, hay có thể họ viết cho họ  mà không cần đăng báo.Cũng có người không thích phe nhóm, chiếu trên chiếu dưới nên không gởi cho các báo ở SG… Có người chỉ đăng trên tờ báo một hai bài rồi chìm trong quên lãng của người đọc…
    Để rồi sau này, bản thảo mới có dịp phổ biến đến độc giả. Có thể do người thân hay cũng có thể do từ trí nhớ cùa tác giả.
     
    Vì vậy, không thể nhìn tên tuổi trên báo chí mà khẳng định thời điểm sáng tác. Tôi đồng ý với anh Nguyễn Lệ  Uyên, nhìn vào nội dung.
    - Bài thơ Uống Rượu với người lính Bắc Phương được tác giả ghi chú cuối bài: Những ngày Mùa Xuân 1972, có mặt trong thi phẩm Dưới Trời Đổ Nát của Phan Xuân Sinh do Văn xuất bản vào năm 2000 và được giới thiệu trên Bô Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến Tập I do Thư Ấn Quán sưu tập.
    -  Thời gian sáng tác đúng vào lúc Hiệp định ngưng bắn Ba Lê có hiệu lực.
    -  Vấn đề ở đây là nội dung có thích hợp với nội dung và hoàn cảnh sáng tác hay không.
    - Nếu như bài thơ nói về một cuộc hành quân đang tiếp diễn, hay tâm sự của chàng lính Nam quân giữa bãi hoang tàn nghi ngút khói lửa, bom pháo rền vang, thì chắc chắn bạn Phan Đức sẽ có lý do để “ném đá”. Chớ nêu việc nhà thơ PXS chỉ viết sau 1975 thì hơi khe khắt qua chăng.
    Lấy gì để bảo ông không sáng tác trước 1975? Lấy gì để bảo PXS không làm thơ trước 1975 khi chúng ta thường nghe nói “mỗi người VN đều là thi sĩ ??? ”
     
     
     

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)