Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Bữa Tiệc Gà Tây

 

 

 

…Thầy nói sao cơ… bà ấy bán CD dạo… lạy Chúa… tin sao nổi kẻ bán buôn vất vưởng… bến xe nhà ga… bọn lọc lừa chuyên nghiệp… gặp ông Tây lớ ngớ khác gì vớ được con mồi béo… Thầy bị vào tròng rồi… bà ta chỉ vờ vịt… yêu đương gì… Thầy quả ngây thơ… chẳng qua bà ta đang lăm le ví tiền của một du khách da trắng… muốn gài Thầy cõng đi Canada luôn đó… chớ dây dưa với ngữ ấy…

Vị giáo sư tiến sĩ chết sựng, tai ù đi như đang bị châm chích bởi hàng loạt ngôn từ lạ lẫm ngoa ngoắt. Giọng người phụ nữ phía đầu dây bên kia mỗi lúc một hăng. Cô nói xan xát, nói tới tấp, nói lấn ông.

Ông gọi cho người sinh viên cũ từ khách sạn ở một thành phố cảng trên quê hương cô – đang buổi sáng cuối thu ấm nắng. Cô thì tận bên kia bờ Thái Bình Dương ở đất nước ông– đang buổi đêm rét mướt với trận tuyết đầu mùa. Đâu rồi cái giọng Anh ngữ đơn đớt âm Việt của cô từng ngộ nghĩnh đáng yêu? Quả không sai đằng sau vẻ dịu dàng chết người của đàn bà thường có những chiếc gai nhọn ẩn nấp. Điều nhân loại tổng kết đã cũ mèm, vậy mà hễ mỗi lần chạm phải là một lần ông giật mình hẫng hụt như mới khám phá một sự thật bẽ bàng. Ông tiếc nuối hình ảnh hoàn hảo của cô gái nhập cư gốc Việt ông ngưỡng mộ từ những năm cô là du học sinh ở trường ông đang giảng dạy. So với sinh viên bản xứ, cô trội hẳn ở đức tính lễ độ, khiêm nhường, và thái độ học nghiêm túc. Ông về hưu cô vẫn giữ liên lạc, Tết lễ lại còn ghé nhà quà cáp thăm viếng. Nhớ lần cô cắt nghĩa về truyền thống “tôn sư trọng đạo” của dân tộc cô, ông đã phát ganh tị cho sự khiếm khuyết trong nền văn hóa của mình. Cũng chính sự quen biết cô đã thôi thúc ông tham gia nhóm tình nguyện viên về Việt Nam dạy tiếng Anh mùa hè năm ấy. Và năm năm sau, ông trở lại đất nước này có ngờ để gặp được một biến cố quan trọng trong quảng đời cuối của mình. Ông bần thần nghĩ tới người thiếu phụ mới quen. Dáng thanh mảnh khắc khổ như nhiều phụ nữ ông thường thấy ở miền quê Việt Nam. Chiếc thùng nhựa to tướng đầy ắp đĩa CD đeo trèo trẹo bên hông. Đôi mắt u sầu cam chịu của nàng có lúc ngước nhìn ông tò mò, đắm đuối. Khi nàng mở miệng nói, ông nghe những âm điệu như tiếng ca trầm buồn. Ông ước có thể hiểu được những lời lẽ thốt từ đôi môi để tự nhiên không tô vẽ ấy. Không, nàng rất khác thường. Nàng chẳng thể bị gộp chung vào cái tập thể đàn bà nhiễu nhương người đời hay khái quát. Ông đinh ninh như vậy.

… Thầy đang lọt vào lãnh địa mafia… em không đùa đâu… Bên tai ông cô sinh viên vẫn đang cao giọng dấm dẳng … phải hết sức thận trọng… cảnh sát bên này nghe địa danh ấy còn phải ngán… tại Thầy ít theo dõi tin tức… trồng “cỏ”, bán “trắng”, rửa tiền, băng đảng thanh toán nhau… Toronto, Vancouver, Montreal… vụ nào chẳng dính dân Hải Phòng … bà này chắc cũng là dân thứ dữ… không thì bon chen bán buôn ngoài đường sao được…

Ông lịch sự ầm ừ. Thực ra trong bụng tức ách. Sao cô ta nói nghe y như dạy dỗ ông? Gợi ông liên tưởng tới người vợ đã ly hôn. Chủ quan, độc đoán, mệnh lệnh. Cuộc hôn nhân ngấp ngoái ngót nửa thế kỷ cuối cùng cũng phải kết thúc, ngay sau khi ông quyết định nghỉ hưu.

