Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 04 Email bài này

Nhìn qua một số nền văn học da màu ở Hoa Kỳ: Văn chương di dân Á Rập

Văn chương di dân Á Rập: chênh vênh giữa hai thế giới

So với các sắc dân thiểu số khác, cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập là một cộng đồng tương đối nhỏ ở Hoa Kỳ, khoảng chừng một triệu hai trăm ngàn, theo thống kê dân số mới nhất vào năm 2000. Nhưng theo nhận định của một số người thì con số đó phải lên đến hai triệu vì có rất nhiều người Á Rập thuộc các thế hệ di dân thứ hai không nhận mình có gốc Á Rập. Đợt di dân đầu tiên diễn ra khoảng đầu thế kỷ 20, hầu hết là những người Li Băng( Lebanon) chạy trốn cơn hỗn loạn chính trị vì tranh chấp phe phái. Sau đó là đợt di dân vì nghèo đói và tan nát sau thế chiến I. Phần đông dân Á Rập định cư ở Boston và New York. Về sau, họ tỏa ra khắp nơi và hiện nay có những cộng đồng Á Rập ở Detroit, Los Angeles và Chicago.

Một trong những tác phẩm đầu tiên của kinh nghiệm di dân Á Rập là một truyện dài có tựa đề The Book of Khalid (1911) của Ameen Rihani. Tuy thế, trong lịch sử gần cả thế kỷ di dân, tác phẩm văn xuôi không nhiều. Đa phần là thơ. Vì theo truyền thống, thơ ca là hình thức văn chương chính của Á Rập. Các nhà thơ có xu hướng trở về loại thơ truyền khẩu trước thời kỳ Hồi giáo gọi là quasida hay “tụng thi” (ode), mỗi giòng chấm dứt cùng một âm. Trong các bộ tộc du mục, người ta thường học thuộc lòng các bài thơ và diễn đọc trong những buổi sinh hoạt tập thể. Đề tài chính thường là than khóc cho những vùng đất sa mạc mà họ bỏ lại đàng sau, sau một thời gian dài canh tác. Các đề tài đó hồi sinh khi những nhà thơ nhớ lại quê hương mà họ bị buộc phải bỏ đi. Gregory Orfalea cho biết “Đối với những người Á Rập, thơ là sức mạnh của cảm hứng và nghi lễ, không phải là một cái gì cần phải dấu giếm như trong thế giới hàn lâm. Trong gia đình, một nhà thơ là dấu hiệu của thành tích”. Orfalea là nhà thơ và nhà phê bình nổi tiếng người Syria – Li Băng, tác giả của Grape Leaves: A Century of Arab-American Poetry. Đó là một tác phẩm nghiên cứu công phu về thơ của hai mươi nhà thơ hàng đầu người Mỹ gốc Á Rập, như Kahlil Gibran, Ameen Rihani, Jamil Holway, D.H. Melhem, Samuel Hazo, Naomi Shihab Nye, Elmaz Abinader, vân vân.

Cây bút Mỹ gốc Á Rập nổi tiếng nhất là Kahlil Gibran. Gibran tài hoa, vừa là nhà thơ vừa là triết gia vừa là họa sĩ, sinh năm 1883 ở Bsharri trong vùng núi Li Băng, nơi sản sinh rất nhiều nhà tiên tri Á Rập. Năm 1895, ông theo gia đình sang định cư ở Boston. Năm 1912, ông dời lên New York và cư ngụ ở đó cho đến khi mất, năm 1931. Những tác phẩm đầu, ông làm thơ bằng tiếng Á Rập. Đến năm 1918, ông bắt đầu làm thơ bằng tiếng Anh mà tác phẩm đầu tiên là The Madman: His Parables and Poems, một tập thơ. Từ đó, tất cả tác phẩm về sau đều bằng tiếng Anh. Năm 1923, tập thơ The Prophet gồm hai mươi tám bài thơ có tính cách huyền bí ra đời, đánh dấu đỉnh cao của tài năng Gibran. Đó một trong những tác phẩm văn chương bán chạy mọi thời của nhà xuất bản Alfred A. Knopf. Giáo sư Suheil Bushrui nhận định: “Những tác phẩm viết bằng Anh Văn của ông tiêu biểu cho cái gì tốt đẹp nhất của hai thế giới, là một tổng hợp hài hòa tuyệt vời giữa Đông và Tây. Nhất là đối với Prophet, tác phẩm bán chạy nhất thế kỷ ở Hoa Kỳ sau Thánh Kinh” . Hãy đọc thử vài câu trích từ bài “Joy and Sorrow”:


    Some of you say, “Joy is greater than sorrow,”
    and others say, “Nay, sorrow is the greater.”
    But I say unto you, they are inseparable.
    Together they come, and when one sits alone with you at your board,
    remember that the other is asleep upon your bed.

