Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 07, , Song ngữ Email bài này

Hoa Lư

Ra Bắc, một nơi tôi đã dự định trong đầu, bất cứ giá nào, cũng phải tìm đến, đó là cố đô Hoa Lư.

Ngày còn bé, học lớp bốn, tấm tranh treo trên tường đối diện chỗ tôi ngồi, vẽ hình thằng bé mặc quần đùi, áo hở rốn, chân trần, tóc để chổm, chạy đùa nghịch cùng đám bạn chăn trâu, tay phất phơ ngọn lau. Hình ảnh ấy cứ ăn sâu vào trí não tôi. Thằng bé chăn trâu nghịch ngợm ngày đó là Đinh Bộ Lĩnh. “Anh hùng xưa nhớ thời niên thiếu, lấy cây lấy lau làm cờ, quên mình giúp nước, hết sức giữ gìn non nước, tiếng lừng nước Nam.” Cũng như hàng ngàn đứa trẻ cùng thời cùng lứa, ham vui, phá phách, nghịch ngợm, bày trò chơi, nhưng chỉ khác là, trò chơi bày binh bố trận ấy, sau này làm nên lịch sử, với biệt hiệu: Ông vua mục đồng.
Đinh Bộ Lĩnh, tên đứa bé khi còn chăn trâu, nhưng khi lên làm vua, đổi thành Đinh Tiên Hoàng. Ông là người đặt viên đá đầu tiên cho nền độc lập, thống nhất nước nhà. Đất nước tự chủ, phát triển văn minh, văn hóa. Ông đặt năm ngôi hoàng hậu ngang hàng bình đẳng: Đan Gia, Trịnh Minh, Kiểu Quốc, Cù Quốc và Ca Ông. Ông quả là người mê đắm đàn bà. Rồi ông chế ra những vạc dầu sôi, nuôi hổ, báo trong vườn, dựng cột đồng nung đỏ không ngoài mục đích trừng trị kẻ nào chống đối, đi ngược lại chính sách ông. Nhưng chí ông lớn và tầm nhìn ông rộng. Ông biết trọng người có học, dù vốn liếng học thức của ông ít ỏi. Ông quy định triều chế, đặc biệt trọng dụng những Thiền sư học lực uyên bác, đặt cấp bậc cho tăng đạo. Các sử gia khó tính như Lê Văn Hưu và Ngô Sĩ Liên còn phải khen ngợi và so sánh ông với Triệu Vũ Đế.
~~~
Chiếc xe Toyota cũ kỹ, xỉn màu dùng chở khách đi đường xa.
Cố đô Hoa Lư là nơi hiếm hoi người đến thăm viếng. Trên xe, cả thẩy ba người, là ông giáo sư đến từ Thụy Điển, anh tài xế, và tôi.
Bẩy giờ sáng, xe bắt đầu ra khỏi thành phố Hà Nội. Cảnh vật càng lúc càng rõ. Cái rõ của sự nghèo nàn thê thảm như bị trời cố tình đày bất cứ sự sống, sự vật nào hiện hữu nơi đây. Những khu chung cư tối tăm u ám, đầy ứ người. Những cành cây khẳng khiu, vá víu làm con đường dẫn vào những căn nhà trên mảnh vườn ngập nước và rác rến trôi lềnh bềnh. Tất cả mọi vật cứ lướt qua, lướt qua trước mắt tôi…
Mái tranh, vách lá, đường đê, ao nước, bóng cây, cục đất, cục đá… những khuôn mặt không ngày tháng chậm rãi rảo bước. Những mặt trâu và mặt người, thoạt nhìn, từa tựa nhau, nhưng nhìn kỹ, mặt trâu lộ chút hân hoan hơn mặt người. Nếu phải chọn một trong hai, trâu sẽ được chọn, không cần đắn đo, suy nghĩ.
Những khuôn mặt thuộc thế giới tiền sử. Sống chỉ để sống, như bản năng, không phân tích, không chọn lựa, không nghĩ ngợi, không cảm xúc. Những đôi chân trần dẫm trên đất đá lởm chởm như gai nhọn. Nắng và nóng tháng tám oi bức tựa nỗi khốn khổ, trốn đâu cũng không khỏi, chạy đâu cũng không thoát. Phải chăng sự khốn khổ làm nên người Việt Nam? Đàn bà đàn ông, trẻ già lớn bé, vào cuối thế kỷ hai mươi vẫn còn di chuyển bằng đôi chân thời đồ đá.
Khí trời đột nhiên ẩm thấp, nặng màu chì. Trời và đất lẫn lộn, quấn vào nhau, như sắp xụp.
Cố đô Hoa Lư mờ mờ hiện ra trước mặt.
Tôi xuống xe, đi bộ dọc theo con đường nhỏ dẫn vào làng. Hai con mắt tôi dáo dác nhìn quanh tìm kiếm những bụi sậy, thung lau, thung lá. Ăn mày xếp hàng dọc hai bên đường. Kẻ nằm người ngồi. Tóc bạc phơ thay cho những bụi lau trắng. Họ già nua như những ngọn đèn leo lét cạn dầu, đặt trước gió. Mắt không thấy, miệng không răng, nói không thành tiếng. Tất cả như hồn ma dựng dậy từ ngàn năm trước. Những lóng tay xương xẩu, rời rạc ngửa ra xin tiền mà tôi ngỡ như vẫy chào đón tôi.
Khi những lóng tay xương xẩu chạm vào người tôi, người tôi giật lên như đụng phải điện cao thế. Biết đâu một trong những người ăn mày đợi chết này, không là bác-chú-cô-dì của tôi?
Bố mẹ tôi rời Bắc vào Nam năm 1954, cho đến ngày cả hai nhắm mắt – mẹ tôi mất năm 1970, bố tôi mất năm 1976 – chúng tôi hoàn toàn bặt tăm vô tín bà con nội, ngoại.
Tôi bỗng thấy lồng ngực khó thở. Hai chân nặng lết lê từng bước khó nhọc như đeo tảng đá nghìn cân.
Túi dúi tiền vào tay họ. Đám đông ăn mày càng lúc càng kéo lại đông hơn. Tôi cho mà như thí, như vất. Đi mà như chạy. Tâm trí tôi rối bời.
Người gác cổng lăng cũng là ông ăn mày, quần đùi rách tưa gấu, áo không còn cúc, màu da như màu đất, cũng là khuôn mặt người chết cả ngàn năm dựng đứng dậy.
Tôi theo ông vào bên trong, đi dưới những tàn cây rậm bóng. Ông nói, nói nhiều lắm. Ông kể chuyện ngày xưa, thời Đinh Tiên Hoàng còn dùng lau sậy bày binh bố trân. Trời vẫn màu chì, khí âm… Ông nói điều ông muốn nói, đầu óc tôi vẫn tê cứng.
Vào trong đền, màu tối, u ám. Ngàn năm dừng lại nơi chốn này. Người và tượng sững sờ. Hình như ông giơ tay chỉ chiếc trống ngày xưa dùng tập họp quân lính. Ông chỉ mấy viên gạch lót dưới sàn nhà, nói điều gì đó. Rồi ông quay mặt ra cửa, giang tay chỉ mộ Đinh Tiên Hoàng xa xa trên đồi cao, nhưng giọng mập mờ không dám chắc vì xác vua đem giấu hơn là đem chôn, vì sợ vàng bạc, quần áo bị kẻ cắp đào xới. Hình như ông còn đọc cả thơ… Tôi giương mắt nhìn quanh, bụi nhện giăng ngang giăng dọc, bám đầy tường. Trần nhà ám khói, ám mùi, ám màu thời gian.
Tôi bước lại gần, lại gần hơn với ông vua Đinh Tiên Hoàng. Ngước mắt nhìn ông ngồi trên tấm ván cao, tôi với tay lấy nhánh hương, thắp đốt lạy ông vài lạy. Tôi chảy nước mắt. Những giọt nước mắt hiếm hoi từ ngày về lại Việt Nam. Tôi ngậm ngùi thương ông, chia sẻ nỗi niềm cùng ông, thông cảm tấm lòng ông. Cả ngàn năm trước, lúc cầm trong tay cọng cờ lau tập trận cho đến lúc lên ngôi vua, cố công lập quốc, chọn lựa tên nước là “Đại Cồ Việt – Nước Việt Lớn.” Người quý mến ông thì bảo ông là viễn mơ. Kẻ bàng quan thì cho ông đầy tham vọng. Nhưng có bao giờ ông nghĩ rằng một ngày nào đó, hơn ngàn năm sau, dân trong làng ông đứng, nằm, ngồi ngửa tay ăn xin đầy ngoài đường không? Và cả nước ông đang ăn mày thiên hạ không.
Và ông, giờ ngồi đây một mình, giữa trần nhà ám khói, nhện bụi che mờ mặt. Tổ tiên là sức mạnh văn hóa. Nhưng ông ơi! dân nghèo đói quá! Nai lưng lo từng miếng ăn, cái mặc, thì tổ tiên, trong đó có cả ông, cũng bị “vắng mùi nhang khói.”
8/1995

HOA LU
essay
translated by author
Once I was in the North, there was a site I was determined to visit at any price: the ancient capital of Hoa Lu.

When I was a child in the fourth grade, opposite my seat in class hung a scroll picturing a little boy in short pants, short blouse displaying his navel, bare feet, tuft of hair, playing games with buffalo-keeper mates, waving a reed. This picture imprinted itself on my memory. The then mischievous, little buffalo-keeper was Dinh Bo Linh. “The hero of old, in his childhood, took a reed for a banner, forgot himself for the service of the country, worked vigilantly for its preservation, and made himself renowned all over the Nam country.” Like thousands of children his age, he was fond of fun, pranks, roguish tricks, the only difference being that that soldierly trick later made him a history-maker nicknamed “King of the Buffalo-Keepers.”

Dinh Bo Linh, the child’s name when keeping buffaloes, was changed when he became a king to Dinh Tien Hoang [Founding Emperor of the Dinh Dynasty]. He was the first man who laid the first stone for the seating of the country’s independence and unification, overseeing the development of a national culture. He installed five queens with equal stature, namely Dan Gia, Trinh Minh, Kieu Quoc, Cu Quoc and Ca Ong. He was a fancier of women indeed. He instituted cauldrons of boiling oil, kept tigers and panthers in the royal garden, and erected bronze stakes brought to a heat intended for those who opposed his policy. But great was his ambition and wide his vision. He respected scholars even though he himself had little schooling. He laid down court etiquette, greatly appreciated learned Zen masters, and regulated clergy hierarchy. Even hard to please historians like Le Van Huu and Ngo Si Lien lauded him in comparison with Trieu Vu De.
~~~
The dilapidated, tarnished Toyota was to carry long trip passengers only.
The old capital of Hoa Lu was a remote place for frequent visitors. There were only three of us in the car, a professor from Sweden, the driver and myself.
At seven in the morning, the car left Hanoi. The surroundings appeared clearer and clearer. And clearer was their proverty, so overbearing and distressing as if any life, anything existing thing had been condemned to this wretched fate. Communual housings were dark, gloomy, overcrowded. Scraggy boughs paved the way to huts erected on plots flooded with garbage floating adrift about. All these things went on drifting and drifting before my eyes…
Thatched roofs, leafed walls, dykelets, ponds, tree shades, earth clods, stones… timeless faces mill around. Buffalo faces and human faces, at first sight, looked almost alike; but at second sight, the buffaloes’ looked a bit more cheerful than humans’. Should there be a choice, the buffaloes’ would have it, that goes without saying.
Faces pertaining to the prehistoric world. Live—just to live—an instinct, thoughtless, choiceless, motiveless, feelingless. Bare feet treading earth and thornlike stones. August sun and heat, sultry and close as doom, no way of escape, nowhere for refuge. Was it doom that created Vietnamese? Men and women, old and young, at the close of the twentieth century, still move on Stone Age feet.
It suddenly grew damp and leaden, sky and earth intertwined with each other as if about to collapse.
The old capital of Hoa Lu appeared dimly before my eyes.
I got off the car, walked along the path leading to the village. I peeped around for some clump or dale of reeds. Beggars lined the path leading to the village, some lying some sitting. White hairs stood for reeds. They were old as lamps about short of oil flickering in the wind. Cloudy eyes, toothless mouths, half voiceless. All looked like ghosts roused up from millenia ago. Bony fingers wearily held out for alms, which I thought were greeting me.
Every time they touched me, I started as if touched by a high-voltaged current. One never knows, which of those dying beggars could turn out to be a relative.
My parents had left the North for the South in 1954 and they both remained there until they died—Mother in 1970 and Father in 1976. We were completely cut off from our kin of both sides.
Suddenly I felt short of breath. I trudged along step by step as if carrying a thousand pound rock.
I slipped money in their hands. The begging mob grew larger and larger. I gave as if out of spite, throwing, flinging. I walked as if running. I was all in a flutter.
The gate-keeper of the tomb was a begger too, short pants with torn hems, buttonless blouse, skin the color of earth, and that same face of a corpse raised up from millenia.
I followed him into the precinct, followed him into the dense shade of trees. He talked and talked, recollecting the days of old when Dinh Tien Hoang still used reeds to plan strategy. The sky remained leaden, a macabre atmosphere… he could ramble on at will, my head was dulling.
Inside the temple, it was dark and gloomy. More than a millenium congealed here. Humans and statues were rooted to the spot. He seemed to point to the drum of old that was used to sound the assembly. He pointed at some bricks on the ground and mumbled. Then he stretched out his arm and pointed to Dinh Tien Hoang’s tomb which lay farther on a hill, but was rather vague as to whether the royal corpse was buried there or hidden somewhere else for fear of plundering. He seemed to recite verses too… I opened my eyes wide for a look around: cobwebs here and there sticking to the walls, sooty ceiling inflicted with smells and tainted with the color of time.
I stepped nearer, nearer to King Dinh Tien Hoang. Looking up to him seated on a high board, I reached for an incense stick, lighted it and bowed to him. Tears ran down my face, the rare tears since I came back to Vietnam. I bewailed him, shared his feelings, sympathized with him. For more than a millenium ago he held up a reed playing war games until he mounted the throne, founded the country and called it “Dai Co Viet,” the Great Viet. Those who loved him called him the visionary. The indifferent thought of him as a man full of ambitions. But had he ever thought that some day, more than a millenium later, the people of his village would stand, lie down and sit, hold out their hands and beg? And that his entire country would rely on the world’s charity?
And now he sat over there alone, in the midst of a sooty ceiling with cobwebs veiling his face. Ancestors are a cultural force. But, since your people are too destitute, laboring hard for simply vegetating, ancestors including yourself, Sire, also have to go “without incense scent.”

8/1995

Lê thị Thấm Vân

bài đã đăng của Lê Thị Thấm Vân


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)