… Đừng ở đó thêm ngày nào nữa… chúng không tha Thầy đâu… Cô sinh viên chưa nguôi cơn thuyết giảng. Ông tìm cớ cúp máy. Lại thêm một lần ông thấm thía rằng cuộc sống rốt cùng là cái thực tại cứ điềm nhiên diễn ra trong lúc con người bù đầu lo toan những gì hầu như chẳng ăn nhập với nó. Rõ phí một đêm suy tính và lên kế hoạch. Ông tưởng cô sinh viên sẽ mừng cho cuộc gặp gỡ của ông với người thiếu phụ nơi xứ sở cô. Ông đã định nhờ cô đóng vai trò thông dịch, tạm thời giải quyết sự bất đồng ngôn ngữ giữa ông và nàng. Tất nhiên kỳ này trở về Canada ông sẽ theo học mấy khóa tiếng Việt. Hiện thời ông chỉ biết vài cụm từ giao tế cơ bản, mà thường phải uốn môi uốn lưỡi nói tới nói lui mấy bận người ta mới đoán ra. Tiếng Anh của người thiếu phụ thì vô vọng. Ngoài hello, how are you, thank you, sorry,good-bye, nàng gần như không thể nói gì hơn. Nhưng ông sẽ không phải lo nếu có cô sinh viên giúp đỡ. Cô sẽ gọi điện cho nàng, chuyển hộ tới nàng bao điều trái tim ông cần bộc bạch. Ông muốn đặt chân đến ngôi làng có những cánh đồng lúa dưới những chân núi đá vôi xanh ngắt ở Quảng Xương, Thanh Hóa nơi nàng sinh ra và đã trải qua suốt những năm tháng khốn khó, và cũng để thăm người mẹ già của nàng. Ông còn muốn ngỏ lời cầu hôn với nàng. Ông muốn nàng hiểu ông khao khát sự hiện diện của nàng mỗi ngày trong đời ông như thế nào. Dè đâu cô sinh viên chẳng cần nghe ngóng gì thêm, cứ xa xả gạt phăng.

* * *

Chủ quán cà phê nói:

“Ông nên cẩn thận. Bà này hành tung không rõ”.

Cô giáo trường trung học nói;

“Loại ấy bán vé số đĩa hát trá hình, chủ yếu là câu khách để “đi”.

Cô nhân viên nhà bảo tàng nói:

“Biết bao phụ nữ đàng hoàng ở đây. Sao lại dính vào thứ ấy”.

Ông cán bộ về hưu nói:

“Cạm bẫy khắp nơi. Ông coi chừng.”

Vị giáo sư tiến sĩ ngớ người. Đâu đâu cũng những lời cảnh báo, bàn ra. Cả anh nhà báo ở cùng khách sạn với ông. “Ông biết gì về bà này?” Anh ta chất vấn ông sau khi nghe mấy cô tiếp tân thóc mách về việc bắt gặp người thiếu phụ hay thậm thụt đứng chờ ông ở góc đường đối diện, rồi sau đó hai người chui vào tắc xi đi mất. Chừng như muốn tăng sức thuyết phục trong nhận định của mình, tối hôm ấy anh ta còn kéo thêm hai người bạn đến. Một người anh ta giới thiệu là nhà thơ tên tuổi, và người kia là Việt kiều.

Cuộc trò chuyện diễn ra trong phòng ông. Ông định pha trà nhưng mọi người ngăn lại. Anh nhà báo gọi nhân viên khách sạn mang lên một chai Hennessy XO, bao thuốc lá Dunhill, và mấy đĩa tôm mực nướng. Ông không có thói quen uống rượu nhưng nể ba người khách ép nài, ông cụng một ly xã giao. Mọi người vừa ăn uống vừa tham gia mổ xẻ chuyện quan hệ của ông.

“Hãy nghe chúng tôi, ông làm sao hiểu người Việt Nam bằng chúng tôi được?”

“Phụ nữ Việt Nam chúng tôi là báu vật với người Tây các ông, nhưng gì thì gì, cứ từ từ. Tôi đây về cưới hai lần rồi, cô nào cũng qua được đến nơi là nó bỏ mình.”

“Sao không kiếm một bà người Việt bên đó? Thể nào chẳng có những bà Việt Nam sính lấy chồng Tây. Rước một bà bên này qua trần ai lắm. Phải qua thủ tục bảo lãnh, tốn tiền, tốn công, tốn thời gian chờ đợi, rồi còn mất bao lâu nữa cho người ta học hỏi hòa nhập với môi trường mới lạ.”

“Hỏi thật, ông yêu bà ấy ở điểm gì? Nói ông đừng tự ái. Dân nhà quê đặc, nhìn cách thức ăn vận bên ngoài đủ biết. Nhan sắc trung bình. Học vấn chưa qua lớp bốn. Tiếng Anh lại mù tịt. Chưa nói đến văn hóa dị biệt.”

Không, không thể thành được.”

“Bà ấy biết gì về ông mà bảo yêu và hứa hẹn chăm sóc ông? Tôi không tin.”

“Tôi mà là bà ấy, tôi cũng bám chặt ông. Hai lý do: một là tiền, hai là cơ hội xuất ngoại.”

“Giáo sư hãy tỉnh táo. Đó là lời khuyên chân thành của tôi.”

“Xem nào…Người Thanh Hóa, đi làm ăn ở Hải Phòng gần hai chục năm nay, thế là lý lịch thuộc loại ‘thường trú Hải Phòng nguyên quán Thanh Hóa’..

“Không một sự kết hợp nào hoàn hảo hơn!”

“Ông chắc không biết dân gian chúng tôi có câu“Dân Thanh Hóa ăn rau má phá đường tàu, gái Thanh Hóa như khóa Vi-rô”.

“Khóa Vi-rô sản xuất thời bao cấp, chìa nào tra vào cũng mở được.”

“Nói đùa với giáo sư thôi. Bộ đội chúng tôi ngày xưa hay đặt chuyện tếu táo cho vui ấy mà. Ý là các cô Thanh Hóa tình cảm bạo liệt lắm.”

“Hải Phòng thì bị tiếng là chốn của dân tứ xứ bợm bãi, sẵn sàng đâm chém bắn giết để có tiền.”

“Thanh Hóa được huấn luyện ở Hải Phòng thì giáo sư chỉ có nước bị luộc chín.”