    Kahlil Gibran, Joy and Sorrow, Prophet

Năm 1920, Gibran sáng lập nên tổ chức Pen League quy tụ một số nhà thơ Á Rập khác nhằm làm sống lại thơ Á Rập, bằng cách dịch chúng sang thơ có vần, thơ tự do và thơ xuôi. Ngày nay, các nhà văn, nhà thơ Á Rập khá nhiều. Tổ chức RAWI (The Radius of Arab-American Writers) gồm một trăm năm mươi nhà văn, nhà thơ từ hai mươi hai quốc gia Á Rập đến định cư. Về tôn giáo, hầu hết trong số họ đều là người theo Thiên Chúa Giáo, nhưng hiện nay số người Hồi Giáo đang càng ngày càng gia tăng. Đề tài chính trong các tác phẩm thường là xung đột văn hóa và gia đình.

Theo Orfalea, “Có lẽ trở lại những ngày tháng họ còn sống trong những mái lều giữa sa mạc. Gia đình họ là tất cả cái mà họ có để nương tựa. Chẳng có một bóng cây nào để núp. Nhưng khi họ đến Mỹ rồi thì gia đình bắt đầu lung lay”. Người ta tìm thấy nỗi cô đơn xuyên suốt qua các bài thơ :


    – Beirut, once beautiful Beirut,
    Bloodied by Christian, Jew and Druze
    Weeps like a wound just under the world’s heart.
    (Joseph Awad/Lebanese)

    – Leaving a world too old to name
    and too undying to forsake,
    I flew the cold, expensive sea
    toward Columbus’ mistake
    where life could never be the same.
    (Samuel Hazo/ Syrian-Lebanese)

Ký ức về cái đói và cảm giác thiếu ăn, thèm ăn là nỗi ám ảnh không rời từ những ngày tháng cũ:


    Not one word
    of Arabic. Only my spoon
    tapping my plate.
    And the hot food poured into me
    a bonfire of recollections.

    (D. H. Melhem/Syrian-Lebanese-Greek)

Mặc cảm về màu da cũng là đề tài nổi bật:

    Sand nigger,’ I’m called,
    and the name fits: I am
    the light-skinned nigger
    with black eyes and the look
    difficult to figure.

    (Lawrence Joseph/Lebanese)

Giống như những cộng đồng dân thiểu số khác, những người Mỹ gốc Á Rập cảm thấy họ như bị chia đôi, bị xé lẻ giữa truyền thống của cha mẹ (Arabness) và nền văn hóa mới (Americanness). Trong xã hội Hoa Kỳ phân chia trắng-đen, những người Á Rập thường thấy mình thuộc về phía da đen hay ít ra cũng là thuộc về loại hỗn chủng. Tuy thế, một số cây bút Á Rập tránh đề cập thẳng đến chủ đề Á rập. Orfalea gọi họ là những “shadow writers” (những nhà văn bóng). Chẳng hạn như Vance Bourjaily, nguyên chủ tịch “Iowa Writers Worshop”. Nhà văn này hiếm khi viết rõ về Á Rập, mặc dầu trong Confessions of a Spent Youth, một tự truyện, ông đề cập đến tính cách lưỡng cực (doubleness) mà những di dân đều cảm thấy. Nhà văn nữ Mona Simpson, người Syria, viết về thế giới Á Rập một cách gián tiếp như trong các truyện Anywhere but Here và The Lost Father, người cha của nhân vật chính là gốc Á Rập.

Trong số những người viết mới, nữ chiếm đa số. Họ táo bạo hơn và cởi mở hơn khi thách đố với nguyên trạng vì trong truyền thống gia đình Á Rập, họ là giai cấp hạng hai. Hầu hết những cây bút nam giới, như Edward Said, nhà nghiên cứu văn học nổi tiếng thế giới, chỉ ưa nói về chính trị. “Họ rời xa văn chương”, Elie Chalala, chủ biên tạp chí Á Rập Al-Jadid xuất bản ở Los Angeles nhận xét. Một trong những cây viết nổi tiếng nữa của cộng đồng di dân Á Rập là nhà thơ Suheir Hammad. Hammad sinh ra trong một trại tị nạn Palestine ở Amman, Jordan năm 1974. Cô lớn lên giữa những người láng giềng nói tiếng Tây Ban Nha trong giai đoạn đăng quang của nhạc “rap”. Cha mẹ cô là những tín đồ Hồi Giáo thuần thành. Một người anh gia nhập hải quân Hoa Kỳ, một người em là sinh viên đại học. Cô đứng về phía người Mỹ da đen. Hai tác phẩm đầu Born Palestine, Born Black và Drops of this Story do một nhà xuất bản đầu tiên của người da đen “Harlem River Press” xuất bản. Cô cho biết cảm hứng thơ của cô xuất phát từ kinh Coran. Cô trở thành nhà thơ là vì “Có cha mẹ nói về cách sống ở đời bằng âm nhạc của ngôn ngữ. Làm thơ là một cách diễn đạt chính mình sao cho cùng gần gũi với sự sáng tạo nguyên thủy. Với tôi, tính sáng tạo là phản ảnh của một quyền lực cao hơn”.
Hammad được giới văn nghệ New York biết đến nhờ một bài thơ mà cô chuyền đọc sau ngày 11/9:


    Please god, let it be a nightmare, wake me now.
    please god, after the second plane, please, don’t let it be
    anyone
    who looks like my brothers.

