Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 08, Dịch Thuật, Sang Việt ngữ, Tiểu luận Email bài này

Sự khác biệt trong Dust and Conscience của Trương Trần


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 12.10.2006

 

nguyên tác "Diference in Truong Tran’s dust and conscience"
University of Michigan, Ann Arbor: Michigan Quarterly Review
vol. XLIII, no. 4, pp. 720-727, Fall 2004

 

Thừa biết không thể nào thể hiện chính xác cuộc đời, thừa biết mình dễ thành con mồi của định kiến cũng như của đủ loại luận thuyết chỉ trích những cảm nhận chủ quan bất kể ước muốn, kiến thức và những mục đích riêng, người tường thuật trong Dust and Conscience (Cát bụi và Lương tri) dựng lên câu chuyện của bản thân, chuyển tải bằng từ ngữ, khoảng cách và hơi thở. Dust and Conscience là một tuyển tập thơ xuôi minh hoạ ‎khái niệm về sự khác biệt. Trong tuyển tập này, bản sắc là hiện thân của vấn đề " ‘hình thành’ lẫn ‘hiện hữu’ " vốn phụ thuộc vào cả tương lai lẫn quá khứ (Stuart Hall 225). Với người tường thuật, bản sắc văn hoá là một thứ trải qua quá trình biến đổi không ngừng trong "tấn tuồng" bất tận của lịch sử, văn hoá và quyền lực (Hall 225). Tóm lại, bản sắc ở đây là một khái niệm khó nắm bắt và là một nhất thể không thể tự thân biểu lộ bằng nội dung của một tác phẩm; đó là một điều cũng cần được đề cập và nhấn mạnh bằng chính hình thức văn chương nữa.

Hình thức của Dust and Conscience phản ánh tiến trình hình thành bản sắc độc đáo của người tường thuật. Tuyển tập này đã tránh né các quy tắc chấm câu, cú pháp, thể loại và vần điệu thơ ca quy ước. Bằng cách đó, văn bản khai mở tiến trình thuật chuyện từ tầm nhìn của người trong cuộc/ngoài cuộc bản xứ. Nếu xem xét những câu chuyện theo cấu trúc tuyến tính chính quy mà các sản phẩm tư tưởng thường được viết theo đó, Dust and Conscience được hợp thành từ những mảnh vỡ, gắn dính lại bằng một ngôn ngữ mà người tường thuật mô tả là "a form mangled by cohesive weighted" (một hình thức sứt sẹo vì kết dính nặng nề) phục vụ cho "the purpose of anchoring" (mục đích bám víu) (27). Với cách thuật chuyện phân mảnh như thế, người tường thuật có thể tháo dỡ hết những mối liên kết định sẵn trong quá trình trưởng thành, phát triển và đồng hoá với một nền văn hoá của số đông. Nói cách khác, người kể chuyện xây dựng một bản sắc — hay câu chuyện của "cái tôi tầm thường" không viết hoa chữ "i" (tôi) theo cách viết Anh-Mỹ — qua hồi ức, tưởng tượng, chuyện tường thuật lẫn chuyện hoang đường, nhiều chuyện trong số đó do anh bịa ra. Như một người bịt mắt vừa đi vừa vươn tay ra phía trước, anh có thể sờ chạm cái mà Stuart Halls gọi là đủ loại "điểm nhận dạng hay kết nối" (226). Chẳng hạn, nhiều bài thơ không có mở đầu lẫn kết thúc, không chấm câu, và không viết hoa chữ nào. Không hề thấy một dấu hiệu nào thông thường vẫn dùng để ngắt các cấu trúc câu quy ước và do đó không hề thấy cái trật tự suy nghĩ quy ước được diễn đạt theo kiểu lớp lang có trước có sau. Cách thể hiện cố tình phi hình thức này nhấn mạnh‎ ý đồ của người tường thuật khước từ không chịu đóng khung theo các cấu trúc đồng nhất hay có tính chủ đạo.

Hơn hết thảy, Dust and Conscience là một văn bản đánh dấu bằng những nếp đứt gãy. Đó không phải là câu chuyện chuyến trở về của một người bản xứ được người tường thuật bộc lộ mà là một chuỗi cảm xúc, suy ngẫm và khoảnh khắc được thu thập trong chuyến đi Việt Nam. Nhưng thay vì xem xét cái "việc gì", người tường thuật đòi hỏi thám hiểm cái "thế nào", cái cách thức mà sự khác biệt được phản ánh qua việc kể chuyện và rồi lại xác định luôn hình thức câu chuyện. Nhất quyết muốn lên tiếng từ nhiều vai trò đa dạng — một người đồng tính, một người hậu thuộc địa, một người sùng đạo, một người Mỹ gốc Việt và những vai trò khác nữa từ những chủ thể của riêng mình, người tường thuật đặt vấn đề với những ý niệm cho rằng bản sắc định sẵn có quan hệ với cội nguồn. Anh viết trong đoạn cuối cùng của "book of beginnings" (cuốn sách của những khởi đầu):


Yes the stories are at times overwhelming but would I stop listening the answer is no for without the stories there would be no history and without the history there would be no people where then would I be if not the acronym the oddity the visitor the native (24)

Vâng những câu chuyện nhiều khi quá sức chịu đựng nhưng Tôi có nên thôi nghe nữa câu trả lời là không bởi không có những câu chuyện đó sẽ không hề có lịch sử và không có lịch sử sẽ không hề có con người vậy thì Tôi sẽ thuộc về đâu nếu không phải là cái chữ viết tắt con người kỳ cục kẻ khách du người bản xứ (24)

Xem xét hoàn cảnh bị bứng lìa cội nguồn mà nhiều người Việt đã trải qua, người tường thuật gặp phải nhiều câu chuyện "quá sức chịu đựng", chứng kiến nhiều cuộc đời bị chặt đứt trong các chuyến du hành của anh — cả trong thực tế lẫn tưởng tượng. Tập trung vào "lịch sử" và "con người" trong khi nhấn mạnh bản thân/kẻ du khách/người bản xứ, anh nhận ra rằng bản sắc quả thực đã được xây dựng ở giao điểm bất ổn của những nhận thức được định hình bằng lịch sử, các câu chuyện và các nền văn hoá.

Cuối cùng, dường như điều anh tìm kiếm chính là "home" (quê hương). Theo Elazar Barkan và Marie-Denise Shelton, thường thì chỉ có những dân tộc lưu lạc mới không ngừng kiếm tìm những quê hương không tồn tại; quê hương, theo họ, chỉ hiện hữu ngay trong cuộc kiếm tìm (9). Dust and Conscience đề cập đúng ngay cuộc kiếm tìm đó. Người tường thuật tự hỏi cái "khởi đầu" nằm ở Việt Nam hay ở Mỹ. Câu đầu tiên của cuốn sách bắt đầu bằng một tràng từ đồng nghĩa lắp bắp: "inception incipience debut dawn" (khởi đầu hoài thai chớm nở rạng đông), tất cả gợi lên một sự khởi đầu không cần tham chiếu nguồn gốc, thậm chí chẳng cần biên giới quốc gia. Tuy chủ đề trung tâm là quốc gia hay phi quốc gia, không một lần nào văn bản nhắc đến tên của một nước nào — một cách đánh dấu bản sắc thông thường. Điều đó cũng ám chỉ rằng một kết nối như thế có thể là một thứ xa xỉ hoàn toàn không dành cho một kẻ như anh. "Where would i begin if not at home" (tôi sẽ bắt đầu từ đâu nếu không ở quê hương), anh viết. Cái từ "home" chẳng có ‎ nghĩa rõ ràng hay có liên đới gì tới người tường thuật lưu lạc, và chỉ có thể tồn tại như một câu hỏi. Thế nhưng cái ‎ý tưởng quê hương lại cần thiết. Với anh đó một biển chỉ đường; cái từ đó lại kêu gọi trong anh sức mạnh và giúp anh tiến tới trong khi ngoái nhìn lui. Cách anh dùng từ "home" trái ngược với một số khái niệm nhị nguyện hiện đại, như "home/not-home" (quê hương/không quê hương), "homeland/adopted land" (quê nhà/xứ người), trong đó "home" có quan hệ với một quốc gia và có thể chữa lành xác thân vụn vỡ của những chủ thể lạc loài thành một bản ngã toàn vẹn. Trong Dust and Conscience, tính chủ quan của tác giả hoạt động tách rời cuộc kiếm tìm sự toàn vẹn. Ở Việt Nam, anh nhận ra rằng, dù không có cảm giác là người Mỹ, anh cũng chẳng phải người Việt. Tóm lại, anh rõ ràng thấy được chẳng có nơi nào anh có thể gọi là quê hương. Cuộc kiếm tìm này chỉ có thể định vị bên trong những mảnh vụn của ngôn từ và những mẫu chuyện. Quê hương là một nơi không ở đây cũng chẳng ở kia, vừa là một chốn lưng chừng giữa đây và đó. Nếu quê hương chỉ là một từ được gợi lên rất dè xẻn suốt cả văn bản, đó là một từ không bám víu vào ngữ nghĩa.

Không thể tìm ra quê hương bằng kinh nghiệm riêng, người tường thuật tìm kiếm quê hương trong những câu chuyện của kẻ khác. Chẳng hạn anh kể lại câu chuyện của một người Việt có con cái sống ở Mỹ:


to preserve the bitterness he scattered his children in four directions sat back in his chair and proceeded to grow old he waited until the time was right he paid them a visit when they went to kiss their father he licked their skin he found the bitterness still clinging to his tongue he tells his children i want to go home (11)

để giữ gìn niềm cay đắng ông vung vãi con cái khắp bốn phương rồi lại ngồi xuống ghế tiếp tục già cỗi ông đợi chờ đến đúng lúc mới đi thăm chúng khi chúng tới hôn cha ông liếm làn da chúng thấy niềm cay đắng vẫn bám vào lưỡi mình ông bảo con cái tôi muốn về quê hương (11)

Như nhiều cha mẹ Việt, người đàn ông ấy gửi con ra nước ngoài sau khi kết thúc chiến tranh. Khi ông ta cuối cùng đoàn tụ với con cái nhiều năm sau, những mối liên kết lại rất lỏng lẻo. Người đàn ông nhận ra ông không thể sống với chúng, dù chúng có thể thành đạt đến đâu. Sau đó ông quyết định về lại Việt Nam, một đất nước nghèo với nhân quyền mong manh. Với người này, ‎ý tưởng quê hương lại rõ ràng, nhưng vì quê hương luôn xa rời với con cái cho nên đó lại là một nỗi gắn bó luôn khiến ông ta đau đớn.

Đồng tình với Francois Lyotard, người tường thuật đòi hỏi phóng thích ngôn từ khỏi những khống chế của xã hội và những ngữ nghĩa đơn lẻ để tạo ra những tầm nhìn mới về sự khác biệt. Người tường thuật sử dụng "cái tôi tầm thường", dùng chữ "i" (tôi) viết thường trái với chữ "I" viết hoa vốn biểu thị một chủ thể có một lịch sử rõ ràng và một tiếng nói riêng biệt. Chữ "i" viết thường có vai trò như một sản phẩm hỗn hợp từ những mâu thuẫn lịch sử và những bốc đồng đối kháng. Thế nhưng, ngay cả khi người tường thuật kháng cự cách phát trỉển câu chuyện theo cấu trúc chính quy hàm chứa trong chính các tiến trình sản sinh tư tưởng, anh lại thấy rằng nếu muốn viết anh phải bắt đầu ở đâu đó. Anh nói: "the line which connects the perceptions to the perceived is crossed with the line of the needs and necessities and there at the crossing are the casualties fragments to stories some still struggling to find the beginnings" (ranh giới liên kết những nhận thức với những gì lĩnh hội được bị cắt ngang với ranh giới của những nhu cầu và những điều bức bách và ngay cái giao tuyến đó là những thương vong những mảnh vỡ vụn dẫn tới những câu chuyện mà nhiều người vẫn vật lộn tìm cách bắt đầu) (12). Chương sách tựa đề "beginnings" một lần nữa nhất định ngoan cố không chịu gắn kết với một nơi chốn xuất xứ, điều mà lịch sử — do phân biệt hay ngọai biên hóa — đã đánh dấu những người Mỹ gốc châu Á là những kẻ ngoại quốc (Lowe 83).

Cái tựa "beginnings" thay vào đó lại kêu gọi cùng lúc nhiều điểm xuất phát. Để biểu hiện rằng cái tôi được hợp thành từ nhiều bản sắc, người tường thuật giới thiệu câu chuyện của mình bằng cách chơi đùa với nhiều điểm khởi đầu khả dĩ: một suy ngẫm về khái niệm quê hương, một mẫu chuyện về một ông chú Việt Nam viếng thăm nước Mỹ, số phận một đứa trẻ lai Mỹ, hồi ức về người cha của anh, cuộc tiếp xúc với một người bán rong Việt Nam, gợi nhớ về người đàn ông anh yêu, một mẫu chuyện của mẹ anh trên đất Mỹ, nhớ lại một cảnh về cuộc chiến tranh Việt Nam chiếu trên TV, một lá thư gửi người bạn Mỹ của anh, chuyến viếng thăm một xưởng làm lổng đèn, và một suy ngẫm về vị trí của chính bản thân anh. Dust and Conscience không bận tâm đến chuyện hoài nghi cái có thực, mà đi thu thập tư liệu về sự thật. Công cuộc của Dust and Conscience là phóng thích bản thân ra khỏi cái mà Ian Chambers gọi là sự hỗ trợ của "cái tôi riêng biệt" – chữ "I" viết hoa, cái "trụ chống đỡ giả định của một tiếng nói có xuất xứ, vì chính quyền uy của nó" (10). Mạch văn này tự thân nó đã chuyên chở sự phê phán ngôn ngữ và bản sắc. Hành động viết văn ở đây là một trò chơi, cố tình tạo ra một lỗ hổng. Nếu người tường thuật của Dust and Conscience đánh mất sự an toàn của một khởi đầu định sẵn, anh lại thành công tạo được một mối tương quan đạo đức với ngôn ngữ, trong đó anh vừa bị lệ thuộc vừa khiến kẻ khác phải lệ thuộc.

Không có một bản sắc rõ ràng, người tường thuật khéo tạo nên một thái độ chủ quan đối với những gì không phải là anh. Anh không giống như một người Việt không thể sống ở Mỹ vì quá nhớ Việt Nam, mà cũng không giống như mẹ anh. Anh nhớ lại mẹ mình khi bà "sits in her new car she listens to the cd she is reminded of home she is overwhelmed with sadness she is parked in her garage she is reminded of home" (ngồi trong chiếc xe hơi mới của bà lắng nghe đĩa cd bà nhớ lại quê hương bà buồn không chịu nỗi bà đậu xe trong ga-ra bà nhớ lại quê hương) (17). Bất kể những thoả mãn vật chất ở Mỹ, mẹ anh vẫn nhớ Việt Nam, một nơi chốn trong tâm tư bà vẫn là quê hương. Mẹ của Trần là một người đàn bà lưu vong, một trạng thái được nhà phê bình Edward Said mô tả như sau: lưu vong có thể sản sinh ra thù oán và ăn năn, lẫn một tầm nhìn sâu sắc. Những gì bỏ lại sau lưng có thể là điều để tiếc thương mà cũng là thứ có thể dùng để tạo ra nhiều thấu kính khác nhau. Theo định nghĩa, lưu vong và hồi ức hầu như luôn sánh đôi cùng nhau, cho nên chính những gì làm ta nhớ về quá khứ và cách ta nhớ sẽ quyết định cách ta nhìn thấy tương lai (xxxv).

Người thuật chuyện trong Dust and Conscience không phải là kẻ lưu vong như mẹ anh. Anh đến nước Mỹ khi còn nhỏ. Kỷ niệm về Việt Nam của anh quá mờ nhạt và xa vời để đáng tiếc thương. Anh không thể nhớ một nơi chốn mà hầu như anh không hề có kỷ niệm gì. Nhưng giống như bà mẹ, anh lại không hoàn toàn thoải mái ở Mỹ. Ở Việt Nam, anh tưởng tượng ra một lá thư gửi các bạn ở Mỹ: "it is not that I am forgetful or lazy I have written letters to each and every one of you but I choose not to send them for such an act means that the existence of home would then be confined to one or the other" (không phải Tôi quên hay lười Tôi đã viết thư cho từng người một nhưng Tôi lại quyết định không gửi đi bởi một hành động như thế có nghĩa là sự tồn tại của quê hương khi đó sẽ bị giới hạn vào người này hay người khác) (21). Điều người thuật chuyện thương tiếc nhất chẳng phải là một quê hương đã mất mà sự hoàn toàn thiếu vắng quê hương. Theo Edward Said, thành tựu của những kẻ lưu vong thường xuyên bị xói mòn bởi sự mất mát những gì đã mãi mãi bỏ lại sau lưng (173), nhưng với anh, những thành tựu lại bị phá hoại bởi chính sự bất lực không thể tiếc thương một quê hương, một điểm tham chiếu mà anh có thể bám víu. Tất cả những gì anh có thể làm là nghiền ngẫm vấn đề đó và viếng thăm Việt Nam như một cánh bướm bay không trọng lực trên bầu trời xanh bao la.

Thế nhưng người tường thuật lại tìm thấy một điều thoát khỏi vị trí đó. Trong khi một kẻ lưu vong như mẹ anh thường cảm thấy "không nguôi ngoai quá khứ, cay đắng về hiện tại và tương lai" (Said 113) hay nói theo ngôn từ của anh là "struggling to find the beginnings" (vật lộn tìm điểm khởi đầu) (12), người tường thuật có thể tách rời khỏi nỗi mất mát và thoát khỏi cảm giác hoài hương hay cay đắng. Khi thiếu thốn một cội nguồn để anh được ao ước quay về, sự khởi đầu dành cho anh lại thuộc về địa hạt của tương lai mà anh hy vọng sẽ bắt đầu một sự khời đầu mới.

Tương tự và đi xa hơn, chương "book of endings" (cuốn sách của những kết thúc) nói đến cuộc tìm kiếm một tiếng nói đang hình thành của người tường thuật. "Cuốn sách" này là một nỗ lực sáng tạo những bài học và những câu chuyện được chia sẻ từ các mảnh vụn vỡ của cuộc đời. Anh xây dựng cái mà Said gọi là một "môn địa lý tưởng tượng", một công trình tạo ra từ những câu chuyện lưu vong, hay cái mà Pierre Bourdieu gọi là một "habitus" – một cấu trúc ngôn ngữ, gia đình, chính trị, xã hội tiêu biểu cho quê hương. Khác hẳn những câu chuyện lưu vong thường cố tìm kiếm những tính chất bất tận, vô biên, khả đoán, xác tín, bền vững, và phổ quát (Naficy 291), người tường thuật tìm kiếm sự kết thúc. Anh viết:


every word of every image is a step towards the end this urgency dictates that the sentence as we know it no longer an option grammar is obsolete stories once told in detailed chapters have been reduced to a noun a verb the father dies the lover leaves in search of his own ending perhaps now the writing can finally begin (74)

mọi từ ngữ của mọi hình ảnh là một bước đi tới tận cùng sự cấp bách này quyết định rằng câu cú như ta thường biết không còn là sự chọn lựa văn phạm đã lỗi thời những câu chuyện một khi đã kể thành những chương đoạn chi tiết đã bị rút gọn thành một danh từ một động từ người cha qua đời người tình ra đi tìm kiếm sự kết thúc của chính mình có lẽ bây giờ văn chương cuối cùng mới được bắt đầu (74).

Người tường thuật không cần phải quay về quá khứ hay đến một vị trí cụ thể. Thay vào đó, anh tham gia vào cuộc trở về lại những nếp đứt gãy và cùng lúc xuyên qua bao đổ vỡ. Với người tường thuật, chỉ có thể trở về bằng cách hồi tưởng những đứt gãy như thế, những đứt gãy làm bằng những ngôn từ và ý tưởng bất kham: đứt gãy khỏi một nơi chốn, đứt gãy với một người tình, đứt gãy với cái chết. Với anh, đó chính là cách duy nhất để cho niềm hy vọng sinh sôi, và để thưc hiện một cách khả thi cuộc trở về bằng ngôn ngữ.

Trong Dust and Conscience, cái bản ngã tồn tại bên ngoài các giới hạn của kinh nghiệm cá nhân. Kết cục, hay không kết cục, điểm đến lại trở thành điểm khởi hành. Vì người tường thuật đã từ bỏ tính xác thực, anh đã thoát khỏi nỗi sợ hãi bị đánh mất mối liên kết. Bằng cách từ bỏ một khởi đầu, một phát triển đến cao trào, và một kết thúc, anh tránh được nhu cầu lấp đầy, nối kết và hợp nhất. Anh có thể đối mặt với nỗi sợ hãi mà Trịnh Minh-Hà gọi là "vô lý và trống rỗng" (94). Trịnh giải thích:

Muốn thủ tiêu nó trong bối cảnh như vậy thì phải loại bỏ cái nền tảng, cái chống đỡ, khúc dạo đầu, hay đoạn kết thúc – cứ thế buông thả cho tính chất mơ hồ được tự do hoàn toàn: đúng như đã lo sợ, cái kết quả sẽ là một chuỗi cao trào hỗn loạn hay một sự đơn điệu triền miên, trầm (vô) cảm – và bước vào tiến trình vô hạn của những tương tác và biến đổi khiến cho không có cái gì dừng lại, kể cả cái chết. (Trinh 94)

Trong Dust and Conscience của Trần, cái khao khát và nhu cầu giải bày bản thân đã biến mất. Anh không viết ngược lại, mà viết bên lề mạch văn quy chuẩn. Tất cả những gì còn lại là những nỗ lực đủ kiểu của anh nhằm đi tới một điều cốt yếu mà anh biết là không tồn tại. Thế nhưng anh vẫn một mực cho rằng những diễn giải và kiếm tìm và những sự kiện bị gián đoạn như thế tự thân chúng vẫn là cốt yếu.


Dust and Conscience
là một câu chuyện được định hình bởi những đứt gãy của lịch sử, địa lý và văn hoá; và ý thức được điều đó. Nhờ xa rời cách tường thuật tập trung vào quy luật đáng ngờ về nguồn cội, tác phẩm này lại làm nổi bật vấn đề bản sắc ở phương diện mà Lisa Lowe gọi là "chân trời của những khác biệt". Câu chuyện của Trương Trần do đó có thể cho độc giả biết về mối quan hệ biện chứng giữa sản phẩm văn chương của người Mỹ gốc Việt và những mong đợi của công chúng. Một công ty Mỹ đã tài trợ Trần về Việt Nam để viết về những trải nghiệm riêng khi gặp gỡ với những người tạm gọi là đồng bào của anh. Khoản tài trợ này được cấp ngay từ đầu dịp kỷ niệm 25 năm kết thúc chiến tranh Việt Nam, một sự kiện tràn ngập các phương tiện truyền thông Mỹ suốt cả tuần lễ. Nhưng Trần, giống người thuật chuyện của anh, lại từ chối lên tiếng như một chủ thể thuộc thiểu số. Anh cũng từ chối việc chọn lựa một bản sắc và cho nó đặc quyền hơn bản sắc khác. Như ta đã thấy, Dust and Conscience nói về sự kháng cự, sự đa dạng nhân thân và những đổ vỡ. Người tường thuật trong cuốn sách này không phơi trần hay bộc lộ tâm hồn mình cho một công chúng đang tìm kiếm cách giải quyết cuộc chiến tranh Việt Nam, mà cũng chẳng tham gia vào màn hùng biện đa văn hoá vô cảm đang truyền bá niềm tin vào quyền bình đẳng cho mọi người. Tách biệt khỏi thể loại tự truyện phổ biến của những tác giả Mỹ gốc châu Á, giống như Theresa Hak Kyung Cha đã làm với cuốn Dictee, Trần đã viết khác hẳn những câu chuyện mang tính chất vấn về đồng hoá và hợp nhất (Wong 106). Dust and Conscience là một cuốn sách về những gì không nói được, một cuốn sách luồn lõi trong những nứt rạn của cách thuật chuyện tiêu chuẩn và khiến những quy ước về các khoảng cách định sẵn phải rúng động.

Tác phẩm trích dẫn

  • Barkan , Elazar and Marie-Denise Shelton, eds. Borders, Exiles, Diaspora. Stanford, California: Stanford University Press, 1988.
  • Bourdieu, Pierre. Masculine Domination. Stanford, CA: Stanford University Press, 2001.
  • Hall, Stuart. “Cultural Identity and Diaspora.” Identity: Community, Cultural, Difference. Ed. Jonathan Rutherford. London: Lawrence and Wishart, 1990.
  • Lowe, Lisa. Immigrant Acts. Durham and London: Duke University Press, 1996.
  • Foucault, Michel. The History of Sexuality: An Introduction. Trans. Robert Hurley. New York: Vintage, 1990.
  • Naficy, Hamid. "The Making of Exile Cultures: Iranian Television in Los Angeles," The Cultural Studies Reader, 2nd Edition, London: Routledge, 1999: 537-63. Simon During, ed.
  • Said, Edward. Orientalism. New York: Vintage Books,1979.
  • Reflexions on Exile and Other Essays. Cambridge, Massachussetts: Harvard University Press, 2000.
  • Tran, Truong. Dust and Conscience. Berkeley, CA: Apogee Press, 2002.
  • Trinh T. Minh-ha. Woman Native Other. Bloomington, Indianapolis: Indiana University Press: 1989.
  • Wong, Shelley Sunn. “Unnaming the Same: Theresa Hak Kyung Cha’s Dictee.” WritingSelf, Writing Nation. Ed. Elaine Kim and Norma Alarcan. Berkeley, CA: Third Woman Press, 1994

bài đã đăng của Isabelle Thuy Pelaud


Bài này không có phần bình luận.

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)