Ba ông khách ăn, uống, hút, nói, cười khùng khục. Vị giáo sư tiến sĩ cảm thấy họ đang áp đảo, dồn ép ông. Lời lẽ tranh luận của họ trở nên giễu cợt, công kích, không còn tôn trọng nể nang ông như lúc đầu nữa. Ông chợt nghe đau buốt trong đầu, hai bên thái dương giật giật. Mùi rượu và khói thuốc trong phòng khiến ông buồn nôn. Hình ảnh người thiếu phụ với thùng đĩa CD hiện lên. Nghiêng ngả. Đung đưa.

“Ông chắc còn hăng chuyện đó lắm phải không? Nói thật, còn máu lấy vợ thì tôi sẽ tìm cho một bà tương xứng hơn, ít nhất cũng có chút chữ nghĩa, xi lô xi la mấy câu tiếng Anh nữa chứ. Chả nhẽ lúc nào cũng phải kè kè quyển tự điển hoặc có sẵn người thông dịch à.”

“Bà này không chừng xuất thân gái điếm một thời, bây giờ về vườn, không cạnh tranh nổi với gái tơ nên phải đi bán dạo.”

“Phụ nữ nông thôn truyền thống đâu có bạo như vậy. Mới gặp ông, tiếng Anh không biết mà dám thuê tắc xi đưa ông xuống bãi biển Đồ Sơn. Tôi ngờ lắm.”

“Ông tin những điều bà ấy kể sao? Tuổi 50 mà bảo không chồng con. Ông phải về tận quê bà ấy mà điều tra gia cảnh.”

“Hê hê…Ông sao dễ tin. Thảo nào dân da trắng các ông hay bị dân chúng tôi gọi là bọn Gà Tây.”

“Mẹ kiếp, các lão nông dân Đại Hàn, Đài Loan bảy tám mươi đui mù sứt mẻ mất có vài trăm đô la sang đây cuỗm được những nàng trinh nữ mười tám đôi mươi đem về phục vụ, giáo sư đây phải trên cơ bọn chúng chứ…”

Nhà thơ nốc cạn ly rượu trong tay, mắt long lên đỏ ngầu, khích anh nhà báo gọi thêm chai X.O nữa, rồi quay sang vỗ vỗ vào vai ông, tiếp tục giọng lè nhè:

“À mà ông năm nay bao nhiêu rồi nhỉ, coi bộ ông chuộng tuýp lao động dân dã, tôi có cô cháu họ ở Nghệ An… Ơ này, ông làm sao thế…”

Vị giáo sư tiến sĩ lảo đảo bật dậy lao vào toa-lét. Toàn bộ thức ăn đồ uống trong bụng ộc mửa ra. Nước mắt ông giàn giụa. Trái tim họ đâu? Tình người họ đâu? Ông và nàng đến với nhau có gì là phi pháp, phi đạo đức? Những tư vấn ác mồm độc địa ấy, ông không cần. Ông thách mọi người. Ai có thể ngăn cấm tình cảm ông và nàng?

* * *

“Mà giả sử nàng là một Maria Mađalêna thì đã sao? Đừng bỏ cuộc. Đừng trì hoãn. Hãy đón nhận nàng. Hãy cứu vớt linh hồn người đàn bà đáng thương ấy. Chúa Giê-su đã chẳng tuyên bố những cô gái điếm sẽ vào Thiên Đàng trước kẻ khác sao?”

Bà bạn đạo Cơ đốc giáo ở Canada viết trong email cho ông. Bà nói rằng sau hơn chục năm làm cho một chương trình giúp các cô gái điếm xây dựng cuộc sống mới, bà khám phá rằng đây là những con người lương thiện có tình người hơn cả. Bà chúc mừng ông, bảo cuộc gặp gỡ của ông với người thiếu phụ biết đâu do ý Chúa.

Tự lâu rồi ông không còn tin Chúa. Nhưng ý kiến khích lệ của bà có ý nghĩa biết bao với ông lúc này. Ông phấn chấn hẳn, lòng bỗng chốc mở rộng ra ngời ngợi. Một vị anh hùng. Một bậc ân nhân. Sứ mệnh cao cả ông đang dũng cảm gánh vác. Cái đích của cuộc hành trình cả đời ông ngược xuôi mỏi mệt lết lê tìm kiếm. Ông xúc động giở lại tập thơ của thi hào Rumi ra đọc. Chỗ nào cũng thấy thấp thoáng những điều liên quan tới mình. Ông như đang tắm mình trong một trận mưa xuân, sau bao nhiêu hỗn độn giông bão. Đích thực đây là tình yêu. Thứ tình yêu thiêng liêng ông nghĩ những kẻ dung tục thấp tầm như anh chàng nhà báo, gã Việt kiều, và lão nhà thơ ấy còn lâu mới thấu hiểu. Tình yêu đến với ông hết sức tự nhiên, không có sự chuẩn bị. (Ông đâu có ý định đến Việt Nam để tìm nó!) Nó không công bố khoe khoang. Không đánh bóng. Nó hồn nhiên xộc xệch đến. Người đời phê phán, gièm pha, đàm tiếu, gọi nó đủ thứ tên, nào là không phù hợp, không bình đẳng. Nó cứ hiên ngang vượt qua mọi kỳ thị, mọi khác biệt, đánh đổ những ô dù đạo đức. Chẳng phải ông bỗng đâu tìm thấy con chim tình yêu từ bầu trời trong cơn giông đang chao liệng tìm nơi trú ẩn? Và chẳng phải ông đang tuân phục theo kết luận của Rumi sao?

Khi đại dương đến với bạn như một người yêu,
Hãy kết hôn ngay lập tức, nhanh lên,
Vì Thương đế!
Đừng trì hoãn!
Tồn tại chẳng có món quà nào hơn thế
Dù kiếm tìm cách mấy
Cũng chẳng thể nào có được
Một con chim ưng hoàn hảo, chẳng vì lý do gì,
đã đậu lên vai bạn,
và trở thành của bạn.

Giây phút này đây nàng đang trong vòng tay ông, ngước nhìn ông như vị cứu tinh. Con chim ẩm ướt yếu đuối run rẩy. Một nửa xương thịt ông, linh hồn ông. Nàng sẽ không rời ông, ông biết. Nàng gọi ông là ân nhân, là tặng vật Thượng Đế ban phát cho nàng.

Làm sao ông có thể giải bày cho mọi nguời hiểu?

Tất cả từ đôi mắt ấy. Ngay khoảnh khắc nó dọi vào ông, cái gì tựa như niềm hạnh phúc xen lẫn đớn đau dâng trào trong huyết quản ông. Ông cảm giác bị thôi miên, rơi vào cõi tiềm thức xa xăm nào.

Trong một quán nước vắng khách gần nhà ga. Bấy giờ gần trưa. Ông mới đáp tàu hỏa từ Hà Nội xuống. Ông nhớ rõ lúc nàng tiến đến chỗ ông với cái thùng nhựa đầy ắp đĩa CD khệ nệ cắp ngang hông. Chiếc nón lá che khuất mái tóc và khuôn mặt. Nàng lẳng lặng đặt cái thùng xuống cạnh chân ông, ngồi lục bới một lúc rồi ngước lên, nhoẻn miệng cười. Nàng chìa trước mặt ông một chiếc đĩa có hình ảnh lõa lồ của những cô gái tóc vàng với tựa đề tiếng Anh tục tĩu. Bàn tay kia đưa ba ngón lên, xong chụm vòng ngón tay cái và ngón trỏ lại thành con số zero. Ba chục ngàn đồng. Ông xua tay lắc đầu. Hơi thất vọng, nhưng nàng nhanh chóng lôi ra hai CD khác. Các cô gái khỏa thân Á Đông. Lần này gương mặt nàng đắc thắng như bắt trúng ý một ông khách Tây. Nàng giơ bốn ngón tay, thêm một dấu hiệu zero, ông hiểu mua hai đĩa thì bốn chục ngàn. “No! I say no!” ông buột miệng giận dữ. Nàng khựng lại, ngơ ngác nhìn ông. Chưa khi nào trong đời ông chạm phải ánh mắt lạ lùng ấy. Tự dưng ông ân hận muốn khóc vì câu nạt nộ của mình. Một chàng trai trông điệu bộ như là sinh viên nãy giờ uống cà phê một mình ở bàn bên cạnh đột nhiên lên tiếng: “Ông coi chừng bị lừa. Một đĩa có năm ngàn thôi. Đĩa lậu mà!” anh ta nói bằng tiếng Anh ngọng nghịu, chắp víu, rồi quay sang nàng. Hai bên đối đáp. Tất nhiên ông không hiểu gì. Anh ta bỗng cười bảo ông: “Bà ấy nói tưởng ông Tây nào đến Việt Nam cũng khoái mấy thứ đó. Để xin lỗi, bà muốn biếu ông một đĩa nhạc dân ca Bắc bộ làm kỷ niệm”. Ông bất ngờ chưa biết nói sao, thì nàng khoanh vòng ngón tay cái và ngón trỏ lại. Anh thanh niên vui vẻ giải thích: “Quà tặng. Không lấy tiền.”

Nàng đã bước vào đời ông như thế.

Ngay hôm ấy, ông hũy bỏ kế hoạch đi Đà Nẵng và Nha Trang rồi bay vào Nam thăm các giáo viên ông quen trong đợt dạy tình nguyện lần trước. Ông muốn dành trọn thời gian ngắn ngủi còn lại ở Việt Nam với nàng. Bất chấp cú điện thoại của cô sinh viên cũ với những lời cảnh báo, ông quyết định ở lại Hải Phòng tuần lễ cuối trước khi về lại Canada.

Cuốn tự điển bỏ túi có phần đàm thoại mà người bạn chuyên gia ngôn ngữ của ông đánh giá là thứ hàng kinh doanh thấp kém trí tuệ ngờ đâu cũng hữu ích trong cảnh ngộ của ông và nàng. Nàng hay đưa tay chỉ vào những câu làm tan chảy trái tim ông như I miss you, I couldn’t sleep last night, We’re great together, I’ll love you forever, I’ll take care of you for the rest of my life. Lúc nào không tìm ra câu có sẵn, ông và nàng lại dọ dẫm từng trang tìm kiếm những từ riêng lẻ lắp ráp lại. Có khi mất mấy phút mới trao đổi được một ý đơn giản. Nhưng có sao, sự bất tiện ấy không mảy may tác động đến tình cảm giữa hai người. Ngược lại, nó dường như khiến ông mê đắm nàng hơn. Ông tự nhủ: những điều sâu thẳm nhất của tâm hồn thường không cần thể hiện bằng lời. Tuy vậy, khi cảm xúc trào dâng, ông lại đọc thơ cho nàng nghe. Khi thì những vần thơ Rumi, khi thì những bài thơ ông viết vào những đêm không ngủ hoặc những lúc chờ nàng. Biết nàng không hiểu gì, ông vẫn say sưa đọc. Ông định bụng trước khi rời Việt Nam sẽ nhờ người chuyển ngữ cho nàng bài thơ ông viết về những ngón chân của nàng.

Trên căn gác thuê chật hẹp ảm nồng hơi khói từ gian bếp bên dưới, ông nhắm mắt nằm yên lắng nghe sự động chạm của cơ thể hai người. Những ngón chân nhỏ, ráp, sần sùi và lấm đất của nàng lần mò như những càng cua quặp vào bắp vế rồi lướt lên đùi ông, âu yếm ngắt véo ông một cách man dại. Những ngón chân tinh tế nồng nàn như thân thuộc da thịt ông từ kiếp nào, nhận biết nó, và mạnh bạo riết chặt lấy nó cho đến khi thân thể ông tan vào hư không. Những ngón chân ấy đã níu giữ được trái tim và linh hồn ông. Người mà nàng không chút dè dặt gọi là chồng.

Ông đọc gì nàng cũng lặng thinh nghe, mắt nhìn ông âu yếm nể phục, miệng cười khích lệ. Bên nàng ông cảm giác bình yên như thể không gì trên thế gian này hệ trọng hơn cái khoảnh khắc hai người đang bên nhau. Thân thể mảnh dẻ nhưng rực lửa của nàng chẳng do dự quấn lấy người ông. Cõi hoan lạc mới mẻ ông chưa từng tận hưởng trong đời. Ông thấy mình giống một cậu bé khờ khạo được nàng dẫn dìu, kiên nhẫn, tận tụy, chu đáo. Đôi khi giữa giây phút lịm say ân ái, ông bất thần hốt hoảng . Đây có phải là điều mình đang tìm kiếm? Cái mà đáng lẽ ông, một người tự coi như đã trưởng thành về mặt tâm linh, phải vượt cao hơn từ nhiều năm trước đây rồi. Ông lúng túng tự vấn rồi cố lờ đi. Dẫu sao nếm được vị ngọt của tình yêu, đối với người đàn ông tuổi này, vẫn là một thứ yến tiệc của thần linh. Ông xấu hổ tự nhận. Và ngay cả với sự hạn chế thể lực, ông vẫn có thể nhấp được một ly cực lạc, nhấm nháp nó một cách kiên nhẫn và gần như trọn vẹn, trong lúc nhận biết được khiếm khuyết của mình, tha thứ cho mình, mà không phải hổ thẹn hay ân hận, và tất cả diễn ra trong sự giao lưu với một phụ nữ nồng nhiệt giản đơn và dường như đầy cảm thông hiểu biết. Thú vị biết bao khi người ta có thể thưởng thức tình yêu trong sự giản đơn như thế. Không cần thử thách trí tuệ, không cần bất cứ điều gì cao siêu, phù phiếm, hay thừa thãi. Ông thường say sưa ngắm nhìn nét đẹp thôn dã toát ra từ gương mặt không trang điểm và mái tóc điểm bạc của nàng. Nàng mộc mạc, thẳng thắn, rộng mở, không e dè, không điệu bộ, và rất mực chăm chút, vâng phục ông. Không như bà vợ thạc sĩ trước đây sẵn sàng tranh luận tay đôi chẳng chút nể nang nhường nhịn. Bà nấu cơm là ông phải rửa chén, bà giặt quần áo là ông phải lau nhà. Đến bữa mạnh ai nấy ăn, ông ăn ít hay nhiều bà không quan tâm. Còn nàng, người đàn bà quê mùa, tẩn mẩn gỡ từng miếng xương cá, gắp thức ăn vào bát ép ông ăn, lo cho ông miếng ăn giấc ngủ. Nàng chẳng ham đi thăm đảo Cát Bà, vịnh Hạ Long, hay núi Sa Pa. Âm nhạc, phim ảnh, thể thao với nàng cũng là những thứ vô bổ tốn kém. Nàng chỉ muốn dành thời gian riêng tư với ông ở những nơi không bị ai dòm ngó, quấy rầy, hay xúc phạm. Ông định đưa nàng về nghỉ ở khách sạn nhưng nhân viên bảo vệ đòi phải có giấy kết hôn. Thế là mỗi lúc gặp nhau hai người chỉ quanh quẩn chuyện ăn trưa, uống trà, và mua sắm. Ông sung sướng được làm những việc cụ thể giúp cho cuộc sống nàng dễ dàng hơn. Ông sắm cho nàng chiếc xe đạp để nàng khỏi phải cắp chiếc thùng CD nặng bên hông, cái điện thoại cầm tay, cặp kính mát, cái đồng hồ, mấy bộ quần áo, lọ thuốc giảm đau. Toàn chuyện vặt, thế mà nàng luôn nhìn ông với ánh mắt hàm ơn.

