Trang chính » Biên Khảo, Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 01, Nhận Định Email bài này

Nhìn qua một số nền văn học da màu ở Hoa Kỳ: Văn chương di dân Trung Hoa

Ha Jin, một nhà văn di dân ngoại hạng

 

Số lượng nhà văn nhà thơ Mỹ gốc Á viết bằng tiếng Anh khá nhiều. Đông đảo nhất là Mỹ gốc Nhật, có đến mười mấy nhà văn, nhà thơ và nhà biên khảo (Ai, Garrett Kaoru Hongo, Sadakichi Hartmann, Toshio Mori, Joy Kogawa), kế đó là Trung Quốc, trên mười người (Diana Chang, Evelina Chao, Marilyn Chin, Gish Jen, Alexander Kuo, Li-Young Lee, Amy Tan, Ha Jin), Triều Tiên (Chang-rae Lee, Younghill Kang…), Phi Luật Tân (Carlos Bulosan, Jessica Hagedorn, Tarahata, Bienvenido Santos, Jose Garcia Villa…), Thái Lan (Somtow Sucharitkul), Ấn Độ (Bharati Mukherjee), Việt Nam (Đinh Linh, Barbara Tran, Monique T. D. Truong, Luu Truong Khoi, Uyen Nicole Duong tức Dương Như Nguyện). Trong số đó, hầu hết đều viết Anh văn là ngôn ngữ chính. Tác phẩm của họ không chỉ lưu hành trong cộng đồng sắc dân riêng của mình mà được phổ biến rộng rãi trong công chúng Mỹ. Tác phẩm The Joy Luck Club (1989) của Amy Tan, chẳng hạn, nằm trên danh sách bestseller của tờ New York Times suốt tám tháng liền, bán ra hàng trăm ngàn ấn bản, được đóng thành phim và dịch ra mười bảy thứ tiếng.

 

Nhưng có lẽ Ha Jin là trường hợp đặc thù nhất trong số những nhà văn Mỹ gốc Á Châu.

 

Giới phê bình văn học Hoa Kỳ nói chung, khi nhận xét về nhà văn/nhà thơ Ha Jin, đều ca ngợi ông là người mở ra một chương mới trong tiểu thuyết viết bằng Anh ngữ dành cho độc giả phương Tây. Jim Grimsley, giám khảo giải văn chương PEN/Hemingway năm 1997 phát biểu: "Ha Jin sáng tạo ra một loại văn chương hoàn toàn mới mà chỉ có ông mới viết được vì ông đã từng sống ở đó (Hoa Lục). Ông nói tiếng Trung Hoa…nhưng lại viết văn bằng Anh ngữ về những kinh nghiệm sống trực tiếp của mình"[1] . Còn Frank Manley, trưởng khoa viết văn trường đại học Emory, thì "Tôi xem Ha Jin không chỉ là một trong những nhà văn trẻ Hoa Kỳ quan trọng nhất mà còn là một trong những nhà văn hiếm hoi nhất. Ông là thiên tài thực sự duy nhất mà tôi từng biết …"[2]

 

Ha Jin tập tễnh sáng tác bằng Anh văn vào năm 1988. Tác phẩm đầu tay là một tập thơ có tựa đề Between Silences do " University of Chicago Press" xuất bản năm 1990. Tác phẩm mới nhất là War Trash phát hành tháng 10/2004. Trong vòng chưa tới mười lăm năm, ông xuất bản mười tác phẩm, tất cả đều được viết trực tiếp bằng Anh Văn:

 

– Ba tập thơ: Between Silences, Facing Shadows và Wreckage.

– Ba tập truyện ngắn: Ocean of Words, Under the Red Flag và The Bridegroom

– Bốn truyện dài: In the Pond, Waiting, The Crazed và War Trash

 

Trong số mười tác phẩm nói trên, có bốn tác phẩm đoạt các giải văn chương Hoa Kỳ. Tập truyện ngắn đầu tay Ocean of Words đoạt giải văn bút PEN/Hemingway năm 1996. Tập truyện ngắn thứ hai Under the Red Flag đoạt giải "Flannery O’Connor Award for Fiction" năm 1997. Riêng truyện dài Waiting đoạt hai giải: giải "National Book Award" năm 1999 và giải "PEN/Faulkner Award for Fiction" năm 2000. Và mới nhất, War Trash đoạt giải “PEN/Faulkner Award” 2005. War Trash được chọn trong số hơn ba trăm truyện dài và tuyển tập truyện ngắn được xuất bản trong năm 2004. Giám khảo giải David Anthony Durham ca ngợi: “Tôi không ngần ngại cho rằng War Trash không chỉ là là một tác phẩm lớn mà còn là một tác phẩm thắng giải thuộc hạng cao nhất”.

 

Cũng cần lưu ý, những giải trên không phải là giải dành cho các tác phẩm nước ngoài dịch ra Anh Văn mà là dành cho những nhà văn Hoa Kỳ chính cống. Để đoạt những giải như thế, Ha Jin phải đánh bại hàng bao nhiêu nhà văn trứ danh khác của Hoa Kỳ. Riêng về giải "National Book Award" là giải văn chương hàng đầu của Hoa Kỳ (tương tự như giải Booker của Anh), trong lịch sử 50 năm của giải, Ha Jin là người thứ ba mà Anh văn không phải là tiếng mẹ đẻ, đoạt giải. Hai tác giả kia là Isaac Bashevis Singer[3] và Jerzy Kosinski[4] .

 

Giống như hầu hết những nhà văn, nhà thơ Việt Nam hải ngoại, Ha Jin chỉ viết về quá khứ, tức là về cuộc sống ở nước Trung Hoa Cộng Sản mà anh từng sống. Chẳng có truyện nào viết về kinh nghiệm sống ở Hoa Kỳ. Điều này làm ông khác hẳn với một số nhà văn Mỹ gốc Á châu nổi tiếng khác như Amy Tan, Gish Jen (gốc Trung Hoa) hoặc Chang-rae Lee (gốc Đại Hàn), chỉ viết về xã hội Hoa Kỳ mà họ đang sống. Truyện của Ha Jin phản ảnh rất sắc nét nhiều hình thái cuộc sống trong nước Trung Hoa Cộng Sản, nhất là sau thời kỳ Cách Mạng Văn Hóa. Đồng thời cũng cho thấy nhiều tập tục, thói quen cũ vẫn tồn tại và tồn tại mạnh mẽ, dưới hình thức này hay hình thức khác, có dịp chúng lại trồi lên, gây nên những chuyện trái khoáy, vừa bi vừa hài.