Những giòng thơ đó nói lên tâm trạng cực kỳ bi thiết và đặc thù mà chỉ những người gốc Á Rập mới kinh qua sau biến cố 11/9. Đó là cảm giác tội lỗi đi đôi với sợ hãi. Vào tháng 3/2003, cô được mời tham dự một buổi đọc thơ trên sân khấu rạp “Longacre Theatre” ở “Russell Simmons Def Poetry Jam on Broadway”, New York. Mặc dầu trong khung cảnh của nhạc hiện đại hip-hop (nhạc rap), cô ăn mặc chiếc áo choàng để tỏ lòng kính trọng truyền thống Hồi Giáo. Hammad là một trong số càng ngày càng nhiều những nhà văn, nhà thơ Mỹ gốc Á Rập gia nhập vào trào lưu về nguồn của những người Mỹ gốc thiểu số vài thập niên qua. Xuất thân từ thế giới Á Rập, nhu cầu đó bây giờ càng khẩn cấp hơn sau cuộc khủng bố 11/9 trong lúc cuộc tranh chấp vẫn còn tiếp diễn giữa Do Thái và Palestine, cuộc chiến tranh với Iraq đang tiếp diễn và dấu hiệu càng ngày càng lan rộng của quần chúng Mỹ xem những người Mỹ gốc Á Rập là khủng bố. Bà Amira El-Zein, giáo sư phụ tá về văn hóa Á Rập tại đại học Tufts – và là người chủ trì cuộc hội thảo “Arab-American Writing Post-11/9” bà về chuyện sáng tác của cộng đồng Á Rập ở Hoa Kỳ vào tháng 4/2004 – chua chát nhận xét: “Mặc dầu nền văn minh Á Rập là một trong những nền văn minh cổ xưa nhất của nhân loại, nó vẫn bị người ta làm ngơ và hiểu lầm trong nhiều phần của nước Mỹ. Mấy triệu người Mỹ gốc Á Rập hiện sống ở Hoa Kỳ, kể từ ngày 11/9 là mục tiêu của ngành truyền thông Hoa Kỳ và thường bị quỷ hóa và xuyên tạc” . Nhà thơ Naomi Shihab Nye nói: “Giữa những người Mỹ gốc Á Rập, có một cảm giác thực sự về một nhu cầu cân bằng, do biến cố 11/9 và sự quỷ hóa những người ở phần đất đó (các nước Á Rập) của thế giới”. Tất cả những giòng headline xấu xa trên báo chí và ngành truyền thông Mỹ về những người Á Rập là “những đoản khúc rất buồn của câu chuyện thực”. “Chúng tôi cảm thấy một nhu cầu lớn hơn 20 năm trước đây cần sáng tạo ra những câu chuyện có tính chất văn hóa tích cực, sức mạnh và mối liên kết”, cô phát biểu.

Tác giả nổi tiếng nhất của cộng đồng di dân Á Rập là một nhà văn nữ, Diana Abu-Jaber . Chào đời năm 1959 tại Syracuse, New York, bà là người con đa chủng. Cha là một người lai Palestine-Jordan và mẹ là một người lai Ái Nhĩ Lan-Đức. Lúc lên bảy, gia đình bà chuyển về ở Jordan hai năm và thời gian sau đó, bà sống giữa Hoa Kỳ và Jordan. Bà đậu tiến sĩ về sáng tác tại đại học SUNY Binghamton năm 1986. Bà dạy tại đại học Oregon và UCLA và hiện nay là là Nhà Văn Tạm Trú (Write-in-Residence) tại đại học tiểu bang Portland (Portland State University) nơi bà dạy về Sáng Tác, Phong Trào Nữ Quyền (Feminist Voices), Văn Chương Trung Đông và Văn Chương Hậu Thuộc Địa (Postcolonial Literatures). Đề tài chủ yếu của bà trong các sáng tác là sự xung đột về căn cước văn hóa của những đứa con của các gia đình di dân. Một đề tài khác là thực phẩm, theo đó, thực phẩm đóng vai trò như là một phương cách duy trì văn hóa. Bà muốn dùng các món ăn đa dạng Á Rập để kể về câu chuyện gia đình bà qua một hồi ký. Điều này rất phù hợp với một phụ nữ lớn lên trong một gia đình bị ám ảnh bởi chuyện ăn uống và thỉnh thoảng làm việc như một chuyên viên về thực phẩm.