Suốt tuần lễ có nàng, ông như được lột xác, hóa thân thành một con người khác, sống trong một thế giới khác. Mấy chục năm qua khi càng có tuổi ông càng trở nên hoang mang ngờ vực cuộc sống hiện tại của mình. Ông có tất cả những điều bao người đang tìm kiếm: danh vọng và phương tiện vật chất, nhưng lại đầy ắp nỗi lo âu và tự ám ảnh bởi một tâm trạng cô đơn, u uất, và trống rỗng. Mục đích và lẽ sống của ông trên thế gian là gì? Ông cứ hỏi. Ông thèm khát tình yêu, không phải thứ tình yêu xác thịt trần tục, mà một tình yêu theo nghĩa rộng lớn giữa con người với con người, giữa con người với vũ trụ. Ông hay nghĩ đến thằng con trai duy nhất sống trong cùng thành phố với ông. Cách độ nửa tiếng lái xe mà có khi mấy tháng liền không nghe tăm hơi nó. Ngay cả sinh nhật ông, hay Ngày của Cha, nó còn không buồn nhớ tới. Mỗi khi nó điện thoại ông biết không mượn tiền thì cũng nhờ trông cháu. Ông cũng hay nghĩ đến căn bệnh “bận rộn” của người Tây phương. Cũng như bao người chung quanh, cả đời ông lúc nào cũng tất bật. Toàn bộ thời gian sử dụng cho công việc, trở thành một con người “nghiện việc”, để thu thập công danh và của cải, trong lúc niềm tin vào một thực tế cao hơn của đời sống tinh thần và sự nối kết của bản thân mình với mạng lưới của cuộc sống thì bị nhạt nhòa đi. Rồi cũng như họ, khi đời sống và tất cả những gì gắn với nó được xem như một thứ để chiếm hữu và tiêu thụ không mang đến hạnh phúc và bình ổn thì lại khắc khoải đi tìm những lời khuyên, những giải đáp cho vấn đề tâm linh. Trên hành trình tìm kiếm sự an thân trong một thế giới đầy bất trắc, ông đã trải qua bao phương thức khác nhau, hướng về sự khôn ngoan thông thái của đông phương, nhưng cảm giác toàn vẹn, bằng lòng với đời sống thế nào đó vẫn né tránh ông. Ông không với tới được. Yoga, tọa thiền, thực hành asana, ăn chay, thậm chí hai năm gia nhập một thiền viện trong một khu rừng u tịch Ấn Độ sống khổ hạnh như một sannyasi, từ bỏ cuộc sống vật chất cùng với những hoạt động và ý nghĩ phàm tục. Tất cả vẫn không làm ông thoát khỏi trạng thái bối rối lo âu không thỏa mãn. Cho đến khi gặp nàng. Quả như một giấc mơ. Nàng đã mang lại cho ông sự tươi mới, sự hồi sinh, sự no đủ và trọn vẹn của cuộc sống. Ông cứ đinh ninh mình đã đến đích cuộc hành trình.

* * *

Ông rời khách sạn, lang thang trên đường phố. Một thứ tâm trạng vừa bất an vừa rỗng không mới tuần qua ông tưởng đã tan biến nay bỗng ùa trở lại. Ông không có ý định đi đâu làm gì sáng nay. Vài tiếng đồng hồ nữa ông sẽ về lại Canada. Những bước chân vô định đưa ông tới góc đường gần quầy bán trái cây nơi người thiếu phụ mỗi sáng đứng chờ. Ông thẫn thờ dừng lại. Cô gái bán hàng từ xa nở nụ cười, giơ tay vẫy chào ông. Không biết cô có ngạc nhiên thấy ông một mình. Ông nhớ khi cô chèo kéo ông mua nải chuối cau hay mấy quả hồng nàng hay chen vào mặc cả sợ ông bị lừa. Ông nhớ mỗi khi băng qua đường nàng hay mỉm cười đầy tự tin nắm tay ông luồn lách giữa những dòng xe. Cảm giác được nàng chở che bảo vệ đã làm ông ấm áp biết bao.

Một chiếc Suzuki hai thì nổ um khói từ bên kia đường băng sang tiến đến chỗ ông đứng rồi phanh lại. Hello mister. Chàng thanh niên trên chiếc xe vẫn để nổ máy nheo mắt gào lên với ông, kèm theo nụ cười kết thân: Boom boom. Okay. Fucking? Ông sượng trân lắc đầu. Beatiful girl. Ten dollars. Okay? Gương mặt khá ngầu với những vệt tóc hoe đỏ của chàng trai khiến ông hoảng sợ và bỗng thấy cần sự bảo vệ của nàng hơn bao giờ. Ông lắc đầu nhìn qua hướng khác. Người đàn ông trẻ cứ oang oang nài nỉ: Mister… Ten dollars. I help. Fucking boom boom. Girl beautiful number one… Anh ta nhì nhằng một tràng nữa nhưng ông không nghe ra. No. Thank you. Ông lịch sự đáp lại rồi hối hả lao về phía trước như chạy. Người thanh niên rà xe lẽo đẽo theo ông nằn nì một đoạn nữa rồi mới bỏ cuộc. “Tây ba-lô. Tây chíp”, anh ta gào vào mặt ông trước khi phóng đi cùng với tiếng rú điên cuồng của động cơ. Ông hoàn hồn dừng lại thở. Từ trong một hiệu cắt tóc-mát xa, ba cô gái đồng phục áo đầm trắng túa ra vây lấy ông. Cô nào cô nấy nhìn non nớt như nữ sinh trung học, trang điểm kỹ lưỡng, ngực đùi phô ra. Good morning, sir. You want massage? Một cô hỏi bằng tiếng Anh. Thưa không. Xin cảm ơn. Ông đáp lại bằng tiếng Việt. Các cô bất ngờ nhưng thích thú cười vang. Tiếp theo là một loạt câu hỏi như thực tập tiếng Anh với một người nước ngoài mà ông nghe nhẵn từ khi đến Việt Nam: “What’s your name?”,Where are you from?”, “How old are you?”, “Do you like Vietnam?” “Ông muốn massage không?” Một cô ưỡn ẹo đến sát bên ông lặp lại câu hỏi. “Ông hãy thử đi. Dịch vụ đặc biệt từ A đến Z. Bảo đảm ông sẽ mê.” Cô nói tiếng Anh điệu đà, mắt môi tình tứ với ông. Ông lại lắc đầu. “Vậy thì ông tìm gì?” Cô cau mày làm điệu, giọng không giấu vẻ thất vọng.

Vậy thì ông tìm gì? Trên đường về lại khách sạn, ông cũng tự hỏi. Nhất định cái ông tìm không phải là một sự chà xát, đấm bóp cơ thể, mà là sự can đảm và sự bình yên trong tâm hồn. Nó đang ở đâu? Chẳng phải ông đã tìm thấy nó suốt tuần qua? Trên mảnh đất này. Từ nơi người thiếu phụ. Lần cuối cùng ông còn nhìn thấy nó là khi ông đuổi bắt và vật lộn với nó ở tiệm kim hoàn chiều hôm qua nơi nàng hẹn gặp ông. Nàng xuất hiện cùng với một cô thông dịch viên làm cho một dịch vụ tư nhân lo hồ sơ xuất cảnh. Nàng muốn truyền đạt những điều cần thiết với ông trước khi ông trở về Canada. Đầu tiên là chuyện chiếc nhẫn. Vật giao ước. Truyền thống của người Việt chúng tôi. Lẽ ra ông phải mua cho bà ấy trước khi hai người ăn ở với nhau. Không có nhẫn làm sao bà ấy ăn nói với mọi người? “Đúng là đồ dại, đến tuổi ấy còn bị lão gà Tây bịp, giờ nó biến về nước, hòa cả làng,” Người ta sẽ chế nhạo bà. Chiếc nhẫn làm bằng chứng cho tư cách của ông, cho tình yêu chân thành của ông, để bảo toàn danh dự cho bà ấy. Thế thôi, bà không cần gì nữa. Cô thông ngôn giải thích với ông ngay trước cửa tiệm vàng. Thứ đến là việc bảo lãnh. Vì quá yêu ông, phần sợ ông không chấp nhận, phần không biết tiếng, nên bà ấy đã không giải thích rõ hết hoàn cảnh của mình. Sự thật là bà có hai con gái đang ở với bà ngoại ở Thanh Hóa, đứa 15, đứa 13. Bà muốn ông ghép chúng vào luôn hồ sơ để đi cùng với bà. Đây là tên tuổi, ngày tháng năm sinh chúng nó. Còn một việc nữa cũng có chút rắc rối nhưng không sao, với tình yêu cao thượng và sự rộng lượng của ông, có thể vượt qua được. Người chồng tuy đã bỏ mẹ con bà hơn chục năm nay, nhưng không chịu ký giấy ly dị nếu không được trả hai ngàn đô la. Khốn nạn! Hắn biết bà lấy chồng Tây nên gây khó. Cô thông ngôn nói giọng đầy cảm thông trong lúc nàng đứng bên cạnh chặm nước mắt. Bà nói bà ước có thể trốn đi nơi nào khác vì ở đây ai cũng biết chuyện bà quan hệ với ông, giờ ông về nước, người ta mặc sức giễu bà. Bà sợ rằng sẽ đau ốm và chết vì mỏi mòn thương nhớ, chờ đợi ngày gặp lại ông. Ông là niềm hy vọng cuối cùng của cuộc đời bà. Cuối cùng, tôi nhắc ông từ nay mỗi tháng phải gửi một số tiên cấp dưỡng về cho bà và hai đứa nhỏ để thuận lợi cho việc xét duyệt hồ sơ. Ông đừng lo, tôi có người bạn thân làm ở Đại sứ quán, đường dây an toàn, tốt lắm.

Sự can đảm và sự yên ổn trong tâm hồn ông chợt biến dạng.

Có phải nó biến đi vào khoảnh khắc nàng bắt đầu mê mải săm soi hàng loạt món trang sức bên cạnh chiếc nhẫn đính hạt kim cương nàng yêu cầu trước đó? Ông bàng hoàng nhìn thấy nét đam mê ngời ngợi tỏa ra trong đôi mắt thường ủ rủ cam chịu của nàng. Đôi hoa tai này, bố Canada tặng cho con bé Tơ. Cái lắc này, bố Canada tặng cho con bé Lụa, chắc vừa tay nó. Sợi dây chuyền có mặt Phật Bà Quan Âm thì cho bà ngoại, quà của ông rể Tây biếu cho cụ. Đôi hoa tai kiểu Hàn Quốc đang thời trang, sang lắm. Bà đeo thử coi. Sợi dây chuyền cùng bộ này nữa. Thế! Ai lại chồng giáo sư tiến sĩ ngoại quốc mà trên người trống trơn không một phân vàng. Cô thông dịch viên tíu tít giúp nàng chọn lựa nữ trang cùng lúc không quên làm nhiệm vụ phiên dịch cho ông. Tiếng điện thoại reng trong túi xách cô. Cô bắt máy, trả lời ngắn gọn, rồi nhìn ông, mỉm cười kiểu cách: Thành thật xin lỗi ông, tôi có một khách hàng nữa đang chờ. Tiền lệ phí cho dịch vụ thông dịch hôm nay là 100 đô Mỹ. Nhưng ông có thể trả bằng tiền Canada. Tôi chịu thiệt chút cũng không sao. Sau này còn gặp bà nhà điền giúp giấy tờ. Vừa lúc, người chủ tiệm kim hoàn đặt vào tay ông miếng giấy liệt kê giá thành các món nữ trang nàng chọn mua. Những con số như đang hé cười trước gương mặt thộn ra của ông. Ông mất cả trí cả hồn khi nàng vẫy tay tạm biệt ông. Đôi mắt ngấn lệ nhưng rạng ngời hy vọng và hạnh phúc. Mãi đến lúc đó ông mới nhận ra ông và nàng hai sinh linh từ hai nửa bán cầu đến với nhau, thu hút nhau vì những lý do thật khác biệt. Cô thông dịch viên cho ông biết nàng sẽ đáp tàu về quê đêm nay để thăm gia đình và ở lại làm hộ chiếu. Cô còn nồng nhiệt bắt tay chúc ông một cuộc hành trình về lại Canada tốt đẹp, và mong gặp lại ông ở Việt Nam sớm. Tối đó, ông thanh toán tiền khách sạn. Mắt ông lại chao đảo. Có cả khoản chi phí hai chai rượu XO, bao thuốc Dunhill, và mấy đĩa hải sản ba vị khách hào phóng gọi trong phòng ông đêm nào. Ông không khỏi hồi tưởng lại bữa ở Hà Nội, gã tài xế tắc xi xuất hiện làm quen khi ông từ quầy thu đổi ngoại tệ bước ra. Trên đường chở ông đi thăm lăng Hồ Chí Minh, thế quái nào hắn tài tình nẫng trọn số tiền hơn chục triệu ông đã bỏ vào túi xách tay và gài dây kéo hẳn hoi. Ông cảm giác mình đang bị mọi người nhấm nháp đến tơi tả, xương thịt nát nhừ đi.

Nó đang ở đâu? Sự can đảm và sự bình yên trong tâm hồn? Ông ngỡ đã tìm thấy nhưng rồi lại để lạc nó nơi nào. Có thể nào nó lẫn trong chiếc mũ, cặp kính, hay chùm chìa khóa phòng khách sạn của ông? Ông đã viết trong bài thơ đêm qua, và khóc rưng rức.

“Hello, hello, good morning!” Ông giật mình. Một đám trẻ con đang chơi đá banh bên đường réo lên với ông. Ông nhớ ra hôm nay chủ nhật chúng không đến trường. Ông cũng chào “hello” và vẫy tay lại. Những ánh mắt ngây thơ đổ xô quan sát ông, tò mò nhưng thân thiện. Một cậu bé dạn dĩ nắm lấy tay ông líu lo gì đó bằng tiếng Việt. Rồi cả bọn xông tới tranh nhau níu tay ông, sờ áo ông, như thể ông mới đến từ hành tinh nào. Chúng cứ hò reo mỗi từ “hello good morning” rồi cười khúc khích khi nghe ông đáp lại. Chúng hồn nhiên đón nhận ông. Ông nhìn khuôn mặt tròn rám nâu của thằng bé đang trì kéo tay ông. Có lẽ nó bằng tuổi thằng cháu nội ông ở Canada. Tâm trạng sợ hãi, căng thẳng, và trống rỗng bất chợt tan biến. Trong một thoáng, ông tưởng ông đã tình cờ nhìn thấy cái ông để mất, lúc không có ý định kiếm tìm.
 

Mexico, tháng tư 2010

 

 

 

.

bài đã đăng của McAmmond Nguyen Thi Tu


1 bình luận »

  • Lucas Tran viết:

    Một câu chuyện thật mượt mà, tình tứ, và duyên dáng, nhưng cũng rất đắng cay phũ phàng. Nhiều chỗ có tính khái quát cao. Thảng hoạc, ta bắt gặp những nét dí dỏm trào lộng vốn dĩ của dân Bắc kỳ nhưng cũng không che khuất được những nỗi buồn của đói nghèo, những lố bịch của thời cuộc, những nhố nhăng của trưởng giả.
    Thật mắc cỡ cho các anh nhà báo, nhà thơ, nhà “Việt kiều” đi đâu, ở đâu cũng thấy mùi ruợu, bia, thuốc lá, và gái. Tội nghiệp cho ông GS TS, thành thực ông không thể nào hiểu được phụ nữ Việtnam.

    Riêng câu “dân Thanh hóa, ăn rau má, phá đường tàu” đã có từ rất lâu, dùng để ám chỉ rằng ở Thanh hóa rất đói, thiếu gạo, nên phải đào rau má về ăn thay cơm. Ngày ngày, người người, nhà nhà thi nhau đi đào rau má, đào đến mức không tìm đâu ra rau má nữa, nên đành phải phá tung cả đường xe lửa Bắc – Nam để tìm rau má.
    Đến khoảng thập kỷ 80s, một bài thơ dựa trên cảm hứng “ăn rau phá phá đường tàu” ra đời:
    “Khu Bốn đẩy ra, khu Ba đẩy vào
    Lên liên kết với Lào, thì Lào không nhận
    Về nhà tức giận, thành lập liên bang
    Lấy lá khoai lang là lá Quốc kỳ
    Câu hò sông Mã là biểu tượng Quốc ca
    Nền nông nghiệp hóa là đào rau má
    Nền công nghiệp hóa, là phá đường tàu”

    Nếu bạn gặp một người Thanh hóa, đừng có dại mà đọc bài thơ này, kẻo lỡ một cục gạch không trúng đầu, thì cũng trúng tai.
    Lucas Tran

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)