 

– Ocean of Words: tập truyện đầu tay, gồm mười hai truyện ngắn, lấy khung cảnh ở vùng biên giới hoang vu giữa Trung Hoa và Liên Xô trong những năm đầu thập niên 1970 khi Nga và Trung Quốc đang ở gần kề chiến tranh, nơi những người lính biên phòng phải sống chung đụng với nhau trong một thời gian dài. Trong cái thế giới chật hẹp, chi phối bởi quân giai và áp lực chính trị, đời sống riêng hoàn toàn nhường chỗ cho đời sống tập thể, tác giả đưa một cái nhìn sắc nét về sự khác biệt giữa hai nếp sống Trung Hoa và phương Tây, về thứ tâm lý đặc thù Trung Hoa với những ưu tư về thực phẩm, về gia đình, vị thế chính trị, và về tình cảm đối với phụ nữ cũng như thú vật, vân vân qua nhiều mẫu nhân vật khác nhau, từ anh chàng bưu tín viên mê gái (Love in the Air), anh chàng dân quân bẳn tính cho đến tay tù binh Nga bí ẩn (The Russian Prisoner) hay một anh lính mê học và đọc, được kết nạp vào Đảng là nhờ mang theo một cuốn tự điển Anh-Hoa lớn còn sót lại từ thời trước Cách Mạng chứa đựng cả một đại dương chữ (Ocean of Words). Trong nếp sống có vẻ đồng loạt bề ngoài vẫn che dấu những tâm tình phức tạp bên trong, đẩy các nhân vật vào những tình huống đặc biệt, lắm khi rối rắm, khó xử.

 

– Under the Red Flag: gồm mười hai truyện ngắn, mô tả nhiều khung cảnh trong cuộc sống bình thường hàng ngày ngoài xã hội. Tác giả nêu lên những xung đột ngấm ngầm giữa con người mới xã hội chủ nghĩa mà Đảng Cộng Sản muốn áp đặt lên toàn xã hội và các thói quen lâu đời xuất phát từ xã hội cổ truyền Trung Hoa. Trong “New Arrival”, một cặp vợ chồng vô sinh – mà cô vợ vốn là một gái điếm được anh chồng mua về làm vợ – nhưng từ chối nhận làm con nuôi một đứa bé rất dễ thương, vì sợ xui. Trong “Fortune”, một ông già tin ở bói toán đến nỗi tìm cách giết đứa con khi cậu ta không chịu đổi cái tên đẹp đẽ của mình thành cái tên xấu để cho đời ông gặp nhiều may mắn hơn, theo lời khuyên của một ông thầy bói lậu. “Winds and Clouds over a Funeral”, mô tả tình huống khó xử của một chủ tịch xã là đảng viên trung kiên giữa một bên là lời trối trăng của bà mẹ hấp hối muốn tang lễ cử hành theo phong tục cổ truyền là chôn và bên kia là chính sách mới của Đảng buộc phải thiêu xác người chết để dành đất cho sản xuất.

 

– The Bridegroom: Stories: Cũng gồm mười hai truyện ngắn. Khác với hai tập truyện trên, The Bridegroom lấy khung cảnh của một Trung Quốc đang chuyển mình từ chế độ xã hội chủ nghĩa cứng nhắc sang nền kinh tế thị trường có kiểm soát, từ một Trung Quốc cô lập đến một Trung Quốc dè dặt tiếp xúc với phương Tây. Nhiều chuyện trái khoáy diễn ra trong giai đoạn tranh sáng tranh tối này. “An Entrepreneur’s Story” kể chuyện một anh chàng chuyên buôn bán chợ đen bị mọi người khinh bỉ bỗng trở thành một anh hùng trong nền kinh tế thị trường. Anh ta được kính trọng, được gái mê. Hả hê trước vai trò mới, và có nhiều tiền, có lần anh hứng chí đem tiền ra đốt chơi. Một truyện khác, “After Cowboy Chicken came to town”, kể truyện một công ty Mỹ tên là “Cowboy Chicken” mở một tiệm ăn tại thành phố Muji. Người công nhân làm việc ở đó, nghĩ là tiệm Mỹ hay tiệm quốc doanh cũng cùng một giuộc: ông chủ, cũng như bí thư Đảng chả bao giờ làm việc cả. Cái khác là ông chủ mới này không tổ chức học tập chính trị và không đòi hỏi phải làm báo cáo về tư tưởng thầm kín bên trong. Một ngày nọ, bất mãn vì một công nhân được trả lương cao hơn, tất cả công nhân đình công. Họ được thay thế bởi một cô giáo Mỹ đen dạy ở trường đại học gần đó cùng với các học trò của bà ta.

 

– In the Pond: Truyện dài đầu tay, mô tả một cuộc tranh chấp không cân sức giữa một công nhân nhà máy với hai thủ trưởng của anh ta. Shao Bin, nhân vật chính, đáng lẽ được phân phối một căn hộ mới, nhưng căn hộ lại được phân phối cho một người khác vì người này có quan hệ làm ăn với bí thư nhà máy. Dùng tài vẽ tranh châm biếm và viết, anh tố cáo hai thủ trưởng của mình là bí thư Ma và thư ký Liu lạm dụng quyền hành. Để trả thù, hai thủ trưởng tìm cách cắt lương và đe dọa anh ta. Bin tiếp tục tranh đấu. Anh cho đăng nhiều bài báo và vẽ thêm nhiều tranh châm biếm đăng tải từ báo địa phương ra đến toàn quốc. Có lần giận quá, Ma đè Bin dưới dất còn Liu ngồi lên mặt Bin. Ngột thở, không biết làm sao, Bin cắn mạnh vào đít Liu. Liu chụp hình vết tím bầm gửi lên cho cấp trên làm bằng chứng. Nhưng kết quả là danh tiếng của Liu bị thiệt hại. Còn Bin lại trở nên nổi tiếng và được nhiều người mời anh làm việc và còn hứa cho anh theo học đại học.