Bà đã xuất bản ba tác phẩm. Tác phẩm đầu tiên có tựa đề Arabian Jazz, xuất bản vào năm 1993, nhận được sự khen ngợi từ giới phê bình của giòng truyền thông chính ở Hoa Kỳ. Lấy bối cảnh từ New York, nơi mà tác giả trưởng thành, truyện đưa ra một cái nhìn giễu cợt đối với một gia đình Á Rập thuộc thế hệ đầu tiên đến định cư ở Mỹ, làm nổi bật lên sự xung đột giữa xu hướng Mỹ-hóa, ham chuộng đời sống cá nhân và thái độ bảo thủ muốn duy trì trọn vẹn truyền thống lâu đời của quê hương cũ. Cuộc sống của các nhân vật cho thấy rõ nét về sự vong thân tri thức, tình trạng vô gia cư về mặt tâm linh (spiritual homelessness) và những nhọc nhằn trong khi tìm cách thích nghi với xã hội mới. Đây là tiểu thuyết đầu tiên của một người Mỹ gốc Á Rập được phổ biến rộng rãi trong công chúng thưởng ngoạn Hoa Kỳ. Tác phẩm nhận được giải “Oregon Book Award” và sau đó được lọt vào vòng chung kết giải văn bút quốc gia PEN/Hemingway. Nhiều bài điểm sách khá thiện cảm dành cho tác phẩm xuất hiện trên một số báo lớn như “Washington Report on Middle East Affairs”, “Los Angeles Times” và “New York Times”. Nhận xét chung là tác phẩm đã giúp soi sáng thêm về nền văn hóa Á Rập.

Tác phẩm thứ hai, Memories of Birth, không có được thuận lợi như tác phẩm đầu. Lý do là vì nhân vật chính là một di dân người Palestine tranh đấu để phục hồi ký ức đã bị mất kể từ khi có cuộc chiến tranh Do Thái – Á Rập năm 1948. Abu-Jaber đã tranh đấu rất tích cực để mong đưa tác phẩm đến với công chúng nhưng chẳng có nhà xuất bản nào chịu. Tác phẩm, rốt cuộc, chỉ được xuất hiện trên báo qua từng trích đoạn.

Tác phẩm mới nhất, Crescent (có nghĩa là Hồi Giáo), kể lại truyện tình giữa Sirine, một phụ nữ Mỹ gốc Iraq ba mươi tám tuổi cư ngụ ở Los Angeles và Hanif Al Eyad, giáo sư văn chương Á Rập. Hanif là một người Iraq lưu vong luôn luôn bị ám ảnh bởi quá khứ. Còn Sirine là con lai của một người di dân Iraq và một phụ nữ Mỹ, được nuôi dưỡng bởi một người chú và lớn lên bằng những câu chuyện dân gian Á Rập pha trộn với một chút lịch sử, do đó, gợi lại không khí trong chuyện “Ngàn lẻ một đêm” của xứ Á Rập huyền bí. Crescent gặt hái thành công lớn. Nhà xuất bản Hoa Kỳ Norton đã mua bản quyền tác phẩm đồng thời họ mua luôn bản quyền tác phẩm đầu, Arabian Jazz. Cả hai tác phẩm được phát hành cùng lúc vào tháng 4/2003. Bản quyền dịch thuật cũng đã được bản cho các nhà xuất bản ở Ý, Thụy Điển, Hòa Lan và Anh.

Điều mỉa mai là các tác phẩm của bà không được đón tiếp nồng nhiệt trong cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập. Không những thế, chúng còn gây ra phản ứng giận dữ vì họ cảm thấy bị xúc phạm, nhất là đối với Crescent, vì tính cách chế giễu và phê phán của nó đối với người di dân. Ngược lại, Elie Chalala, chủ bút tạp chí Al Jadid – một tập san chuyên nghiên cứu nghệ thuật và văn hóa Á Rập – xuất bản ở Los Angeles, diễn tả Abu-Jaber là “một tiếng nói phê phán rất quan trọng”. Ông ghi nhận rằng bà ca ngợi di sản văn hóa Á Rập một cách kín đáo, không cần phải hoa hòe hoa sói quá đáng. “Bà đại diện cho một thế hệ mới của những cây bút Mỹ gốc Á Rập thành công trong khi chuyển đề tài vượt qua loại tác phẩm đầy thiên kiến chính trị của những nhà văn lớp trước…để đối diện với những vấn đề xã hội trong cộng đồng người Mỹ gốc Á Rập”, ông nói.

Tài liệu tham khảo:

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch