Trang chính » Các Số Da Màu định kỳ, Da Màu số 01, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Thượng Ngự Trên Đò Huế

Từ Hà Nội vào tới sông Hương tôi đã đến ngay nơi này đăng ký dịch vụ đò đêm. Trưa Huế, những tia nắng chói sáng hai chữ Thượng Ngự sơn đỏ trên mui mấy con thuyền đầu cong như chiếc long sàng đang cắm bến. Khách tham dự festival nghe quảng cáo, nhiều người đã đổ đến đây kiên nhẫn đứng chờ. Hàng cây bên bờ đổ sập bóng trên mặt sông xanh lục lờ đờ. Những chiếc bóng, những chiếc bóng ngay từ thuở tôi hay giựt mình thức giấc giữa đêm u ơ thảng thốt. Mẹ chặc lưỡi thản nhiên bảo do bóng đè, còn tôi hậm hực : “Con làm gì mà bị bóng đè. Có ngày con sẽ đè lại bóng”.

 

Xếp hàng nửa buổi, cuối cùng tôi cũng vào đến nơi bán vé. Dưới gốc sầu đông, người đàn ông bày trên mặt chiếc bàn gỗ mấy tờ catalô bọc trong giấy ni-lông đùng đục. Tôi nhìn vào các ô vuông in những chân dung phác họa không rõ nét. Gã liếc nhìn tôi, tóc xoà xuống trán.

 

“Cô ưng ngài mô? Khách ưa ngài ni nè.”

 

Tôi lắc đầu, chỉ tay vào chân dung thứ nhì.

 

Gã nói:

 

“Thứ ni đắt khách lắm, bận suốt đêm rồi.”, xong chép miệng thêm: “Đêm bảy ngày ba vào ra không kể. Muốn thì phải chờ 3 đêm nữa.”

 

Không ngờ đêm trên con sông này nặng đến thế. Khi tôi bước lên con thuyền, gã chèo đò đang giăng nốt mảnh gấm đỏ thêu rồng vàng ngay trên đầu miếng nệm mỏng. Thấy tôi liếc xuống tấm long sàng ấy, gã thản nhiên :

 

“Mỏng rứa mà êm. Trước kia nằm chiếu, mô có nệm mút như chừ.”

 

Rồi gã rút một miếng vải sa tanh màu rêu óng phủ lên tấm nệm loang rõ những vết ố dù dưới ánh đèn dầu đặt trên chiếc bàn chân quỳ. Trên đó đã đặt sẵn vài ba cái chung uống rượu men xanh. Tôi quay mặt nhìn ra đầu thuyền, cây sầu đông trên bờ buổi chiều xanh ngắt giờ tỏa đen như sắp đổ ập xuống thân đò nhỏ. Tôi chỉ mong nó mau rời bến.

 

Người đàn ông lục đục sau bức màn long phụng một hồi rồi mới tháo dây neo, tiếng chèo vỗ đều trên mặt nước sáng bạc. Trăng bắt đầu lên cao khi đò ra tới cửa sông rộng, trời vẫn không chút gió. Người tôi đang bừng bực, không gian nặng nề ngột ngạt, sự chờ đợi kéo dài quá lâu. Lâu, không phải chỉ từ buổi trưa đăng ký ngủ đò mà từ năm ở ghế nhà trường tôi học đến triều đại vua chúa cuối cùng của đất nước. Thứ lịch sử không còn khoanh vùng giữa thiên triều phương bắc và chư hầu phương nam, đã mở cả giải đất này ra cho các thế lực phương tây. Một quá khứ đối với tôi còn bao nhiêu mù mờ nhưng có sức ám ảnh nặng nề như bầu trời muốn sụp xuống con sông.

 

Từ trong con đò bỗng nổi lên một tràng nhạc ngũ cung. Gã lái đò sau tấm màn gấm thúc giục :

 

“Vô đi cô.”

 

Không biết từ lúc nào gã đã treo những chiếc đèn xếp xanh đỏ trên cái ngai sơn son thiếp vàng đặt bên cạnh thuyền phía trái. Tôi ngồi xuống thanh gỗ bên phải ngó sang. Khuôn mặt của tấm chân dung tôi đã chọn trưa nay chợt nhóa lên đầu lưng ngai. Mũ mão râu mũi còn lờ mờ nhưng hai lòng mắt sáng rực, phóng ra ánh nhìn vừa quyền uy vừa mơn trớn. Nó khiến tôi không còn có thể tự chủ để quan sát như đã dặn lòng trước khi vào đây. Tôi tựa con mộng du bị sai khiến, liền đứng dậy đến trước ngai vàng, hai bàn tay tự động vén T-shirt lên tới ngực. Nhưng cùng lúc với luồng khí nóng trong lục phủ bùng lên dưới sức ve vuốt của ánh mắt chân dung, thì trong đầu tôi loé lên ý muốn kháng cự. Không, không thể nào. Tôi đã tự bảo phải làm chủ tình hình, không để biến mình thành một thứ cung tần khát khao cơn mưa móc. Như đoán được ý nghĩ của tôi, trong phút giây gương mặt hiện ra đầy đủ, tỏ tường quắc nét. Đường rãnh sư tử giữa trán sâu hoắm, hai vành môi mím chặt để trào ra một giòng nước trầu đỏ đặc. Tôi rúm người lại, vậy mà đồng thời cảm giác chờ đợi nôn nóng cứ tiếp tục sôi trong thân xác. Bỗng một giọng nói dõng dạc ra lệnh :

 

‘‘Ngự tửu!’’

 

Tôi quay lại chiếc bàn chân quỳ, những chén rượu rỗng không biết ai đã rót đầy, mùi thơm toả ngát. Tôi nhấc một chén đưa lên. Gọi là gì đây, Đức hoàng thượng? Ngài? Hay giản dị chỉ là ông ta?

 

Không, không có đức vua, hoàng đế. Khách trả tiền lên đò Thượng Ngự đêm nay chính là tôi. Nhưng tôi vừa đủ chút bình tĩnh để không qùi xuống thì ông ta đã rời khỏi ngai vàng, đứng dậy tiến tới gần, một tay cầm lấy chén, tay kia nhấc cằm tôi bóp mạnh. Rượu ọc vào cổ họng tôi cay, đắng ngắt, rồi bỗng dưng ngọt lịm. Ông ta khà một tiếng cười thỏa mãn, bước ra giữa lòng thuyền cầm một chén khác nuốt ực. Tuyệt nhiên không nói thêm một lời, hai bàn tay tóm lấy tôi xô thẳng xuống tấm nệm. Thẳng thừng, không mân mê, không ve vuốt, không dạo đầu. Thế mà nhạc ngũ cung dồn lên lưu thủy đẩy những làn sóng từ bụng dưới tôi tràn đầy dồn dập.

 

Ông ta tung hết hoàng bào, đổ sầm xuống tôi, miệng hổ gừ lên những tiếng gầm cắp con mồi hút sâu vào rừng rậm. Nhưng từ đâu đó vẫn còn chút động lực vô hình không cho tôi khép mắt thả hết mình theo triều sòng, chúng vẫn cố nhướng, ngó đăm đăm vào ông ấy. Rãnh sư tử bây giờ nở ra, phơi bày một gương mặt tràn đầy khoái cảm. Nó rất quen thuộc. Nó là cái hớn hở hừng hừng ngờ nghệch. Nó là những gã thanh niên đã từng nằm đè trên tôi. Hoá ra thượng ngự hay dân ngự rồi cũng cùng bộ mặt ấy sao? Tôi thấy lòng dấy lên chút thất vọng. Thế mà xác thân lại khác, cứ vô tư mở toang, hồ hởi đón nhận từng cú chày đâm sộc của ông ta. Lưng, bụng, ngực tôi cuống cuồng, rướn cao, hoá dại. Tột đỉnh khoái cảm chỉ là trong gang tấc. Nhưng dây căng thình lình đứt lìa, ông ta bỗng dưng ngừng húc.Tôi hụt hoảng choàng mắt, không còn khuôn mặt người, không còn bả vai đẫm mồ hôi. Chỉ là một khối đen xì như đá tảng. Không gian cùng một lúc tối xầm. Tôi thiếp đi, rã rời, sóng sượt.

 

Lúc bừng mắt ra, rạng đông nhuộm vàng con sông Hương. Ánh trời len vào khoang thuyền, nước vỗ rì rào bên mạn. Tiếng đò máy xúc cát lòng sông vọng xa xa. Trước mặt tôi, chiếc ngai vàng đêm qua chỉ là những thanh gỗ ghép, màu mè nhếch nhác. Bức màn rồng vá víu đong đưa trong gió sớm. Tôi đang còn hoang mang, lao đao hụt hẫng, gã lái đò đương lội dưới nước vụt leo lên vén tấm vải treo đầu thuyền. Gã dừng lại giây phút rồi bước hẳn vào lòng đò, đưa sô nước và khăn cho tôi lau lót. Chẳng biết nhận ra gì mà ánh mắt nửa chế diễu nửa thương hại. Không chờ tôi lên tiếng, gã nhún vai :

 

“Đêm mô cũng rứa thôi. Cứ tới lúc nớ là ngài tụt xuống, dẫn lính đi tìm ngôi báu.”

 

Tôi quấn vội miếng vải đang phủ trên người đứng dậy, gã ta liền đi thẳng đến góc đò gỡ màn xếp nệm. Vơ mớ quần áo ra sau tấm phên, tôi mặc vội rồi bước nhanh lên bờ. Cây sầu đông lại lung linh lá, cái quán dịch vụ Thượng Ngự giờ này trơ trống. Tôi ngó sang bên kia sông xa tắp, biết là bất khả nhưng vẫn cố tìm mấy mái lăng Minh Mạng sắp xếp nghiêm chỉnh luật lệ căn cơ. Hóa ra chỉ có những khách ngủ đò Thượng Ngự như tôi đêm qua mới biết Minh Mạng chưa rời khỏi sông Hương núi Ngự, vẫn còn ẩn sâu trong núi, miệt mài truy phục ngai vàng triều Nguyễn.

 

Giữa mắt tôi, những vòng sắt Tràng Tiền xây lại sau Mậu Thân cong trơ trong nắng.

 

*

 

Tôi ngồi đầu thuyền rồng. Gió phả lên từ mặt sông, thốc ngược từ đáy mùi lưu cữu cả hàng thế kỷ. Người thị nữ vừa kính cẩn trao tôi chiếc vương miện. Tôi nâng bằng hai tay, ước chừng sức nặng. Vương miện bằng vàng ròng lóng lánh chín con phi phượng, mắt chạm ngọc ngũ sắc, rọi những tia nhìn tinh quái chọc vào mắt tôi. Vật trang sức đẹp vô kể khi cầm trên tay ngắm nghía và thèm muốn. Người thị nữ luồn tay vào tóc, cuốn bới rồi khẽ khàng gắn vòng miện lên đầu.

 

Tôi ngửa mặt, đầu nặng, vành kim khí làm tôi mất thăng bằng. Hoá ra vương quyền vàng son đã trở thành một thứ gông cùm khi gắn chặt với mình. Thuyền chòng chành, mũi thuyền chúc xuống vì trọng lượng của vương miện. Tôi nhắm mắt cho cơn chóng mặt dịu xuống. Gió đang mơn man gáy tôi, vuốt ve, như ngày xưa quạt nhẹ bờ gáy yêu kiều của Thừa Thiên Cao Hoàng Hậu. Thuyền đang xuôi dòng. Nước sông nghiêng lách mình về chỗ thấp. Thế giới đang về xuôi, đổ gấp. Trên khúc sông này chỉ có con thuyền chúng tôi đi ngược dòng quá khứ. Bến tới của chúng tôi là núi Thụ Sơn, mười hai cây số cách kinh đô Huế.

 

Thị nữ khoác lên mình tôi lớp áo tơ mát, khoác thêm lớp lụa sa, rồi cuối cùng mới phủ tấm áo hoàng hậu lụng thụng viền chỉ thêu vàng ròng. Tôi rùng mình khi da thịt cọ sát gấm vóc cổ xưa, rờn rợn toàn thân, như thể vừa bị một hồn khác nhập vào. Người thị nữ vừa thắt chặt dây lưng cho tôi vừa kể :

 

“Áo ni chừ đã hơn hai thế kỷ. Dễ sợ. Hoàng hậu chỉ mặc một năm hai lần, vào ngày Nguyên Đán và tế lễ Nam Giao. Công ty tu bổ di tích mới vừa khai quật hồi đầu năm ni, rứa chị có đọc báo Tuổi Trẻ hỉ? Y trang hoàng hậu cất trong rương đá, niêm kỹ, thành thử còn nguyên vẹn như ri.”

 

Tôi đang mặc áo người chết? Tôi đang được liệm sống? Tôi mỉm cười vu , hoang mang, nhưng không sợ. Bóng tối bốc lên từ sông, bóng tối có mùi vị kinh thành xa xưa, vảng vất dáng các nàng cung nữ lẩn trong bụi cây ven bờ. Những người con gái sông Hương đang cùng Dương Như Nguyện rảo bước vội vã suốt chiều dài dòng sông trong khi tôi ngủ đò với Đức Thế-Tổ tối nay. Tôi đã chờ ngài ba ngày ba đêm ròng. Đêm nay tôi nhất quyết phải lên ngôi cao trọng. Đêm động phòng. Đêm hợp cẩn. Đêm nay tôi muốn sinh cho Gia Long Đại Đế những hoàng nam khỏe mạnh. Ước muốn đơn giản lắm. Ước muốn sẽ thực hiện dễ dàng vì Thế-Tổ là người đàn ông cường tráng nhất của cả một đội thủy quân đánh Tây Sơn, chiếm cửa Thị Nại năm nào. Chàng bơi lội vùng vẫy như rồng cưỡi sóng. Niên hiệu Gia Long thật thích hợp với chàng. Những ý nghĩ vẩn làm tôi mơ mộng, người nóng hừng, môi khô khát.

 

Gã chèo thuyền khẽ giọng thì thầm với thị nữ:

 

“Răng o lấy áo nớ cho người ta mặc?”

 

Giọng thị nữ cự nự:

 

“Người ta dám trả giá hạng nhứt, chớ có phải mặc áo giả, ngồi ngai giả, ăn cơm cung đình như mấy bà đầm quần đùi dạo ở Ngọ Môn mô chừ.”

 

“Áo ni thiêng lắm…”

 

Gió đập phành phạch màn thuyền làm tôi nghe câu được câu mất. Thiêng? Tôi bắt đầu cảm nhận sự thiêng liêng đang ngấm vào người. Tôi đang trở thành hoàng hậu, điều này chẳng linh thiêng là gì? Hơn thế nữa, tôi là hoàng hậu đầu tiên của cả một triều đại kéo dài mấy trăm năm, kéo dài đến thời thuộc địa sau này. Một triều đại được nhắc đến nhiều nhất trong lịch sử. Một triều đại đang được phục hưng. Đúng hai thế kỷ sau.

 

Bóng Cao Hoàng Đế Gia-Long hiện ra sừng sững trước mặt tôi.

 

Trong bóng tối chập choạng mắt ngài sắc ngọt như muốn cắt dọc người tôi, chia ngang chia đều thành 4 doanh 23 trấn. Người tôi đau buốt như dao cứa, nhưng vẫn ráng săm xoi tướng mặt ngài. Mắt tam giác khóe nhọn hoắt, đi với chân mày xếch và mũi lân là tướng đế vương, tướng khai quốc lập nghiệp. Cằm lẹm và vành tai dầy là tướng đa tình. Vai rộng, ngực nở. Một bàn tay gác hờ cán gươm chạm đầu rồng, bao kiếm khảm trân châu và thạch ngọc tỏa ánh sánh lung linh. Ngực ngài lủng lẳng chiếc ấn truyền quốc. Thanh kiếm lưỡi thẳng màu ngà và ngọc tỉ, hai vật báu tôi nghe nói từ lâu giờ mới nhìn tận mắt.

 

“Chờ lâu hỉ? Giờ để ta thương nàng hỉ?”

 

Câu nói vắn tắt mà đốt phừng lên ngọn lửa âm muội trong tôi. Ngài đến trễ hơn thường lệ, vừa mới xong lễ lên ngôi ở điện Thái Hòa là ngài thẳng tới đây ngay. Ngày hôm nay sẽ đi vào lịch sử. Năm nay là năm Bính Dần 1806 đây mà. Tiếng huyên náo từ xa lẫn tiếng kèn trống vọng xuống khoang thuyền nhỏ, hòa với tiếng nước róc rách trên khúc sông hẻo vắng này.

 

Nhưng đây đâu phải là thuyền nhỉ?

 

Tôi ngửa mặt nhìn quanh, chỉ thấy một góc mái đình cong vênh trên nền trời thẫm, đầu nhọn của nó chạm đúng vào chỗ lõm của vầng trăng màu rêu úa. Tôi nghe tiếng khánh miếu Linh Hựu vọng về mỗi lần bóng lá cây xô dạt ngang khung cửa. Tôi bỗng nhớ ra, tôi đang nằm trong dinh hoàng hậu xây ở Phú Xuân đây mà. Người ta hay trách vua Gia Long sai lầm khi chọn Phú Xuân làm kinh đô. Nhưng tôi hiểu vì sao.

 

Đức Thế-Tổ, hình vóc trên trung bình, cân đối khỏe mạnh, kéo tôi nằm xuống. Chúng tôi nằm song song, phơi phới giữa lòng Phú Xuân. Ngài rút dải lụa thắt lưng, cởi ba lần áo tượng trưng cho ba miền, gỡ hai lớp quần tượng trưng cho hai thế lực dằng co. Ngài chồm lên. Người tôi như dán vào phản gỗ. Tôi nằm ngửa giữa đàng trong với đàng ngoài. Người tôi duỗi thẳng, dạng háng, vắt từ Bắc Hà đến Gia Định thành, đè lên Tam Kỳ phủ. Thân thể tôi đang buông thả, mềm như lá quặt quẹo. Vị trí tôi đang nằm là chiến lược, là cơ mưu, là quốc sách. Vị trí tôi đang nằm chỉ có tiền mua được.

 

Thân thể tôi đang dãn nở đến căng nhức vì kích thích.

 

Ngài thở gấp gáp trên người tôi. Đêm nay tôi sẽ thụ thai Hoàng tử Chiêu. Rồi ngài thì thầm, giọng chưa thỏa: “Nữa hỷ?” Tôi gật đầu cố nén tiếng rên. Một hoàng tử nữa sẽ ra đời. Ánh trăng xuyên ngang vọng lầu, rọi ngang mặt ngài. Tôi thấy hai mụt ruồi đen sát hai cánh mũi, từ quanh đó tủa ra những chòm lông cứng nhọn như râu. Hai má hai chòm, tả phù hữu bật. Đại quý tướng đây. Ngài lại thở gấp dần. Lần thứ hai ngài dẫy ít hơn, nhẹ hơn, làm tôi hờn dỗi. Ngài gục vào ngực tôi, thở dốc: “Ngủ hỉ?” Tôi lắc đầu, gằn rõ: “Không, ngũ hỷ.” Tôi đổi giọng, nói tiếng bắc sắc đanh như đinh đóng cột. Nữ quyền trong tôi vùng dậy. Tôi chồm lên lật ngửa ngài, cào cạp mình rồng ngài, ngấu nghiến ngài tươi sống. Tôi phải lấy lại vị thế chủ động của tôi đêm nay. Tôi là kẻ có tiền, có quyền, tôi mới là thế lực. Tôi phải cưỡi lên Đức Thế-Tổ để lịch sử sau này xét lại. Đêm nay tôi tung hê tất cả thân phận mình. Tôi vật vã, giữa mê và tỉnh, giữa đàng trong với đàng ngoài, giữa đàng trên và đàng dưới. Tôi không biết buông tha. Tôi hung hãn muốn nhốt ngài trong tôi mãi.

 

Người tôi, ngực tôi, đầu tôi, đùi tôi đang quay cuồng, đang lên đồng mất rồi. Cơ bắp tôi, cơ vòng tôi, cơ đàn hồi tôi đầy ứ uy quyền. Thứ uy quyền ngấm ngầm thôi nhưng bền bỉ dẻo dai, buộc vào không sao gỡ nổi. Những lần sau đó trong đêm, tôi thay đổi giòng giống triều Nguyễn. Tôi cải tiến hệ thống gien di truyền. Hoàng tử Chiêu không chết yểu. Hoàng tử Cảnh không phải làm con tin. Hồng Bảo không uống thuốc độc cũng không thắt cổ tự vận bằng màn treo giường. Tự Đức hết bất lực. Hàm Nghi không bị bắt và phong trào Cần Vương không tan vỡ. Thành Thái không bị truất phế rồi kết tội điên. Ngày Duy Tân rời đảo Réunion vị vua trẻ sẽ đích thân lái máy bay đồng minh về thăm Huế, đáp trực thăng trước cửa Ngọ Môn. Những nhà Huế học, rồi Nguyễn Phước tộc sẽ chẳng cần bào chữa cho triều Nguyễn. Lịch sử sẽ hết đường một chiều. Lịch sử sẽ đổi chiều, sẽ đa chiều, sẽ phân chiều. Lịch sử đang được khai quật lại.

 

Tiếng khánh đá khua lanh canh, lanh canh, dội vào giấc ngủ của tôi. Tiếng đá mà nghe trong như tiếng nước. Khi tôi mở mắt trời vẫn lờ mờ tối, như thể trời luôn luôn tối. Đò vẫn trôi, đò không thể nào ngừng trôi được. Sương vẫn buông sát mặt sông, những khoảng sáng và khoảng tối không chạm được nhau, như hai phần đứt đoạn. Giữa mắt tôi nhìn và thế giới cũng vậy. Gia Long dẫn tôi đi vòng dãy núi Thiên Thọ bốn mươi hai ngọn núi chập chùng, trải theo chiều ngang, không vươn cao nổi. Cảm giác thê lương vô kể. Lăng ngài có gì đâu. “Không có đình, không có tạ, không có cầu, không có đài, chỉ trơ trơ một tấm sân đá mênh mông, ngoài hai cột đồng trụ cao ngất trời! Hùng thay!” * Những giòng chữ được khắc trên cánh cửa đồng mở vào lam thành, nơi có quan tài hai chúng tôi nằm song song dẫn vào vô tận. Cửa bên kia khắc mấy giòng thơ :

 

“Các triều đại, giữa dòng chia biên cương.

Lũy cũ của ba quân lá vàng bay khắp,

Hài cốt kẻ bách chiến bách thắng nằm trong bãi cỏ hoang vu.” **

 

Gia Long nói, chỉ tay vào những tảng đá thanh phẳng lì, đơn giản, bình dị đến mức kỳ lạ :

 

“Mộ ta đó.”

 

“Trong đó có bảo kiếm, có ấn truyền quốc không?”

 

Gia Long cười rộ, tiếng cười đi đường vòng, đập vào núi, rồi vọng ngược trên mái thành xám xịt :

 

“Những thứ đó không có ở đây. Cũng không có ở đất nước này. Mà nếu còn thì họ sẽ bán đi. Họ sẽ còn bán nhiều lần nữa.”

 

*

 

Sông có khúc, người có lúc. Gã đàn ông đăng ký vé đò bảo thế. Cẩn thận, tiền không trả lại. Hoàng đế ở ngày này không phải là hoàng đế ở ngày kế tiếp. Gã buông lơi ngón tay và những tờ catalô có đánh số rơi xuống theo nhau như những tờ lịch. Chọn đi. Tôi với tay nắm lại một tờ. Con số in màu son: 23-02-1946.

 

Gã đàn ông thụt lùi. Tấm bảng quảng cáo dịch vụ Thượng Ngự thụt lùi. Nước sông chảy ngược. Cồn cát giữa sông chìm nổi. Bờ sông dậy lên một màu sương trắng đục. Tôi ngồi xuống bộ bàn ghế dưới gốc sầu đông.

 

7 giờ:

 

Hòang Đế Cuối Cùng nhìn ra sông. Nước lặng lờ chảy xuôi. Nắng sáng chiếu lên từ chân trời, dìu dịu rọi vào mi mắt chúng tôi. Một buổi sáng tĩnh lặng.

 

“Ai mang tôi tách trà.”

 

“Ngài dùng trà gì?”

 

“Trảm mã trà, nếu nàng là người trả tiền. Vì ta đã trở thành công dân Vĩnh Thụy của nước độc lập Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.”

 

“Một sản phẩm dã man.”

 

“Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa?”

 

“Trảm mã trà.”

 

Có tiếng chuông điện thọai vang lên trong sương. Tôi ngồi im.

 

“Đàn bà ngồi rứa ta ưng. Khi ta trở lại, nàng vẫn đợi.”

 

Nét mặt của Vĩnh Thụy lập tức nhòe đi trong ký ức tôi khi ông quay bước. Tôi cố nhưng không mường tượng ra được từ sóng mũi đến tướng đi của ông. Tôi hớp ngụm trà ai đã mang ra đặt sẵn trên bàn. Khói trà xông mùi máu.

 

Ngựa chờ ai hí bên kia sông.

 

Vĩnh Thụy trở lại, cúi xuống kề môi vào tai tôi :

 

“Hắn nói: Tôi không còn cách nào hơn. Tình thế đang trong cơn nguy kịch. Tôi biết rõ rằng Pháp không muốn thương lượng với tôi mà Đồng Minh thì không tin cậy tôi. Ai ai cũng thấy tôi quá đỏ. Tôi yêu cầu Ngài hy sinh lần thứ nhì và trở lại cầm quyền.”

 

Mặt Vĩnh Thụy sắc nét. Đường mũi sáng bóng. Hơi thở ông tỏa vào tai tôi ẩm và nóng. Tôi đưa ngón trỏ di di dọc theo nếp xếp hai bên khóe miệng, vòng theo viền môi Vĩnh Thụy. Vĩnh Thụy Vĩnh Thụy, Hòang Đế Thoái Vị.

 

“To be or not to be?”

 

“Quyết định không thuộc về ngài.”

 

Vĩnh Thụy vỗ bàn :

 

“Ta đã quyết định kết thúc một triều đại. Ta đã quyết định khép lại cả thời vua chúa. Ta đã để ra đời một quốc gia độc lập và hiện đại. Và bây giờ, cả vận mệnh đất nước đang chờ ta.”

 

Vĩnh Thụy thở gấp, mắt đổ những tia lửa màu hổ phách chích vào vành tai tôi như kim châm, chi chít chạy xuống lòng hai bàn chân tôi như điện.

 

Ngựa chờ ai hí bên kia sông.

 

“Hắn sẽ chờ ta, như nàng đã chờ ta.”

 

Ngựa chờ ai hí bên kia sông.

 

“Thế ngài có biết mấy giờ rồi không?”

 

Ngựa thở gấp bên này sông.

 

“Giờ của ta.”

 

Ngựa dậm chân.

 

“Giờ hắn cho triệu Hòang Đế Cuối Cùng đến quy phục lịch sử.”

 

“12 giờ trưa rồi à?”

 

“Vâng, màn đang hạ. Hòang thượng hãy lên ngựa nhanh lên.”

 

Ngựa nện vó trên đường tráng nhựa.

 

“Nàng là ai mà theo ta?”

 

“Tôi là khách tiêu thụ, là khán giả đang xem tấn tuồng đổi chủ một đất nước.”

 

“Không, báo cho hắn biết là ta nhận lời quay lại tổ chức chính phủ.”

 

Mặt trời giờ ngọ đứng bóng nhưng gợn mây, oi bức và u tối. Chúng tôi phi ngựa.

 

13 giờ:

 

Người đàn ông đang nói có lưỡng quyền cao, mày rậm, mắt sáng, và râu cằm tua tủa. Nói chung là hắn có một chân dung thích nghi theo tiêu chuẩn lãnh tụ trong buổi giao thời :

 

“Xin ngài hãy quên đi tất cả những điều tôi nói với Ngài hồi sáng. Tôi không có quyền chối bỏ trách nhiệm vì tình thế khó khăn. Trao quyền lại cho Ngài bây giờ là một sự phản bội về phần tôi. Xin Ngài tha lỗi cho tôi trong lúc nhu nhược đã nghĩ đến việc trút gánh nặng của tôi lên vai Ngài. Tôi đã tính ra đi chính là vì sự chống đối của những đảng phái quốc gia về bản thỏa hiệp đang được chuẩn bị ký với Pháp.”

 

Nhân dạng Vĩnh Thụy lập tức mờ nhạt như thể sương sớm bên sông đã quận theo đến tận nơi này. Nơi này là chỗ của hắn, người đàn ông đã hóa kiếp nhiều lần. Nhưng ngay bây giờ, lúc hắn vừa dùng vàng mua chuộc được Tiêu Văn và Lư Hán áp lực Việt Cách và Việt Quốc, lúc hắn sắp ký Hiệp định Sơ Bộ 6 tháng 3, 1946 chấp nhận cho 15 ngàn quân Pháp thay thế quân Trung Hoa đang đóng ở Tonkin, thì ta tạm gọi là Ông Hồ, người định hình thời cuộc.

 

Vĩnh Thụy quay sang quàng tay siết lấy tôi :

 

“Trẫm ưng làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ.”

 

“Câu đó Ngài đã tuyên bố ngày 17 tháng 8, 1945, nhắc lại trong tờ chiếu đề ngày 25 tháng 8. Còn bây giờ là 23 tháng 2, 1946.”

 

Vĩnh Thụy ngã vào tôi, nhưng ông không còn vật thể không còn trọng lượng. Ông đang nhẹ đi phai đi như chiếc bóng của người bước trên đường lúc trời kéo mây. Trên người tôi, chỗ Vĩnh Thụy tựa vào, còn đọng lại khoảng tinh loãng, lành lạnh, ươn ướt.

 

Ông Hồ nói:

 

“Đừng nhỏ lệ, nhoẹt bức ảnh.”

 

“Ảnh của ai thế kia?”

 

“Thì di ảnh cựu hoàng Bảo Đại.”

 

Ông Hồ cúi xuống bức ảnh, tỉ mỉ vẻ những đường viền. Vĩnh Thụy định hình. Ông Hồ tô chút màu hồng vào gò má Vĩnh Thụy đang tai tái.

 

“Thế này đáng tiền cô rồi chứ? Cái thời bên Pháp, khách hàng luôn hài lòng với dịch vụ retouche de photo của tôi.”

 

Ông Hồ cầm bức ảnh của Vĩnh Thụy, gói trong giấy sáp cứng. Ông nhìn tôi chăm chăm :

 

“Tôi nhận ra cô nửa thế kỷ sau. Mác đã tả chân dung cô rất kỹ. Nhưng ở thời điểm hôm nay thì cô là của đất nước, cô là của tôi. Bây giờ tôi phải lo việc lớn. Cô hãy ngoan ngoãn làm chuyện hậu cần, giao liên, hộ lý, mai mốt còn vai thanh niên xung phong, các đội nữ binh phòng chống máy bay nữa. Giặc đến nhà đàn bà phải đánh.”

 

Ông đưa tay vuốt râu :

 

“Đến tối mình gặp lại tôi sẽ giao hàng cho cô di ảnh Hòang Đế Cuối Cùng.”

 

Ông Hồ đưa tay giữ lấy cằm tôi trước khi quay đi. Tay ông dậy mùi vani. Tôi ngồi xuống phản. Tôi chờ. Mặt trời rơi ngoài cửa sổ.

 

23 giờ:

 

Căn phòng trống trải. Tôi ngã người trên phản nhìn ra trời đêm. Sao lấp lánh xuống gần, to dần lên. Tôi có thể nhìn thấy những hành tinh trong thái dương hệ bay trong quỹ đạo. Tôi nhìn thấy cả những mặt trăng của chúng quay xung quanh thành những đường vòng nhiều màu, sáng rỡ những băng thạch trong trời đêm. Sức hút của chúng càng lúc càng mạnh. Tôi cảm nhận được thủy triều đang dâng ngoài cửa bể Thuận Hóa. Sạn đá đất thần kinh bay rào rạo, đập vào cánh cửa gỗ căn phòng. Căn phòng tôi nằm bắt đầu rung chuyển. Những trang sử sách giáo khoa xé rời, bay tất tả trong phòng rồi vụt qua cửa sổ : trang chép18 đời Hùng Vương; trang chép cuộc nổi dậy của hai Bà Trưng; trang chép chiến thắng Bạch Đằng; trang đề mấy câu thơ của Nguyễn Trãi phò Lê – những câu chuyện hoang đường của một quốc gia. Những tờ Việt Điện U Linh Tập xỏ bằng chỉ điều cũng xổ tung, bay như bụi rác.

 

Tôi dán mình xuống phản. Chùa chiền lung lay. Tháp xá lợi sụp đổ, để lộ chút bột xương thâm mục. Chuông ngân như một cử công phu hớt hải. Lăng Tự Đức đang bứng rễ, bên dưới chỗ chôn vàng chỉ còn lại lỗ hổng : một vị vua bất lực cả trong cái chết. Nhưng lăng Minh Mạng lúc dứt ra khỏi đất thì vẫn còn đầy châu báu, chỉ thiếu chiếc ngai ngọc khảm. Lăng Gia Long không có gì ngoài chiếc bóng của Thế Tổ đang lao vào cơn lốc của vũ trụ. Một triều đại, một lịch sử tơi tả cuốn theo cuộc đổi đời.

 

Gió quất vào da thịt tôi. Những lượt vải trên người tôi đã khoác qua mấy đêm thượng ngự – nào tơ, nào gấm, nào nhiễu, nào điều – rách toạc. Tiếng xé lụa nghe như tiếng cười ré của nàng Bao Tự.

 

Cửa phòng tôi bật mở. Ông Hồ đứng giữa khung cửa, ánh sáng của các thiên thể phát sáng sau lưng. Căn phòng yên gió, dậy mùi vani. Ông cầm trên tay bức ảnh, đưa về phía tôi nhưng không bước vào phòng. Bên ngoài căn phòng chỉ là khoảng trống của vũ trụ. Những mảnh vụn của một cộng đồng bắt đầu tụ lại thành ngôi sao vàng chói giữa bóng đêm.

 

Ông nói :

 

“Ở hội nghị Fontainebleau, lão Xã-hội Guérin hỏi tôi về Trốt-kít Tạ Thu Thâu.”

 

Tôi không còn ý chí giơ tay che lấy thân thể.

 

“Thế ông trả lời sao?”

 

“Tôi rất đau buồn về cái chết của một nhà đại ái quốc. Tất cả những người không theo đường lối mà tôi đã vạch ra đều sẽ bị đập tan.”

 

“Chữ gì có thể nối hai mệnh đề trên?”

 

Ông cười :

 

“Ngoài tô điểm cho những đối tượng của thợ chụp bóng, hồi xưa tôi còn phụ bếp cô có biết không? Tôi đánh trứng và cho bột nổi. Tôi tráng đường caramel nâu bóng, những lằn nứt tỉa ra, chi chit chạy đều như cây cành mùa đông trong rừng nước Phổ.”

 

Cổ tôi ngọt mùi vani.

 

“Sau đó thì tôi làm thơ.”

 

Cả vũ trụ yên ắng trong ánh sáng sao. Giọng đọc Ông Hồ vang lên sang sảng :

 

“Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp”

 

Tôi đọc theo ký ức học đường :

 

“Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông

 

Ông Hồ vẫn đứng ở khung cửa mà như gần lại, râu lơ thơ bay :

 

“Nay ở trong thơ nên có thép”

 

Da tôi rờn rợn, nước rỉ giữa đùi.

 

“Nhà thơ cũng phải biết xung phong.”

 

Nhưng Ông Hồ vẫn đứng ở khoảng cách đó. Thiên thể sau lưng ông vẫn chiếu sáng từ khoảng cách đó. Tôi rướn người với tới. Căn phòng chòng chành thành đò trôi giữa sông Hương. Căn phòng chòng chành thành thuyền trôi giữa Vịnh Thái Lan.

 

25 giờ:

 

Tôi bật dậy. Trên bụng tôi là bức ảnh gói trong giấy trắng đục như đã hẹn. Chế độ mua bán sòng phẳng? Tôi mở lớp giấy sáp cứng. Những sợi râu dài lưa thưa đã được tô dày. Mặt trái ghi thêm : Đoàn kết đoàn kết đại đoàn kết / Thành công thành công đại thành công. Triệu triệu nhà sẽ có bức ảnh như tôi có. Một chế độ sòng phẳng.

 

Bên ngoài căn phòng, bên ngoài con đò, mưa bắt đầu rơi, lắp đầy khoảng cách đến thiên thể. Mưa lênh láng đỏ. Mùi tanh xông vào phòng, lọt vào cổ họng.

 

*

 

Tôi ngước nhìn bầu trời ảm đạm, hứng những giọt mưa lấm tấm rơi trên mặt, đáp xuống rỗ li ti trên mặt sông. Rùng mình sau những cơn mê sảng, tôi cảm thấy lạnh và cằn cỗi. Cảm giác nôn nao đưa lên từ bụng rồi kẹt lại ở cổ. Cơn buồn nôn không có gì là huyền ảo, trái lại rất hiện thực. Hiện thực là đây. Một con đò mong manh trôi trên sông Hương vẩn đục trải dài một màu nâu bùn ôm chân những xóm nhà sàn phía xa. Đâu đó những con đò khác lững lờ, lèo lái bởi những đứa bé gái. Con đò hiện thực trôi giữa giòng sông cố đô, giữa lãnh thổ xưa kia là vương quốc nối từ Gia Định đến Thăng Long, từ đó có tên định mệnh của Cao Thế Tổ Hoàng Đế nhà Nguyễn. Hiện thực tái xám, chết dưới chiếc bóng lịch sử đổ dài từ những người đàn ông vừa ngủ đò với tôi.

 

Tôi nhìn ra sau đò. Gã lái đò vẫn lặng lẽ đều tay chèo. Hiện thực là đây. Một gã lái đò buồn tẻ trong một đất nước buồn tẻ. Màu áo màu da màu tóc hòa hợp với màu nước sông như một loài cắc kè biến màu hòa với đất để sinh tồn. Gã lái đò thuộc tuổi trung niên, tôi đoán thế, dù bao nhiêu nắng mưa đã làm khô tóc cháy da đốt hết nét thanh xuân, và có thể đoán ra một tiểu sử. Một bộ đội đã từng có mặt trên chiến trường Campuchia, phục viên trở về. Gã đứng vững chãi phía sau đò, đôi cánh tay rắn chắc đều đặn đẩy mái chèo, phẳng lờ nét mặt.

 

Mưa lác đác rơi rồi tan biến trên mặt sông, hoàn tất chu kỳ của nước. Đời sống con người thì tròn một chu kỳ của cát bụi. Tôi thuộc vào đâu trong vòng tròn đó? Tất cả mang ý nghĩa gì. Tất cả mang lợi ích gì. Nước sông Hương đục ngầu chảy xiết hoán chuyển những rữa nát của chết chóc để bồi đắp thành những lớp phù sa. Hài cốt đầu lâu của anh em Tây Sơn bị Thế Tổ nhà Nguyễn nghiền nát thành bụi giờ lưu lạc nơi đâu trên đất nước này? Rồi thì uy quyền và vương quốc nào cũng trở nên nghèo nàn và trống rỗng đằng sau những ẩn dụ. Chu kỳ của cát bụi. Vòng tròn của hận thù.

 

Mưa nặng hạt hơn, tôi lui vào khoang đò. Không khí lạnh lẽo khiến tôi rót chung rượu, nuốt ực. Rượu đế để lại trên lưỡi tôi vị ngòn ngọt, trườn xuống thực quản làm mặt tôi nóng bừng tức khắc. Gã lái đò chậm tay chèo. Mặt gã quay nghiêng, tôi thấy những giọt mưa nhỏ lăn xuống sống mũi gã. Khuôn mặt sắt thép, tựa như mặt tượng. Tôi ngồi xuống mặt chiếu trong lòng khoang, thắp sáng hơn ánh đèn dầu, muốn đặt bút viết nhưng tay run vì lạnh. Một lúc, gã cũng ngưng tay chèo, nghiêng người bước vào. Khoang đò nồng nực mùi đàn ông lao động.

 

"Cô viết chi rứa?"

 

"Tôi viết về kinh nghiệm dịch vụ vừa qua."

 

"Cô cứ viết hỉ ? Trời mưa, tôi tạm trú trong khoang."

 

Không chờ tôi trả lời, gã ngồi xuống moi trong túi áo một bọc thuốc rê, rồi ung dung vấn thuốc. Lên cơn ghiền, gã hấp tấp kéo hơi thuốc, nhưng gương mặt vẫn phẳng lờ. Hành động hút để duy trì sự sáng suốt đầu óc cũng không thể khơi lên một ánh sống động trên khuôn mặt gã. Lao động mòn mỏi không còn cảm xúc. Gã lái đò là một lăng một xác trong một con người.

 

"Đêm nay cô ưng ai?"

 

"Đêm nay tôi muốn nghe tiếng hò trên sông."

 

Nhưng đêm nay tiếng hò chìm sau tiếng mưa.

 

Gã lái đò chỉ bình rượu, "đàn bà ai uống rượu nớ."

 

Tôi mời gã một chung rượu, chỉ là thứ rượu gạo rẻ tiền chắc mua ở chợ An Cựu. Dù sao, đêm nay tôi không thể đi xa ngoài hiện thực này. Trong khoang đò, ánh đèn dầu nhá nhem, bóng gã lái đò in một diện tích giới hạn trên vách mui. Bỗng nhiên tôi tạm thấy an toàn giữa không gian chứa đầy những yếu tố xa lạ, trà tửu giữa cơn mưa với người tôi không quen biết, ở một thời điểm như tách rời với mọi vòng tròn thời gian. Gã nhận chung rượu, ngửa cổ nuốt chất rượu mạnh, nhăn nhó, và sau cùng khà một tiếng khen ngon. Gân cốt nổi hằn trên cổ gã, chạy dọc theo chiều dài của cổ nối xuống đôi bả vai rộng. Tôi muốn tìm nhân dáng một người đàn ông nơi gã, một kẻ tầm thường không tham vọng, chiếc bóng nhỏ nhoi trên vách, đổ đè lên một người đàn bà chắc chắn sẽ nhẹ nhàng, và vì thế sẽ dai sức. Tiếc rằng gã không có hình trên trang catalô dịch vụ.

 

Rượu thấm nhanh, gã lái đò nhìn soi mói như bắt được ý nghĩ của tôi. Dường như gã đang chợt rướn người xích lại gần, dường như chiếc bóng gã in trên vách sắp bao trùm lấy tôi. Tôi vội vã đứng lên bước nhanh ra ngoài. Trong ánh đèn dầu nhá nhem, dường như có chiếc bóng quái của gã đuổi theo tôi thì phải. Nhưng hóa ra chỉ tiếng gã gọi :

 

"Cô nì, tạnh mưa rồi, để tui chăng đèn cho cô ngồi nghe hò!"

 

Mưa đã dứt, trời bỗng quang, trăng sáng tỏ tường. Có tiếng hò thiếu nữ vọng lại từ xa, trong như tiếng suối. Và hình như cuối cùng tôi đã thoả mãn.

 

 

 

 

* Phạm Quỳnh, Mười Ngày ở Huế – Nam Phong Tạp Chí số 10

** Nguyễn Du, Độ Linh Giang

bài đã đăng của Vũ Lê Phương Trinh


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)