 

Trong lúc hai bên dằng dai tranh chấp thì thủ trưởng của Ma và Liu là Yang ra tay can thiệp, bằng một màn dàn xếp rất “bao cấp”. Yang nói với Liu “Tôi sẽ nhẹ nhàng với Shao Bin. Đây là cách duy nhất để làm vừa lòng hắn bây giờ. Tôi sẽ sử dụng hắn và biến hắn thành nhân viên của tôi, giữ hắn trong vòng kiểm soát của chúng ta[5] . Trong lúc đó, tôi sẽ làm bộ kỷ luật đồng chí. Đồng chí sẽ bị phê bình trong tờ báo nội bộ. Đừng lo. Tôi hứa năm tới, tôi sẽ tăng lương cho cả hai đồng chí”[6] . Mặt khác, Yang gọi Bin lên khen ngợi và cho biết Bin được nâng cấp, về làm việc dưới quyền ông. Đổi lại, Bin phải viết một lá thư đăng trên báo cho biết là mọi chuyện đã được dàn xếp ổn thỏa, anh sẽ không kêu nài gì với hai thủ trưởng cũ của mình nữa. Bin sung sướng viết thư và sung sướng thấy mình thắng lợi. Thực ra, đó chỉ là thắng lợi tinh thần. Vì rốt cuộc, nhu cầu cấp thiết mà vợ chồng anh đòi hỏi là một căn hộ mới đã không hề được đề cập đến trong cuộc dàn xếp này. Được viết với giọng văn châm biếm, Ha Jin nêu bật lên hoàn cảnh bi đát của xứ sở, nơi mà đồ ăn, nhà ở và công việc khó kiếm trong lúc các viên chức Đảng thì cứ mỗi ngày nỗi sung túc lên.

 

– The Crazed: Truyện dài, viết ở ngôi thứ nhất, mô tả thân phận người trí thức dưới chế độ Cộng Sản. Giáo sư đại học Yang, sau một cơn đột quỵ, trở nên bị bệnh tâm thần. Ông thường hay nói sảng. Trường đề cử Jian Wan – học trò cưng của Yang và người sẽ cưới Maimei, con gái của ông – trực tiếp chăm sóc cho ông trong thời gian nằm viện. Sự phân công này đặt Wan vào trong một tình trạng khó xử: nếu tận tình săn sóc cho ông thì anh sẽ bỏ dở kỳ thi lấy bằng tiến sĩ, yếu tố quyết định cho tương lai của anh và cũng quyết định cho mối tình của anh với con gái của thầy. Trong thời gian ở tại phòng bệnh viện, Wan buộc phải lắng nghe và dần dần hiểu được ý nghĩa những lời nói sảng của thầy mình, theo đó, trí thức chỉ là một thứ tay sai của Đảng, một công cụ cho bộ máy gọi là cách mạng. “Học giả chẳng khác gì là một miếng thịt nằm trên thớt, trong khi những kẻ khác là những con dao phay có thể chặt anh bất cứ khi nào họ muốn”[7] . Thấm thía nhận xét của thầy, từ đó, anh đâm ra không còn ham muốn làm một học giả nữa. Khi giáo sư Yang chết, anh quyết định không thi lấy bằng tiến sĩ, mà phải làm một cái gì cho có ý nghĩa. Điều này khiến cho mối tình giữa anh và Meimei tan vỡ. Cô chia tay Wan. Trong lúc loay hoay tìm lối thoát thì xảy ra biến cố Thiên An Môn 1989. Wan không chần chừ, gia nhập ngay vào phong trào. Anh cùng bạn bè lên Bắc Kinh tham gia biểu tình đòi dân chủ. Cuối cùng, phong trào sinh viên bị đàn áp dã man và tan rã. Wan bị công an lùng bắt. Anh phải thay tên đổi họ, trốn đi, mong mỏi sẽ đến được một xứ sở tự do nào đó.

 

– Waiting: Truyện dài nổi tiếng nhất của Ha Jin, tái hiện khung cảnh miền Bắc Trung Quốc vào những năm đầu thập niên 1980, tức là vào cuối thời kỳ của cuộc cách mạng văn hóa, dựa trên một câu chuyện có thật. Waiting có cái giản dị của một chuyện ngụ ngôn. Nhân vật chính của truyện, Liu Kong, một bác sĩ tiêm nhiễm nếp sống thị dân, không chấp nhận sống chung với Shuyu, người vợ quê mùa do gia đình sắp đặt ở nông thôn để yêu một cô y tá làm cùng đơn vị, Manna. Hàng năm, anh phải về làng cũ để ra tòa xin ly dị. Lần nào cũng thế, anh thuyết phục Shuyu trả lời “đồng ý” khi ra trước tòa. Người vợ quê mùa của anh bằng lòng, nhưng khi ra tòa, chị vẫn không làm đúng như lời hứa vì trong thâm tâm, chị vẫn yêu chồng dù biết chồng chẳng hề yêu mình. Do thế, Liu không ly dị được. Anh phải đợi đến mười tám năm theo luật định mới có thể ly dị vợ để sống với người yêu. Trong suốt thời gian đó, quan hệ giữa hai người, Liu và Manna, diễn tiến khá phức tạp. Manna lớn tuổi, độc thân sẵn sàng hiến thân cho Liu, bất chấp mọi thứ. Nhưng Liu lại khác. Anh vừa yêu Manna, nhưng vẫn cố giữ gìn tư cách vì sợ mất việc và tôn trọng pháp luật. Anh từ chối ăn nằm với Manna. Không những thế, anh còn tìm cách giới thiệu cho nàng những người đàn ông khác để nàng kết hôn. Có lần, một người quen anh lợi dụng cơ hội diếp dâm Manna. Lin biết, nhưng bỏ qua. Cuối cùng, sau mười tám năm, Lin ly dị được với Shuyu và cưới Manna. Manna sinh cho anh một cặp sinh đôi. Cuộc sống đang hạnh phúc thì bỗng Manna được chẩn đoán bị bệnh tim, không chữa được. Anh vô cùng buồn bã. Và còn buồn bã hơn khi anh về thăm lại vợ cũ cùng đứa con gái, lại thấy hai mẹ con sống rất vui vẻ, hạnh phúc. Anh đâm ra hối hận, có ý nghĩ sẽ quay trở lại với vợ cũ khi Manna chết. Truyện kết thúc trong tâm trạng day dứt của Lin trong khi con gái anh và vợ anh, Manna vẫn vui vẻ chào đón năm mới.

 

Xuyên qua một mối tình tay ba, Waiting tái hiện lại khung cảnh một xã hội Trung Quốc đứng chênh vênh giữa cái cũ và cái mới, đồng thời nêu bật lên mâu thuẫn khó san bằng giữa cuộc sống nông thôn và thành thị, mặc dù cơn lốc ghê gớm mà cuộc cách mạng văn hóa đã tác động lên đời sống toàn xã hội. Dù Đảng đã tìm cách áp đặỉt đủ thứ áp lực lên đời sống cá nhân, Đảng cũng không thể hủy diệt được những tình cảm cá nhân phức tạp trong mỗi con người với hoàn cảnh riêng của mình. Tuy vậy, Waiting hoàn toàn không có một chút dính dáng gì đến chính trị. Ha Jin cố tình không bày tỏ thái độ chính trị rõ rệt nào. Có sao nói vậy. Ông chấp nhận hiện thực và dùng ngòi bút để mô tả hiện thực ấy trong chừng mực có thể. Với cách viết trong sáng, cẩn trọng, Ha Jin nhắc ta nhớ đến nhà văn Hoa Kỳ Pearl Buck độ nào trong nhiều tác phẩm viết về xã hội Trung Hoa buổi giao thời giữa hai thế kỷ 19 và 20. Ha Jin đã dùng kiến thức hết sức phong phú của mình về nước Trung Hoa hiện tại để tạo nên một tác phẩm khá đa dạng với phong cách sống và tâm tình khác nhau giữa nhiều hạng người. Vừa mới phát hành, Waiting đã đánh bại nhiều tác phẩm nặng ký khác và nằm trong danh sách bestseller của New York Times trong một thời gian dài.

 

Đó là một điều khá lạ. Hoa Kỳ là một thị trường văn chương rộng lớn và rất đa dạng, với đủ loại trào lưu văn học đan xen nhau. Waiting kết cấu đơn giản, văn phong lại cổ điển. Các nhân vật có một đời sống nội tâm khá bình thường, không mấy rắc rối. Không có nhân vật nào nổi loạn. Dường như ai cũng chấp nhận số mệnh của mình. Suốt truyện, trừ một màn hiếp dâm khá bất ngờ, ngoài ra chẳng có một đoạn nào gây căng thẳng, đưa đến những tình huống khác thường. Đúng như tựa đề của truyện, cô gái chờ đợi, anh chàng bác sĩ chờ đợi, người vợ ở nhà quê cũng chờ đợi. Một chờ đợi đầy tính chất chịu đựng. Tất nhiên độc giả cũng chờ đợi. Và rồi chẳng có chuyện gì khác thường xảy ra. Đúng thời hạn, tòa án cho hai vợ chồng ly dị. Và hai người yêu nhau được lấy nhau. Và hết. Không ai xé rào.

 

Các nhà phê bình văn học cho rằng Waiting được Ha Jin viết với hình ảnh của độc giả phương Tây trong đầu, dù rằng tất cả chi tiết (khung cảnh và chủ đề) đều được dựng ở Trung Hoa. Ông thêu dệt cốt truyện trong bối cảnh lịch sử và văn hóa Tây Phương. Theo Dave Weich qua một cuộc phỏng vấn vào tháng 2/2000, Waiting là một liều thuốc tuyệt hảo cho đời sống cuống cuồng vội vã hàng ngày của người Mỹ chúng ta"[8] . Sau đây là trích đoạn trong bản thông báo của Ban Giám Khảo Giải National Book Award năm 1999: “Trong Waiting, Ha Jin phác họa nên cuộc đời của Lin Kong, một bác sĩ tận tâm bị giằng xé giữa tình yêu của hai người đàn bà: một người thuộc về nước Trung Hoa Mới của cuộc Cách Mạng Văn Hóa, còn người kia thuộc về truyền thống cũ ở nơi ngôi làng mà anh ta đã chào đời. Ha Jin hiểu sâu xa mối xung đột giữa cá nhân và xã hội, giữa tính phổ quát phi thời gian của trái tim con người sự thay đổi chính sách thường xuyên tùy từng thời điểm. Với sự từng trải, dè dặt, và thấu hiểu tất cả các nhân vật, ông phơi bày ra một cách sống động sự phức tạp cũng như những điểm tế toái của một thế giới và một dân tộc mà chúng ta hết sức cần biết”[9] .

 

– War Trash: Truyện là một tổng hợp giữa sự kiện lịch sử và tưởng tượng sáng tạo, viết từ hồi ức của một cựu chiến binh Trung Quốc bảy mươi ba tuổi, nhớ lại thời kỳ xảy ra cuộc chiến tranh Triều Tiên 1950-1953. Yu Yuan là chí nguyện quân Trung Quốc được gửi sang chi viện cho chiến trường Triều Tiên, giúp chính quyền Cộng Sản Bình Nhưỡng đánh với quân đội Liên Hiệp Quốc do Mỹ cầm đầu. Đơn vị của Yuan, sư đoàn 180 Chí Nguyện Quân, vượt sông Áp Lục, để lại đàng sau bà mẹ già và cô vợ chưa cưới. Trong một trận đánh dữ dội với quân Mỹ, sư đoàn bị tiêu diệt và Yuan bị bắt làm tù binh, bị giam giữ trong một trại tù ở đảo Koje, thuộc biển Nhật Bản. Quân đội Mỹ quản lý trại tù nhưng lại giao cho những tù nhân thuộc phe Quốc Dân Đảng kiểm soát.

 

Vừa đến trại Yuan “có cảm tưởng như được trở về quân đội của Tưởng Giới Thạch, vì nhìn đâu, tôi cũng thấy những người đeo phù hiệu mặt trời của Quốc Dân Đảng”. Những tù nhân này muốn trở về Đài Loan sau khi chiến tranh chấm dứt. Còn những người Cộng Sản thì muốn trở về Hoa Lục. Trại chia thành hai phe. Phe nào cũng muốn tranh thủ những tù nhân mới về phe mình. Nhờ anh ta biết tiếng Anh nên được quân đội Mỹ sử dụng để làm thông dịch viên cũng như làm trung gian cho nhiều công việc khác giữa tù nhân và cấp chỉ huy quân đội Hoa Kỳ. Những tù nhân thuộc phe QDĐ lôi kéo anh theo về Đài Loan. Yuan vốn không phải là người Cộng Sản, nhưng anh không thích trả về Đài Loan vì anh không thể bỏ mẹ và vợ chưa cưới ở Hoa Lục được. Thái độ đó khiến phe tù nhân Quốc Gia đánh gục anh. Khi anh bất tỉnh, họ khám phá ra trên bụng anh có xâm hai chữ “Cộng Sản”.

 

Mục đích của người Mỹ là muốn biến các tù nhân thành cái mà họ gọi là đồ phế thải chiến tranh (war trash), nhưng nhân tính của mỗi nhân vật khiến cho mục đích đó không dễ dàng thực hiện được. Khác với Waiting trước đó, War Trash có tính cách tài liệu nhiều hơn hư cấu. Truyện mô tả đời sống trại tù với đủ tình huống. Ông chủ tâm kể chuyện nhiều hơn là viết truyện với nhiều trạng thái tâm tình khác nhau. Các nhà phê bình cho rằng War Trash mang nhiều tính lịch sử hơn tính truyện. Nhân vật chính thiếu hẳn tính chất trữ tình mạnh mẽ và đậm nét như trong các truyện khác, nhất là so với Waiting. Ha Jin cho biết, War Trash là truyện cuối cùng ông viết về Trung Quốc.

 

 

 

Trong cả truyện ngắn cũng như truyện dài, văn phong của Ha Jin rất giản dị, không cầu kỳ. Ông là một người kể chuyện thật tình. Nói theo thuật ngữ của những nhà phê bình văn học, truyện của Ha Jin là “telling, not showing”: ông không sử dụng văn phong màu mè, mà chỉ kể chuyện. Ta không hề tìm thấy bất cứ một ảnh hưởng đặc biệt nào của các trào lưu văn học hiện đại, cả về kỹ thuật diễn tả lẫn kết cấu và bố cục truyện. Không độc thoại nội tâm, không tân tiểu thuyết, không có những cách ngắt câu hay phân đoạn tân kỳ. Có thể nói văn phong ông chịu ảnh hưởng cổ điển của các nhà văn Âu Châu đầu thế kỷ 20.

 

Tuy đứng trên quan điểm chống lại chủ nghĩa Cộng Sản, nhưng ông không đưa vào truyện cái không khí ngột ngạt, bế tắc đầy đe dọa và sợ hãi như trong tiểu thuyết của Arthur Koestler, hay đầy tính cách tố cáo như trong tiểu thuyết của Alexander Solzenitsyn. Ngay cả The Crazed, dù có tính cách luận đề, nhưng không khí vẫn không quá nặng nề. Ông mô tả một xã hội với những nếp sống đã định hình, đã trở nên bình thường và người ta chấp nhận nếp sống mới y như phải như thế dù không mấy thích. Những phê phán xã hội và chế độ ẩn chìm dưới các sự kiện, chứ không biểu hiện rõ rằng qua cách hành xử hay tâm tình của các nhân vật. Truyện của Ha Jin hầu như không đưa ra một chủ đề nào lớn. Khó tìm thấy bất cứ một ẩn dụ triết lý hay một ám chỉ gần xa nào về thân phận con người hay về cuộc nhân sinh.

 

Tuy vậy, qua hàng chục truyện ngắn và mấy truyện dài, Ha Jin đã vẽ nên trước mắt độc giả những hình ảnh vô cùng sống động của xã hội Trung Hoa dưới chế độ Cộng Sản với những nhân vật và câu chuyện không hề trùng lặp nhau. Mỗi một câu chuyện hay nhân vật đều riêng biệt và đặc thù, cho ta nhìn được khá sâu vào tình hình xã hội, tâm tình nhân vật và hoàn cảnh sinh hoạt hết sức đa dạng của người Trung Hoa dưới chế độ Cộng Sản. Những ai không quen với một nước Trung Hoa vừa truyền thống lại vừa Cộng Sản sẽ tìm thấy rất nhiều điều lý thú về nếp sống hàng ngày của người dân. Đó là những mẩu tin, những xì-căn-đan nho nhỏ xảy ra trong một địa phương hay một tập thể giới hạn nào đó, chẳng hạn như trong một đơn vị quân đội, trong một nhà máy hay trong một ngôi làng nhỏ.

 

Do cách diễn tả khách quan và dựa vào sự kiện (mà một số nhà phê bình cho là nhược điểm) ta có thể hiểu rõ thêm cái xã hội lạ lùng đó mà không phải bị áp lực của một cái nhìn đầy thiên kiến do tác giả áp đặt. Phải thừa nhận rằng Ha Jin đã sống nhiều và từng trải. Ông biết nhiều, đi nhiều và nắm vững sinh hoạt xã hội và tâm tình từng hạng người. Chính vì thế, câu chuyện nào của ông lúc nào cũng sống động và đậm đà chất liệu hiện thực. Nếu đọc kỹ, ta sẽ thấy các câu chuyện hàm chứa một chút châm biếm nhẹ nhàng. Tính cách phê phán xã hội được ông lồng vào trong câu chuyện một cách khôn khéo.

 

Chẳng hạn như truyện ngắn “A Lecture” (Một buổi học tập) trong tập truyện Ocean of Words.

 

Để củng cố lập trường chính trị của từng người lính, các đơn vị quân đội Trung Quốc thường tổ chức định kỳ các cuộc sinh hoạt học tập lịch sử Đảng Cộng Sản. Lần đó, thay vì để cho chính trị viên hay bí thư thuyết trình, bí thư đảng ủy Đại Đội Truyền Tin có sáng kiến mời một ông bộ đội hưu trí già đến thuyết trình về những tháng ngày gian khổ mà vinh quang mà bản thân ông trải qua trong cuộc Trường Chinh Vĩ Đại do Mao Trạch Đông lãnh đạo. Trước một khán giả kỷ luật và chăm chú lắng nghe, người bộ đội già hào hứng kể những lúc gian khổ trèo đèo vượt suối vừa rút vừa chiến đấu ngoan cường với kẻ thù. Lần đó, đơn vị ông giành được một chiến thắng đại: xóa sổ được hai trung đoàn của Tưởng Giới Thạch, bắt được hàng trăm tù binh. Người cựu chiến binh kể tiếp:

 

“Trong số đó, có một viên sĩ quan rất phản động. Bất cứ khi nào mà chúng tôi chữa trị vết thương cho hắn thì hắn lại chưởi bới chúng tôi. Hắn gọi chúng tôi là ‘Bọn thổ phỉ Cộng Sản’ và ‘Bọn ác thú Đỏ’. Ai cũng tức giận.

 

Một đêm nọ, sau khi hết phiên gác, tôi đi vào bếp để tìm nước uống. Tôi thấy một số đồng chí lãnh đạo đang ăn uống ở đó. Ai cũng ngà ngà say. Thấy tôi vào, đồng chí Wan Fumin chận tôi lại nói ‘Uống rượu cái đã, chú Liu?’.

 

Tôi hớp một hớp rượu từ chén của ông ấy. ‘Ăn thịt đi’, đồng chí chỉ tay vào những chiếc đĩa trên bàn.

 

‘Thịt gì vậy’, tôi hỏi. Đã hàng tháng trời chúng tôi không hề được ăn thịt, do đó mới nghe chữ ‘thịt’ là tôi đã chảy nước miếng. Mọi người đều cười. ‘Thịt người’, Feng Shun trả lời. Đồng chí này là trung đội trưởng Trung Đội Bảo Vệ. Tôi hoảng hồn và không thể biết là đồng chí ấy nói thật hay đùa.

 

Wan vừa nói với tôi vừa gắp một miếng thịt bỏ vào miệng: ‘Đồng chí biết cái thằng sĩ quan miệng mồm thúi tha đó chứ gì? Đây là tim với gan hắn xào lên đấy’. Đồng chí ấy nhai. Tôi bắt đầu run lên bần bật và muốn trốn đi. Nhưng Wan đưa cho tôi đôi đũa và ra lệnh: ‘Chú Liu, thử một miếng đi. Xem thử nó có giống mùi thịt cừu không. Đồng chí phải học ăn thịt kẻ thù của chúng ta!’.

 

Mọi người thúc hối tôi ăn. Tôi bỏ đũa xuống và chạy ra ngoài. Tôi chạy dọc theo con đường đồi cho đến khi không còn nhìn thấy cây đèn nhà bếp nữa. Đêm sương ướt lạnh. Tôi ngồi dấu mình trong một cánh đồng kê, không dám trở về cho đến khi mọi người đi ngủ hết (…)

 

Sáng hôm sau, Wan và Feng chụp tôi ngay giường ngủ và nói rằng tôi không nên mềm lòng như thế. Feng Shun nói: ‘Nếu đồng chí thương hại cho con chó ghẻ đó thì đúng là đồng chí còn mơ hồ không phân biệt được bạn với thù. Tình yêu dành cho bạn đồng chí phải được biểu hiện bằng sự căm thù kẻ thù. Đồng chí không được xem kẻ thù như một con người’. Tôi không hiểu đồng chí chí ấy muốn nói gì. Tôi sợ hãi và tim tôi run rẩy. Chuyện gì sẽ xẩy ra nếu một ngày nào đó họ xem tôi như kẻ thù? Sợ gì mà họ chẳng ăn sạch tim gan phèo phổi tôi? Vậy là tôi phải trốn đi mất.

 

Cả phòng bỗng trở nên yên lặng đến nỗi ai cũng nghe rõ cả hơi thở của ông già Liu. Si Ma đứng dậy và bước đến chỗ ông Liu.

 

‘Tôi không phải là thằng đào ngũ’, ông già đau đớn thét lên, nắm tay đấm rầm rầm trên bàn. Nước mắt chảy dài trên má. ‘Tôi thù ghét Tưởng Giới Thạch và tất cả những tên phản động, nhưng tôi không dám ăn thịt chúng. Giết chúng, không sao, nhưng tôi không thể ăn thịt chúng. Đúng là tôi không có cam đảm, nhưng tôi không phải là thằng đào ngũ.’

 

‘Xin đồng chí bình tĩnh lại’, Si Ma nói, tay vỗ nhẹ vai ông già Liu. Ông ta ra dấu cần giúp đỡ. Ba người lính ở phía trước nhảy vội đến. Viên bí thư thì thầm “Đồng chí ơi, đồng chí quá mệt rồi. Đồng chí cần nghỉ ngơi cho khỏe’.

 

Hai người lính dìu ông già ra khỏi phòng.

 

‘Các đồng chí’, Si Ma dặn dò thuộc cấp, ‘Nếu đồng chí nào có ghi chép gì thì xé trang giấy đó ra để lại đây’. Ông bỏ tay xuống bàn. ‘Dù những lời của ông già Liu đúng hay sai thì đó không phải là việc của chúng ta. Tôi yêu cầu các đồng chí giữ kín buổi học tập hôm nay. Đồng chí Liu là một chiến sĩ Hồng Quân; đôi điều đồng chí ấy nói có thể không có hại gì cho đồng chí ấy, nhưng nều các đồng chí nói tùm lum ra ngoài, chính các đồng chí sẽ bị kết tội Phản Cách Mạng đấy. Các đồng chí hiểu chưa?”[10]

 

Cách kể chuyện của Ha Jin đại loại là như vậy: tỉnh táo, nhẹ nhàng nhưng chứa đựng nét châm biếm khá cay độc.

 

Một truyện ngắn khác, “Saboteur” (Kẻ Phá Hoại), trong tập truyện The Bridegroom, tính chất châm biếm nhắm vào các sinh hoạt ngoài xã hội. Nhân vật chính là giáo sư Chiu. Trên đường đi hưởng tuần trăng mật về với cô vợ mới cưới, ông dẫn vợ ghé vào một tiệm ăn. Trong lúc đang ăn, một tay công an ngồi bàn kế bên ném một tách trà về phía hai người và làm ướt giày cô vợ. Ông Chiu cự nự với tay công an về hành vi thiếu lịch sự đó. Thay vì nhận lỗi, tay công an lại ra lệnh thuộc hạ bắt ông Chiu, nhốt ông trong phòng thẩm vấn, và bắt ông ký nhận tội phá hoại. Ông không chịu ký. Vợ ông nhờ một luật sư trẻ tuổi, học trò của ông Chiu đến can thiệp, nhưng anh ta cũng bị bắt luôn. Rốt cuộc, vừa bị thuyết phục vừa bị đe dọa, ông Chiu phải ký giấy nhận tội “phá hoại” để được trả tự do. Quá tức giận, ông Chiu nghĩ ra một cách trả thù rất độc đáo: truyền bệnh viêm gan mà ông đang mắc cho nhiều người. “Ông Chiu lần lượt mua bún, hoành thánh, cháo, xúp gà tại bốn tiệm ăn khác nhau. Trong khi ăn, ông tiếp tục lẩm bẩm qua kẽ răng: “Giá mà tao giết hết được cái bọn thối tha đó!”. Ở quán ăn cuối cùng, ông chỉ húp một ít xúp mà chẳng đụng gì đến thịt gà và nấm. Sau đó thì “Trong vòng ba tháng, trên tám trăm người bị nhiễm bệnh viêm gan ác tính ở thành phố Muji. Sáu người chết, kể cả hai trẻ con. Không ai biết bệnh đã xuất phát như thế nào”[11] .

