Trang chính » Biên Khảo, Học Thuật, Kinh Tế, Lịch Sử, Nghiên Cứu, Văn hóa Email bài này

Nhà kỹ nghệ và doanh nghiệp Việt nam – Trương Văn Bền (1884-1956) (phần 1)

 

 

 

Tôi sinh ra đúng vào năm ông Trương Văn Bền mất. Khi lớn lên trong tuổi học trò ở trung học, tôi vẫn còn được nghe nhiều người nhắc đến ông và sản phẩm xà bông Việt Nam mà công ty ông sản xuất với niềm tự hào kính phục pha lẫn với một sự nuối tiếc. Trong ký ức sâu xa từ nhỏ đó, tưởng chừng như mất đi theo thời gian vì tôi chưa được có dịp tìm hiểu thêm nhiều, hay thật ra là không để ý đến về ông cho đến cách đây vài năm khi tôi bắt đầu tìm hiểu và viết về lịch sử người Minh Hương ở Nam bộ.

Người Anh, Mỹ thường gọi những người đầu đàn trong kỹ nghệ là “captains of industry” (dịch nghĩa là “chỉ huy trưởng kỹ nghệ”) thể hiện ý tưởng so sánh trong lãnh vực kỹ nghệ, công nghiệp, kinh tế tài chính những người khai phá, lãnh đạo các công ty, tập đoàn lớn có sức mạnh trong công nghiệp là những chỉ huy trưởng các đơn vị chủ lực trên mặt trận kinh tế phát triển xã hội mang lại phúc lợi cho người dân, cho đất nước không kém các đơn vị quân sự bảo vệ đất nước. Vì thế tôi gọi ông Trương Văn Bền là người “chỉ huy trưởng kỹ nghệ” đầu tiên của Việt Nam ở đầu thế kỷ 20.

Đã có một số bài viết về ông Trương Văn Bền, nhưng hầu hết đều tương tự, có nhiều thông tin được lập lại. Trong lúc tìm hiểu về cuộc đời và sự nghiệp của ông Trương Văn Bền, tôi đã có may mắn là liên lạc được với một người cháu nội của Trương Văn Bền là anh Phillipe Trương, hiện sống ở Pháp. Qua điện thư, anh Phillippe đã cho tôi biết được nhiều thông tin thêm về ông Trương Văn Bền. Một số thông tin mới về ông, tôi cũng tìm được qua các biên bản chính thức của các buổi họp Hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương (Recueil des procès-verbaux des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et financiers de l’Indochine) mà ông Trương Văn Bền là một thành viên trong nhiều năm. Tổng hợp các tư liệu trên, tôi xin trình bày một vài nét phác họa chính về ông.

Theo các tác giả, có thể bắt đầu từ Vương Hồng Sển hay Hứa Hoành, thì Trương Văn Bền là người Minh Hương gốc Triều Châu, nhưng thật ra không đúng vậy. Theo người cháu nội của ông, anh Phillipe Trương hiện nay sống ở Pháp thì gốc ông ở Phước Châu, Phúc Kiến, ngay tại Ngũ Hổ Sơn.

Tổ tiên của Trương Văn Bền là Trương Thuận Tri, một sĩ quan tùy tùng của tướng nhà Minh Dương Ngạn Địch. Dương Ngạn Địch và người tướng khác nhà Minh là Trần Thượng Xuyên dẫn đoàn quân gồm binh sĩ cùng gia đình của họ từ Quảng Đông lánh nạn nhà Thanh đi trên đoàn tàu đến Việt Nam vào thế kỹ 17.

Được phép của chúa Nguyễn, Nguyễn Phúc Tân, Trần Thượng Xuyên và Dương Ngạn Dịch xuông vùng đất mới Gia Định tìm chổ trú ẩn và lập nghiệp. Trần Thượng Xuyên đến Cù lao Phố (Biên Hòa) định cư trong khi Dương Ngạn Địch đến vùng nay gọi là Mỹ Tho.

Trương Thuận Chi ở Mỹ Tho một thời gian sau đó đến vùng Chợ Lớn ngày nay. Một người cháu của Trương Thuận Chi là Trương Quốc Thái (sinh vào khoảng đầu thập niên 1800) được nhà Nguyễn bổ chức Huyện Thừa ở Rạch Giá.

Sau ngày Pháp chiếm sáu tỉnh miền Nam, Trương Quốc Thái dời vào Huế và được vua Tự Đức phong làm chức Phủ doản ở tỉnh Bình Thuận. Sau khi Trương Quốc Thái mất, người con của ông là Trương Quang Thanh dời trở miền Nam ở tại Chợ Lớn. Ông từ chối phục vụ trong chính quyền Pháp và trở thành một người buôn bán bình thường. Trương Quang Thanh cũng là một thi sĩ và họa sĩ. Ông mất vào năm 1905. Anh Philippe Trương hiện nay vẫn còn giữ hai bức tranh do ông vẽ và nhiều bài thơ. Trương Quang Thanh có 8 người con trai và một gái. Người con gái là bà Trương Thị Cưởng, sau này thành hôn với ký giả Nguyễn Văn Sâm. Trương Văn Bền là một trong 8 người con trai. Ông Trương Văn Bền sanh ngày 10 tháng 10 năm Giáp thân thời vua Hàm Nghi, (tháng 12 1884).

Thưở thiếu thời, như nhiều gia đình khá giả và học thức, lúc đầu Trương Văn Bền học chữ Hán. Sau đó năm 1896, ông bắt đầu giáo dục Pháp, học ở các trường Ecole Municipale de Cholon, Collège de My Tho, Lycée Chasseloup-Laubat (Saigon). Năm 1889, chính quyền thuộc địa Pháp tổ chức lần đầu tiên kỳ thi Brevet élémentaire (cao đẳng tiểu học), Trương Văn Bền ghi tên và thi đậu dễ dàng. Ông được bổ nhiếm chức vụ Ký lục thượng thư.

Năm 1901, ông rời bỏ không làm cho chính quyền Pháp nữa và trở lại nghề buôn bán của cha ông. Lúc đầu ông bán đậu phọng, đậu xanh, đường trong một cửa tiệm nhỏ tọa lạc ở số 40 rue du Cambodge (Chợ Lớn). Sau đó ông khuếc trương mua các loại hàng sỉ từ các thương gia người Hoa rồi bán lại cho các tiệm bán lẻ ở Chợ Lớn. Năm 1905, ông mở một xưởng tinh khiết và chế dầu ở Thủ Đức. Ông là người Việt Nam dùng máy ép bằng hơi làm ở Mỹ, mua từ Pháp. Ông là một người rất năng động. Một năm sau, ông mở một nhà máy xay gạo ở Chợ Lớn và một ở Rạch Các. Ông cũng có một khách sạn và một tiệm mỹ phẩm ở Chợ Lớn. Tuy vậy các cơ sở này không thành công bằng cơ sở sản xuất dầu của ông ở Thủ Đức. Năm 1918, ông mở thêm một cơ sở sản xuất dầu nữa ở Chợ Lớn. Xưởng này sản xuất đủ loại dầu từ dấu nấu ăn, dầu salat (salad oil) đến dầu dừa, dầu castor, dầu cao su và các loại dầu dùng trong kỹ nghệ.

Trong ký sự “Một tháng ở Nam Kỳ” (1918), ông Phạm Quỳnh có nhắc đến ông Trương Văn Bền như sau:

Ông Trương Văn Bền là một nhà công nghiệp to ở Chợ Lớn, năm trước cũng có ra xem hội chợ ở Hà Nội, đem xe hơi ra đón các phái viên Bắc Kỳ về xem nhà máy dầu và nhà máy gạo của ông Chợ Lớn. Xem qua cái công cuộc ông gây dựng lên, đã to tát như thế mà chúng tôi thấy hứng khởi trong lòng, mong mỏi cho đồng bào ta ngày một nhiều người như ông, ngõ hầu chiếm được phần to trong trường kinh tế nước nhà và thoát ly được cái ách người Tàu về đường công nghệ thương nghiệp.

 

clip_image002

Trương Văn Bền

clip_image004

Gia đình Trương Văn Bền

 

Từ những thành công ban đầu này, năm 1918, ông bắt đầu tham dự tích cực vào đời sống kinh tế chính trị trong xã hội. Ông được bầu làm một hội viên trong Hội đồng quản hạt Nam kỳ (Conseil Colonial) vào năm 1920, và sau đó năm 1924 là nghị viên Phòng Thương Mại (Chambre de Commerce). Năm 1932, ông là người Việt nam đầu tiên được bầu làm phó chủ tịch Phòng Thương Mại và giử chức này cho đến năm 1941. Ngoài ra ông còn là nghị viên Phòng Canh Nông (Chambre d’ Agriculture, 1922), thành viên của hội đồng giám đốc quản trị (board of directors) của Thương cảng Saigon (Port Commerce de Saigon) và ứng viên Hội đồng Quản trị Sở Lúa gạo Đông Dương từ năm 1924.

 

clip_image006

1

clip_image008

2

clip_image010

3

clip_image012

4

Hình 1,2,3: Thương cảng Saigon quản lý bởi công ty Messageries maritimes mà trụ sở là Bến Nhà Rồng hiện nay. Hình 4: Nhà máy xay lúa ở Chợ Lớn

 

Trong thập niên 1920, ông nhảy vào lãnh vực canh nông. Lúc đầu ông mua 300 mẩu ruộng ở Mỹ Tho. Vài năm sau đó, năm 1925, ông cùng một số người khác thành lập Công ty canh nông Tháp Mười (Société Rizicolte du Tháp Mười). Công ty có hơn 10 000 mẩu và tạo công ăn việc làm cho hàng ngàn nhân sự ở miền Tây Nam bộ. Ông làm Tổng giám đốc và là thành viên của hội đồng quản trị công ty. Ông giữ chức vị Tổng giám đốc cho đến năm 1931.

Vai trò quan trọng của ông trong địa hạt phát triển canh nông, kỹ nghệ, kinh tế tài chính được đánh giá cao trong xã hội. Ông được bầu làm hội viên của Đại hội đồng Kinh tế lý tài Đông Dương (Grand Conseil des Intérêts économiques et financiers de l’Indochine) năm 1929. Đại hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương được thành lập năm 1928 để nghiên cứu và giải quyết các vấn đề, vấn nạn liên quan đến kinh tế và tài chính ở Đông Dương. Các vùng ở Đông Dương như Lào, Cam Bốt, Trung, Bắc và Nam đều có thành viên. Trong Đại hội đồng, ông đã có nhiều đóng góp sửa đổi nhiều chính sách kinh tế bảo vệ quyền lợi người dân bản sứ và người nghèo khó ở Nam bộ. Qua các biên bản báo cáo chi tiết các cuộc họp Đại hội đồng được công bố mỗi năm của chính phủ toàn quyền Đông Dương (4) (5) ta có thể thấy một vài sự kiện thể hiện tinh thần bảo vệ phúc lợi người dân của Trương Văn Bền.

Thí dụ trong quyển báo cáo phát hành năm 1939 về các đề tài tranh luận bỏ phiếu ở Đại hội đồng năm 1938, có viết một đoạn như sau (5):

“… Ông Trương Văn Bền đọc một đề nghị như sau và đặt ra trước Đại Hội đồng để được biểu quyết với sự đa số tuyệt đối

Đại hội đồng
Chiếu rằng trong dự án tổng ngân sách năm 1939, chính phủ có nhiệm vụ thi hành những công trình mới (thủy lợi và vét kinh) từ quỹ trương mục Nam kỳ một số tiền là 724000 đồng;
Chiếu rằng những công trình này cho tới nay được thực hiện mà không lấy ý kiến từ các thành viên của Nam kỳ được bầu vào Hội đồng;
Chiều rằng trong năm 1938, Sở Công chánh chỉ chi tiêu trong các chương trình trên một số tiền 470000 đồng so với ngân sách tiên đoán cho dự án là 745000 đồng;
Chiếu rằng làm các kênh đào ở Nam kỳ thường luôn có kết quả tốt trên phương diện thoát nước, cải tiến đất cũng như làm giảm mực nước sông Cửu Long trong mùa lũ;
Chiếu rằng các công trình này được trả từ các quỷ đã có;
Trên cơ sở tiền thâu được từ thuế (*) trên xuất cảng gạo và dịch vụ liên quan vào khoảng 6000000 đồng;
Đề nghị sau đây được đưa ra biểu quyết
1.- Các điều được xóa bỏ là điều 122, điều thứ nhất (các công trình thoát nước và thủy lợ ở Nam kỳ);
2.- Hoàn lại 0$50 trên mỗi đồng tiền thuế xuất cảng gạo và các dịch vụ liên quan thâu được ở Nam kỳ. Tiền hoàn lại sẽ được ghi vào Chương 9, điều 8
Số tiền hoàn là 1500000 x 0.50 = 750000 đồng
((* ) ở toàn Đông Dương, chú thích của tác giả)

Đại biểu ông Marinetti chú thích là trong số lượng gạo xuất cảng ở cảng Saigon có 200000 tấn là từ Cam Bốt.
Ông Tổng thư ký phủ nhận những phê bình về vấn nạn của Sở thủy lợi mà sự thành lập được đòi hỏi tức thì cách đây không lâu.
Trái với những điều mà ông đại biểu Trương Văn Bền nêu lên, phương thức tín dụng mỗi năm được chi tiêu trong giai đoạn thi hành hợp đồng với Công ty Đào vét (Société des Dragages) nói chung phù hợp với số lượng tiền ghi trong ngân sách. Ông tổng thư ký kêu gọi sự chú ý của Đại hội đồng về tính cách đặc biệt của các công trình thủy lợi cần thời gian dài thực hiện và vì thế cần thiết một sự liên tục dựa trên kỹ thuật chuyên biệt.
Ông Trương Văn Bền đòi hỏi lần nữa là có sự biểu quyết qua lá phiếu đề nghị của ông, và sự đào kênh lại.
Ông Combot ủng hộ đề nghị của ông Trương Văn Bền, và bày tỏ sự ngạc nhiên là các công trình thủy lợi đã được thực hiện mà không có sự đòi hỏi, yêu cầu nào của dân chúng ở các vùng liên hệ.
Ông giám đốc tài chánh cho hội đồng biết là sự bỏ phiếu của đề nghị sẽ không có ảnh hưởng đến tài chánh năm 1939.
Sau khi đọc, đề nghị của ông Trương Văn Bền được chấp thuận với 25 phiếu thuận và 5 phiếu chống.”

Một thí dụ khác như trong quyển báo cáo năm 1940 về các đề tài tranh luận bỏ phiếu ở Đại hội đồng năm 1939 có đoạn nói về quản lý tiêu chuẩn dược phẩm. Trong cuộc tranh luận giữa các thành viên về thuốc cổ truyền đông y, ông Trương Văn Bền cũng phát biểu phản đối đạo luật của chính phủ ban hành ngày 24/10/1939 hạn chế và quản lý chặc chẻ sự xử dụng thuốc bắc cổ truyền trong quần chúng. Ông nói lên sự bất bình bởi đa số quần chúng về đạo luật trên.

Ông phàn nàn là Đại hội đồng, các công dân bảo hộ và nhiều nhân vật người An Nam thuộc nhiều thành phần khác nhau đã không được hỏi ý kiến trước khi có quyết định và đòi hỏi là đạo luật được đình chỉ, chờ sự thành lập một ủy ban để quản lý vấn đề thuốc ta cổ truyền và thuốc tây một cách hợp lý và hài hòa. Đa số người dân là không có khả năng mua thuốc tây và do đó họ đều dùng thuốc ta cổ truyền, mặc dầu có sự lạm dụng của một số y sỉ đông y. Một số thành viên trong Đại hôi đồng như ông Thương Công Thuận, Trần Văn Kha, Tôn Thất Viên Đề ủng hộ ý kiến của ông Trương Văn Bền. Ông Tổng thư ký Đại hội đồng tán thành nhưng cho rằng phải có một sự quản lý nào đó ít nhất để tránh lạm dụng toa thuốc độc hại. Về phương diện thực tiển thì khó có thể quản lý được vì người chẩn bệnh cũng là người làm và chế thuốc.

Ông Phan Văn Giao ủng hộ đạo luật của chính phủ để quản lý thuốc ta. Ông Tôn Thất Viên Đề còn đặt ra câu hỏi là tại sao thuốc Tây lại rất đắt qua đó ông Giao cho là vì những người trung gian đã lợi dụng kiếm lời quá cao nên mới có sự thể như vậy. Ông Baffeleuf, chủ tịch Đại hội đồng nói rõ cho ông Đề là ông (Baffeleuf) cũng là thành viên trong Ủy ban trung ương kiểm soát nên ông bảo đảm với ông Đề là sự tăng giá thuốc chỉ có được phép sau khi có sự điều nghiên kỹ lưỡng. Ông Baffeleuf đồng ý là luật mới đã gặp nhiều phản ứng bất lợi và đưa ra đề nghị motion của Đại hôi đồng là luật mới ra quá sớm và cần có sự nghiên cứu lại kỹ lưỡng trong quản lý để áp dụng từ từ và đúng mức trong giai đoạn chuyển tiếp (4).

Đáng để ý là trước đó vào năm 1931, bác sĩ Yersin cũng đã trình bày trước Đại hội đồng về sự cần thiết trồng cây quinine làm thuốc chống sốt rét ở Đông Dương và sự liên hệt hợp tác giữa viện Pasteur Saigon và các cơ quan liên hệ của phòng canh nông ở Đông Dương. Từ năm 1923, bác sĩ Yersin cho biết là ông đã nghiên cứu các mẫu võ cây quinine từ các cây được thử trồng sao cho thích hợp với khí hậu ở một sô đồn điền ở Đà Rằng (Dran) và Di Linh (Djiring) trên Tây Nguyên với độ cao như các cây quinine trồng thành công ở Java khoảng 1500 m. Trước đó năm 1917, Yersin đã thử ở Hòn Bà gần Nha Trang. Bác sĩ Yersin hy vọng là sẽ thành công phát triển cây quinine và kỹ nghệ chế biến thuốc chống sốt rét cho toàn cõi Đông Dương với sự trợ giúp của Đại hội đồng.

Theo quyển « Tự Điển Tác Giả Việt Nam » của ông Nguyễn Q. Thắng (NXB Văn Hóa, 1999) thì ông Trương Văn Bền cũng có viết 3 tác phẩm: Phương pháp chế tạo xà phồng (1918), Phương pháp cải tạo các giống lúa (1932) và Phương pháp lấy dầu thông (1932) (2).

Ở Nam Kỳ, các cơ quan tư vấn tối cao, phụ tá cho Thống đốc như Hội đồng Quản hạt Nam Kỳ, Đại hội đồng kinh tế lý tài Đông Dương, Hội đồng Canh nông, và Phòng thương mại, thì ông Bền đều là hội viên của các cơ quan trên.

Mặc dầu ở địa vị cao và có thế trong xã hội, ông không bao giờ khoe khoang tự mãn, trái lại ông rất khiêm tốn, tập trung vào công việc phát triển kỹ nghệ, kinh tế, kinh doanh mang đến phúc lợi cho quần chúng.

clip_image014

Pont des Malabars et quai (Bến Bình Đông, dọc kênh Tàu Hũ, Chợ Lớn)

Nói về kinh nghiệm trong thương trường và bí quyết thành công, ông Trương Văn Bền có cho biết một số ý kiến của ông như sau (trích nguồn (3))

“…Đầu những năm 1930 trong dịp Tết Nguyên Đán, các báo Sài Gòn thường đăng phỏng vấn quảng cáo thương mại. Những bài này thường rất ăn khách do người đọc thích tìm hiểu bí quyết thành công của các nhà kinh doanh nổi tiếng. Trong đó có bài phỏng vấn ông Trương Văn Bền đăng trên báo Sài Gòn Xuân 1939 đã thu hút rất nhiều độc giả thời bấy giờ quan tâm. Mặc dù thời đó không có những khái niệm chuyên môn như tiếp thị, đầu tư, thương hiệu… Nhưng nội dung chủ yếu của bài báo lại xoay quanh những vấn đề này. Có thể nói, bài phóng sự đó đã có ý nghĩa cần thiết không những đối với những nhà kinh doanh cùng thời mà còn là con đường sáng cho doanh nhân ngày nay suy ngẫm và so sánh.

Trong bài báo phóng viên hỏi tại sao người Việt thường thất bại trong thương mại và kỹ nghệ. Không cần suy nghĩ lâu, ông Trương Văn Bền trả lời: “ Tại người mình ưa bắt cá hai tay, ưa làm nhiều việc quá. Việc này chưa xong, họ đã xoay qua làm việc khác, thành thử không việc nào vẹn toàn. Rốt cuộc hỏng cả”. ông nói tiếp: “Lý do thứ nhì là do không thông thạo việc nên thất bại. Bất cứ việc gì, trước khi làm mình phải biết rõ việc ấy. Phải học, phải nghiên cứu kỹ càng mới được. Người Tây trước khi làm việc gì họ cũng học trước cả. Cho đến một việc đứng bán hàng, ta cho là tầm thường và tưởng ai ai cũng có thể làm được. Nhưng đối với họ đó là việc quan trọng cũng có sách có trường dạy hẳn hoi, dạy từ cách tiếp khách, khoe hàng làm sao cho người khách mua rồi thì còn trở lại. Người mình có một cái rất bậy là chỉ thấy cái lợi trước mắt, chỉ cốt làm sao bán được món hàng lúc ấy mà thôi, không chịu hiểu rằng người khách thấy mình bị tiếp đãi không được như ý, hoặc bị lừa gạt mua nhầm hàng xấu, về sau không thèm trở lại nữa, vì vậy mà ế ẩm. Như tôi đây cơ sở đã vững vàng rồi mà ngày nào cũng tìm sách, tìm báo đọc thêm”.

Khi được hỏi về bí quyết thành công, ông Bền nói: “ở xứ mình, trong giới kỹ nghệ còn trống chỗ nhiều, muốn lập kỹ nghệ nào cũng dễ lắm. Không cần phải có vốn nhiều. Vốn ít, càng tốt hơn. Ban đầu không nên làm rình rang, đã vô ích mà còn có hại, cứ khởi sự nho nhỏ, đi lần lần từng bước. Cần nhất phải có chí nhẫn nại. Như tôi đây bị thất bại đã mấy phen, nhưng có thất bại mới có thêm kinh nghiệm. Thứ nhất là bền chí. Thứ hai là phải có sức khỏe, làm gì thì làm mỗi buổi sáng tôi cũng dậy sớm tập nửa giờ thể dục. Không có sức khỏe, hay đau ốm thì dẫu tài giỏi đến bực nào cũng thành vô dụng. Tóm lại sức khỏe, sự học hỏi, sự bền chí là những điều kiện của sự thành công.”

Trương Văn Bền cũng là hội viên của hội đồng quản trị Sở lúa gạo Đông Dương khi sở này được thành lập năm 1924, chủ tịch Liên hiệp canh nông (Union d’Agriculture), chủ tịch nhà băng Tín dụng Canh nông Chợ Lớn (Caisse de Crédit Agricole du Cholon) năm 1932, phó chủ tịch Phòng Canh nông (Chambre d’ Agriculture) trong thời gian 1932-1941 và là thành viên của Hội đồng sản xuất kỹ nghệ Đông Dương (Conseil de production industriel d’ Indochine) khi được thành lập vào năm 1941. Ở hai thửa ruộng lớn ông thành lập năm 1941 có hai nhà máy xay lúa sản xuất hơn 100 tấn gạo mổi ngày.

Trong bài diễn văn của ông Henri Maspéro (nhà sử học chuyên về Trung Hoa, anh của George Maspero, tác giả sách “Vương quốc Champa”) đọc nhân dịp khai hoạt của Hội đồng quản hạt (Conseil Colonial) ngày 12 tháng 02 năm 1920, nói về ông Trương Văn Bền như sau (2):

«.. Cuối cùng, ông Bền đều đủ tất cả điều kiện khả năng đại diện ở Hội đồng này các kỳ vọng mới của đồng bào ông. Trong thời điểm mà người An Nam không còn nghĩ đến [chuyện] đóng vai trò tích cực vào sự phát triển kinh tế ở Nam kỳ, ông đã, bằng phương tiện sức của chính mình, tạo ra một kỹ nghệ mà ông biết rõ, bằng sự bền chí, ý chí, thông minh sáng tạo và làm việc, đã đặt ông vào hàng quan trọng bậc nhất. Những đồng bào của ông khi bầu ông vào đây, đã cho thấy từ đây họ chú ý và tham dự vào đời sống kinh tế của thuộc địa, và sự nhận hiểu mà họ có với các đồng bào của ho, đã mở đường và là một gương mẫu tốt cho họ.”

___________________

Nguồn Tham Khảo:

(1) Hứa Hoành, Những nhà phú hộ và người lừng danh ở Nam kỳ, http://namkyluctinh.org/a-lichsu/huahoanh/huahoanh-phuho%5B4-kynghe%5D.htm

(2) Phillipe Truong, theo thông tin trong các điện thư do Phillipe gởi cho tác giả

(3) Khuyết danh, Trương Văn Bền (1883-1956), http://www.vinhanonline.com/index.php?option=com_content&view=article&id=467:truong-van-ben-1883-1956&catid=88:nhung-nha-kinh-te&Itemid=270

(4) Gouvernement general de l’Indochine, Recueil des procès-verbaux des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et financiers de l’Indochine, Session ordinaire de 1939, Imprimerie d’extreme-orient, Hanoi, 1940, http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k56273414.image.f115.tableDesMatieres

(5) Gouvernement general de l’Indochine, Recueil des procès-verbaux des séances plénières du Grand Conseil des intérêts économiques et financiers de l’Indochine, Session ordinaire de 1938, Imprimerie d’extreme-orient, Hanoi, 1939, pp. 201-202, http://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5453910r.image.f203.tableDesMatiereshttp://gallica.bnf.fr/ark:/12148/bpt6k5453910r.image.f000204.tableDesMatieres

bài đã đăng của Nguyễn Đức Hiệp


1 bình luận »

  • Long Điền viết:

    Những bài viết có giá trị lịch sử của Ông Nguyễn Đức Hiệp rất đáng được trân trọng.Vừa hay về văn phong, kèm theo hình ảnh tài liệu quý giá cho những ai muốn sư tầm thời kỳ Việt Nam trong ách cai trị của Thực Dân Pháp. Đang truy tìm bài : Singapore-SaiGòn- Hồng Kông cũng của tác giả Nguyễn Đức Hiệp.
    Long Điền 1.27.2011

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)