 

 

 

Ha Jin, tên thật là Xuefei Jin, sinh năm 1956 tại một thành phố phía bắc Trung Hoa, thuộc tỉnh Liêu Đông. Cha là một sĩ quan trong Quân Đội Nhân Dân Trung Quốc. Lúc nhỏ, ông mới đi học chừng hai năm thì trường được lệnh đóng cửa vì Mao Trạch Đông bắt đầu thực hiện cuộc Cách Mạng Văn Hóa. Gia đình Jin cũng là một trong những đối tượng bị phê phán. Sách của cha ông bị mang ra đốt. Mẹ ông thì bị phê bình dữ dội. Không biết làm gì hơn, ông phải gia nhập Hồng Vệ Binh. Trong mấy năm trời, ông "mang băng đỏ, vẫy cờ và hát những bài ca cách mạng". Đến năm mười bốn tuổi, ông khai gian tuổi để được gia nhập quân đội, chỉ vì lúc đó, nhà nước tuyên truyền rằng Liên Xô sắp tấn công Trung Quốc mà ông thì không muốn chết tại nhà. Giống như mọi người, Ha Jin "muốn được trở thành một anh hùng, một kẻ tuẫn đạo". Ông được điều ra đóng quân ở biên giới Liên Xô – Trung Quốc. Rốt cuộc sau mấy năm nhà cầm quyền làm ầm ĩ mà chẳng hề có chiến tranh, ông được giải ngũ năm mười chín tuổi. Ông kiếm việc làm và bắt đầu học Anh văn. Năm 1977, ông được nhận vào trường đại học Hắc Long Giang và học hết bốn năm ở đó, môn chính là Anh văn.

 

Vào những năm đầu thập niên 1980, khi các chính sách của nhà nước nới lỏng, ông theo học đại học Shangdon và tốt nghiệp cao học văn chương Mỹ. Thời gian này, ông mê say Faulkner, Roethke và Bellow và bắt đầu nuôi mộng viết văn bằng Anh ngữ. Nhờ sự giúp đỡ của một số giáo sư thỉnh giảng từ Hoa Kỳ sang dạy tại đại học Shangdon, năm 1985, ông được học bổng sang du học ở Hoa Kỳ để lấy bằng tiến sĩ. Ông theo học tại trường đại học Brandeis, thành phố Waltham, bang Massachusetts, đặc biệt nghiên cứu về thơ của Ezra Pound, T.S. Eliot, và Yeats. Ông có ý định về lại Trung Quốc để dạy học sau khi tốt nghiệp tiến sĩ tại đây. Nhưng vào năm 1989, khi chứng kiến cảnh sinh viên biểu tình và cảnh nhà cầm quyền Trung Quốc đàn áp thô bạo tại quảng trường Thiên An Môn, ông quyết định xin định cư vĩnh viễn tại Hoa Kỳ. "Trong thâm tâm, tôi không nghĩ là điều đó lại xảy ra. Tôi đã luôn luôn cho rằng quân đội Trung Quốc có mặt để bảo vệ nhân dân". Từ đó, số mệnh của Ha Jin rẽ sang một khúc ngoặc mới.

 

Ha Jin bắt đầu viết khi đang còn theo học tại đại học Brandeis. Ông thường lợi dụng thì giờ rảnh rỗi khi làm ca đêm tại một xưởng hóa chất ở Waltham, để viết. Lúc đầu, ông làm thơ bằng tiếng Anh. Do sự gợi ý của một ông thầy, Jin mang một vài bài thơ đến cho nhà thơ Frank Bidart, cũng đang dạy học tại đại học Brandeis, đọc thử. Đọc xong, Bidart sửng sốt phát biểu: "Thật là kỳ lạ khi biết ra rằng những bài thơ được sáng tác bởi một người mà tiếng mẹ đẻ không phải là tiếng Anh. Anh ta có một cách diễn đạt tuyệt vời"[12] . Một trong những bài mà Bidart thích nhất là The Dead Soldier ‘s Talk. Bài thơ, theo Bidart, hay đến nỗi khi ông đọc qua điện thoại cho một người bạn là Jonathan Galassi (lúc đó là tổng biên tập nhà xuất bản The Paris Review và sau đó là tổng biên tập của nhà xuất bản “Farrar, Straus & Giroux”) , ông này công nhận ngay là thơ hay. Ít năm sau, tập thơ đầu tiên ra đời, trong đó có bài The Dead Soldier’s Talk. Bài thơ viết về tâm trạng đặc thù của một người lính trẻ Trung Quốc, bị chết đuối chỉ vì tìm cách vớt một bức tượng Mao Trạch Đông bằng thạch cao trong một tai nạn chìm tàu vào tháng 9/1969. Bức tượng được mang đặt trong viện bảo tàng, anh lính chết thì được huy chương và người mẹ mất con thì vẫn lao động vất vả hàng ngày kiếm sống.

 

Nhưng sở thích của Ha Jin là viết văn. Ông ghi danh theo học khóa viết văn tại trường đại học Boston University. Tuy viết tiếng Anh rất đạt, nhưng ông lại nói không lưu loát. Lối phát âm của ông nặng nề, khiến cho không khí lớp học những lúc có thảo luận tương đối khó khăn. Lại nữa, truyện của Jin viết rất táo bạo về mặt tình dục, khiến một vài nữ sinh viên cảm thấy không thoải mái. Cô Jhumpa Lahiri, bạn cùng lớp, tác giả của tuyển tập truyện ngắn Interpreter of Maladies (1999), cho biết "Anh ấy là một người rất dễ thương, nhưng truyện của anh ấy thật ghê. Có nhiều cảnh hiếp dâm tàn nhẫn. Có cảnh một người đàn ông tự thiến mình. Tôi nhớ là có người đã khiếp đảm và nổi giận vì cái cảnh ấy". Một trong những thầy dạy ông, giáo sư Leslie Epstein, cho biết ông còn nhớ rất rõ những lần thảo luận sôi nổi trong lớp học. "Một trong những truyện hay nhất của anh ta Man- to-Be có một cảnh hiếp dâm kinh khủng trong đó một người đàn ông chỉ phục hồi được nhân tính khi anh ta nhìn vào trong đôi mắt của người đàn bà mà anh ta sắp hiếp". Một trong những màn gây ấn tượng mạnh nhất trong tác phẩm nổi tiếng Waiting cũng là cảnh hiếp dâm, trong đó, nhân vật chính là cô Manna Wu bị hiếp dâm một cách tàn nhẫn. Được hỏi về những màn sex đó, Jin cho biết "Truyện của tôi không phải là những chuyện nhẹ nhàng. Vấn đề tôi luôn luôn đặt ra là: làm sao viết về những điều khủng khiếp mà không đưa tới chỗ tầm thường, dung tục. Tôi cho rằng tôi có thể đẩy mọi điều xa hơn cái người ta mong đợi. Nhưng chính đó là cách tự trắc nghiệm chính mình như là một nhà văn"[13]

 

Khi các tác phẩm lần lượt đoạt hết giải này đến giải khác, nhiều người bắt đầu hỏi anh: làm thế nào mà một người viết tiếng Anh hay như thế lại nói không trôi chảy? Jin trả lời, khác với nói, trên trang giấy, “tôi có thể dùng tất cả thời gian tôi cần. Tôi có thể kiên nhẫn. Tôi có thể làm việc, làm việc cho đến khi tôi nghĩ rằng tôi đã hầu như đúng". Cho đến nay, ông vẫn nói thứ tiếng Anh ngọng nghịu, vấp váp. Theo Dwight Garner, phóng viên New York Times, Jin hầu như chẳng biết gì về nền văn hóa phổ thông Mỹ. Ông không thể nhớ bộ phim vừa mới xem, và kiến thức về truyền hình chỉ giới hạn trong một vài chương trình đặc biệt nào đó. Lúc đầu, theo ông, "tôi chỉ viết cho có viết". Nhưng khi đã viết được rồi, ông cảm thấy viết tiếng Anh mang lại cho ông một mùi vị tự do mà ông không bao giờ cảm nhận được khi viết bằng tiếng mẹ đẻ. "Tôi đã từng nhiều phen làm thơ bằng chữ Hán, nhưng tôi không thích mấy. Chữ Hán quá văn chương, quá trí thức và bị tách khỏi ngôn ngữ đời thường hàng ngày. Nó không có cái uyển chuyển của tiếng Anh. Bởi thế mà tôi dần dần bắt đầu vắt cái não trạng văn chương kiểu Trung Hoa ra khỏi đầu óc"[14] .

 

Được hỏi về chuyện học Anh văn và viết văn bằng Anh văn, Jin cho biết "Trong những năm đầu, trông giống như (tôi) phải chịu một sự chuyền máu, giống như phải thay máu hoàn toàn". Còn bây giờ thì sao? Jin trả lời: "Tôi đã đi quá sâu vào Anh văn rồi. Ngôn ngữ cũng giống như nước. Ta sống trong đó rồi, rất khó mà trở lại được như cũ"[15] .

 

Về kinh nghiệm viết truyện, ông nhận xét: "Ta có thể đi vào một truyện ngắn và đi ra dễ dàng. Nhưng nếu viết truyện dài, phải lặn sâu mình vào trong đó hoàn toàn trong một thời gian đã. Ta giống như bị hút bởi tác phẩm".

 

Hỏi về dự tính trong tương lai, ông cho biết ông sẽ cố gắng viết một tác phẩm mà khung cảnh được xây dựng ở Hoa Kỳ. Nhưng ông thú nhận, ý tưởng viết về Hoa Kỳ như thế vẫn thường làm ông ngần ngại. "Tôi không hiểu rõ Hoa Kỳ sâu xa cho lắm, nhưng có lẽ tôi sẽ viết những cảm nhận về nó từ một góc độ khác, góc độ một người di dân chẳng hạn. Tác phẩm này sẽ là một thử thách lớn đối với tôi. Tôi sẽ viết hết sức chậm"[16] .

 

Trường hợp của Ha Jin quả đáng cho nhưng nhà văn di dân suy gẫm!

 

 

Trần Hữu Thục

(trích từ Tác Phẩm, Tác Giả và Sự Kiện, nxb Văn Mới, CA 2005)

 

 

 

Tài liệu tham khảo:

·                    Ha Jin, In the Pond, nxb Zoland Books, Inc., Cambridge, Massachusetts, 1998

·                    Ha Jin, Waiting, nxb Penguin Books, New York 2000

·                    Ha Jin, The Crazed, nxb Pantheon Books, New York 2002

·                    Ha Jin, Under the Red Flag, nxb University of Georgia Press, Athens, Georgia 1997

·                    Ha Jin, Ocean of Words, nxb Zoland Books, Cambridge, Massachusetts 1996

·                    Ha Jin, The Best American Short Stories 1997, nxb Houghton Mifflin Company, Boston, New York 1997

·                    Dwight Garner, Ha Jin’s Cultural Revolution, New York Times, 6/2/2000 – www.Powells.com/pick.dave.html

·                    John D. Thomas, Across an Ocean of Words,www.emory.edu/EMORY_MAGAZINE/spring98/hajin.html

 

 

Ghi chú:

 

[1] Dẫn theo Stacey Wilkins, CNN, 4/3/2000

[2] Dẫn theo John Thomas, Across an Ocean of Words,

Xem ở: http://www.emory.edu/EMORY_MAGAZINE/spring98/hajin.html

[3] Người Ba Lan gốc Do Thái, Nobel văn chương năm 1978

[4] Cũng người Ba Lan gốc Do Thái

[5] Nguyên văn: in our pond = trong ao của chúng ta

[6] Ha Jin, In the Pond, nxb Zoland Books, Inc., Cambridge, Massachusetts, 1998, tr. 173

[7] Ha Jin, The Crazed, nxb Pantheon Books, New York 2002 tr. 220

[8] Dave Weich phỏng vấn Ha Jin, xem ở: www.powells.com/pick.dave.html

[9] Xem ở: http://www.powells.com/prizes/national.html

[10] Ha Jin, Ocean of Words, nxb Zoland Books, Cambridge, Massachusetts 1996 trang 131, 132.

[11] Ha Jin, The Best American Short Stories 1997, nxb Houghton Mifflin Company, Boston, New York 1997, tr. 13

[12] Dẫn theo Dwight Garner, Ha Jin’s Cultural Revolution, NY Times 6/2/2000

[13] The question for me has always been: how do you write about terrible things without resorting to vulgarity? I think I might push things farther than people expect. But that’s how you test yourself as a writer (New York Times, bđd)

[14] So I slowly began to squeeze the Chinese literary mentality out of my mind (New York Times, bđd)

[15] Dave Weich phỏng vấn Ha Jin (bđd)

[16] Dave Weich phỏng vấn Ha Jin (bđd)

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch