Tạp chí Da Màu – Văn chương không biên giới » Đồng Hóa
Trang chính » Các số Da Màu định kỳ, Da Màu số 01, Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

Đồng Hóa


♦ Chuyển ngữ:
0 bình luận ♦ 10.08.2006

 

 

 

 

 

Thế nào là người Da Đỏ? Câu hỏi quá sức của một con người, ngay cả một người như Alexie, ngay cả một cuốn sách, để trả lời trọn vẹn. Qua 15 tác phẩm, gồm tiểu thuyết, truyện ngắn, kịch bản phim; với phong cách nổi loạn, táo bạo, thông minh, châm chọc và tự châm chọc, Sherman Alexie đã đảo ngược hoàn toàn cách nhìn truyền thống, rập khuôn và bất công về người Da Đỏ.

 

 

 

Cả The New Yorker lẫn Granta đều đánh giá Sherman Alexie, thuộc bộ tộc Spokane và Coeur d’Alene, là một trong những nhà văn trẻ hàng đầu của văn chương đương đại Hoa Kỳ.

 

 

 

 

Nói về tình yêu, hôn nhân và tình dục, cả Shakespeare lẫn Bò Đực Ngồi biết chỉ có một chân lý duy nhất: các lời giao ước đặt ra chỉ để cho người ta bội ước. Vì thế, Mary Lynn muốn làm tình với bất cứ một người đàn ông nào khác ngoài chồng cô ra. Lần đầu tiên trong đời, cô muốn lên giường với một người đàn ông da đỏ, chỉ vì hắn là một người da đỏ. Cô cũng là một người da đỏ, tộc Coeur d’Alene, lấy chồng Mỹ trắng. Cô là một người vợ muốn được ăn nằm với một người bản địa xa lạ. Cô chẳng quan tâm đến công ăn việc làm hay sở thích của kẻ đó, hắn ta có sắp được tăng lương cho kịp vật giá hay không, hay hắn có là sở hữu chủ của một chục ngàn dặm đường ray thu nhỏ hay không cô chẳng cần biết. Cô cũng không quan tâm mấy đến việc hắn đẹp hay xấu, vì đối với cô, cô không còn chắc những tính từ đó có nghĩa gì, hoặc ăn nhập gì đến việc chọn người bạn chăn gối. Ôi, cô chẳng đã lấy một tấm chồng bảnh trai đó sao, còn gì nghi hoặc nữa đâu, và cô vẫn còn yêu chồng, vẫn còn yêu thích những ngón tay thon dài khả ái của chồng, yêu cái tính khí ngang bướng—thích gì nói nấy, chẳng nể nang ai của chồng. Nhưng gần đây, cô cảm thấy mình phải tập trung ý chí quá sức mỗi lúc ăn nằm với chồng. Nếu cô không chú tâm một cách tuyệt đối vào thân xác anh, cả những chi tiết nhỏ nhặt nhất trên người anh, cô sẽ từ từ dạt ra khỏi giường rồi thả người bồng bềnh quanh phòng như một thứ thiên thần nhàm chán. Hẳn nhiên những điều đó khiến cô cảm thấy mình thất bại, vì dường như chồng cô vẫn chưa nhận ra được sự nhàm chán nơi cô. Cô muốn làm một người tình tuyệt vời, một người vợ chiều chuộng và một bạn đời chung thủy, nhưng rõ ràng là cô đã mắc phải một chứng rối loạn sinh lý hay nhiễm một loại vi khuẩn dễ lây, dễ biến thái, một chuỗi vi khuẩn kích dục gây xáo trộn khả năng chú ý. Cô cảm thấy chao đảo trước những biến chứng của sinh lý. Cô ăn dầm ở dề nơi các hiệu sách, chôn chân trước các dãy kệ bày sách tự học, nghiền ngẫm các đồ họa trong các cuốn bách khoa về sinh lý con người. Cô muốn tìm cho ra câu giải đáp. Cô muốn tìm lại được cái cảm giác đã làm cho cô sảng khoái, dù đó là thứ cảm giác gì. Mấy mùa hè trước. trong kỳ hội chợ Con Quạ, Mary Lynn đứng bên trong một siêu thị ở Montana, nơi bán hàng rau cải, có một người đàn bà da trắng, dáng chừng như một người nội trợ, tóc vàng ánh ướt sũng nước như vừa mới từ nhà tắm ở bên trong một chiếc xe làm nhà ở lưu động bước ra, mặc áo thun trắng, quần jeans xanh, và dù cho Mary Lynn là người đàn bà bình thường chỉ ham thích đàn ông—cô đã ba lần từ chối khéo những lời gạ gẫm của các phụ nữ đồng tính—cô cảm thấy như có một luồng gió mát thổi qua da thịt từ nơi người đàn bà xấu xí kia khiến cô đã muốn đè mụ ra giữa sàn mà nâng niu trìu mến. Mary Lynn chưa bao giờ cảm thấy mình thèm khát đến thế—sao không nơi nào khác mà lại ở Montana, lại đi ham muốn một người đàn bà da trắng vừa dốt vừa dát thế kia! Và cũng từ lúc đó, cô không còn cảm thấy ham muốn bất cứ một người đàn bà hay đàn ông nào khác. Ai có thể giải thích được những chuyện kỳ quặc trong lãnh vực yêu đương như thế? Nhiều người quy trách chính tộc hệ đã gây cho Mary Lynn những điều bất ưng bất mãn. Chúa ơi, cô nghĩ, sao có thứ tâm lý trị liệu giản dị và ngay tình đến thế! Đúng, chắc chắn cô là một thổ dân Coeur d’Alene chứ còn gì—cô lớn lên trong khu bảo hộ, suốt thời gian sống ở đó cô rất hạnh phúc, cô rời bỏ nơi này mà chẳng luyến tiếc điều gì hay gây thù chuốc oán với ai—nhưng đó không phải là cách duy nhất chúng ta có thể mô tả con người cô. Cô ước gì được người ta gọi mình là một cô gái Coeur d’Alene, thay vì coi đó là một lý do, một phương thuốc, một lời tiên đoán, một lời trấn an hay rẻ rúng! Cô chỉ muốn được người ta hiểu mình như một người vừa lập dị vừa khó hiểu! Điều lập dị mà cô ưa chuộng nhất: mỗi khi cảm thấy thật cô đơn, cô nghe đĩa của Big Mom Singers (Tôi không sợ chết, hey ya ya, hey cái chết là người anh em với tôi, hey ya ha ha) và đọc thơ Emily Dickinson (Vì tôi không thể đứng lại chờ Thần Chết / Thần Chết tử tế đúng chờ tôi.) Điều khó hiểu quan trọng nhất: Cô là một người đàn bà có một cuộc hôn nhân đầy sóng gió, có nguy cơ đổ vỡ, hay đang đổ vỡ và còn có thể đến chỗ tan nát. Đúng, cô là một người đàn bà Coeur d’Alene, rất cuồng nhiệt nhưng cũng rất vô tâm, muốn cắm sừng lên đầu người chồng da trắng chỉ vì anh là người da trắng. Cô muốn tìm một người tình vô danh, một người đàn ông da đỏ mà sau cơn ân ái hắn sẽ biến mất trong đám đông, một người đàn ông có mặt mũi giống tấm ảnh in trên chiếc hộp đựng sữa cô hay uống. Cô không cần hắn phải là kẻ hiểu nhanh ý chính khi nghe người khác kể chuyện tiếu lâm tục tĩu, hay hắn là hạng người phải đọc truyện của Zane Grey trước khi ngủ, hay hắn là cả hai hạng người đó. Cô chỉ muốn tìm cho được một tên đàn ông da đỏ nào có màu da sậm nhất ở Seattle—kẻ nào có nhiều melanin trong da nhất—rồi sẽ trần truồng với hắn trong một phòng thuê rẻ tiền nhất. Vì thế, cô đã sấn tới trước mặt một người đàn ông da đỏ tộc Lumimi đang đứng trong quán cà phê và yêu cầu hắn làm tình với cô. “Làm ngay bây giờ,” cô nói, “trước khi tôi đổi ý.” Hắn ngập ngừng một chốc, không hiểu tại sao mình là kẻ được chọn, xong nắm lấy tay cô. Hắn muốn tin rằng mình là một người đàn ông bảnh trai. “Cô muốn biết tên tôi không?” hắn hỏi trước khi cô đưa tay lên bịt miệng. “Đừng nói gì với tôi,” cô bảo. “Đừng nói một lời nào với tôi cả.” “Dẫn tôi đến một quán trọ nào đó mà đụ.” Lời nói thô tục đã làm cho cô bực mình. Dường như nó bị giàn đựng, ép uổng, như thử cô là một nữ diễn viên trong các phim truyền hình phát lúc ba giờ sáng. Phải chăng cô cũng đang diễn kịch? Có phải cô là một con dâm phụ không? Tại sao cô lại ham muốn tình dục với một người đàn ông da đỏ đến thế. Cô tự trả lời cho mình: do bi quan, hiện sinh chủ nghĩa, ngay cả hư vô chủ nghĩa. Nhưng đó chỉ là những từ rỗng tuếch trong kho từ vựng của cô chứ không đích xác là những động cơ thúc đầy cô hành động. Nếu bị ép buộc phải chấp nhận sự thật, hay một hình thức nào đó của sự thật, cô sẽ khai rằng cô muốn lên giường với một người đàn ông da đỏ xa lạ vì cô chỉ muốn biết làm như thế sẽ cho cô thứ cảm giác nào. Xét cho cùng, cô cũng đã ngủ với nhũng người đàn ông da trắng trong đời mình nhiều rồi, sao lại không có thêm một người thổ dân Bắc Mỹ? Tại sao lại không thực hành chính sách hành-động-tích-cực bằng nhục dục? Theo Chúa, việc bất trung của cô là một hành động có tính chính trị. Đó là sự nổi loạn, là kháng chiến, là cách mạng! Ở trong phòng trọ, Mary Lynn buộc người đàn ông cởi áo quần trước. Người hắn thừa ra khoảng 30 cân Anh, những vết thẹo bầm tím chằng chịt ngang ngực và trên chiếc bụng nhợt nhạt, hắn vừa cởi áo quần vừa run. Hắn mang nhẫn cưới trên một ngón tay bên phải. Cô biết có vài người Âu thường mang nhẫn cưới ở tay phải, nên có thể vợ hắn là một người Pháp—nhưng Mary Lynn cũng biết là một vài người Mỹ đã ly dị cũng mang nhẫn ở tay mặt như thế, như dấu hiệu khổ đau hay tang tóc. Mary Lynn chẳng cần biết hắn có vợ hay chưa, hoặc hắn có chung lo chăm sóc con cái, hay hắn có con hay không. Cô chỉ thầm cám ơn là hắn mộc mạc, tuyệt vọng và cô đơn. Mary Lynn bước lại gần hắn, cầm lấy tay hắn rồi đưa ngón trỏ vào miệng. Cô nút ngón tay và cảm thấy buồn cười. Da hắn có vị mặn, nhiều dầu, như vị mặn của một người lao động chân tay. Cô nhắm mắt và nghĩ đến chồng, một người làm nghề chuyên môn, mặc áo sơ mi giặt ở tiệm. Trong một giờ nữa, cô sẽ đến gặp chồng ở một tiệm ăn mới mở dưới phố. Cô đẹp và thông minh, đã trưởng thành cùng với nhiều người đàn bà da đỏ đẹp hơn và thông minh hơn, nhưng lại ít tham vọng và không dối trá bằng. Có lần cô đọc trong sách, có thể của Primo Levi hay Elie Wiesel rằng những kẻ sống sót các trại tập trung Đức quốc xã là những người Do Thái dối trá, lường gạt, sát nhân, trộm cướp và nổi loạn. Bạn hãy nhớ, Levie hay Wiesel đã nhắc nhở, rằng những kẻ lương thiện của chúng ta đã không thoát khỏi các trại tập trung. Mary Lynn có cùng cách nghĩ như thế về các khu bảo tồn người da đỏ. Trước khi lên mười, cô đã dự mười bảy cái đám táng của những người nữ chơn chất—những người phụ nữ đôn hậu nhất của tộc Coeur d’Alene—và kể từ khi cô rời bỏ khu bảo tồn, còn đọc thêm tin có 18 người phụ nữ nữa đã chết. Thế nhưng còn đàn ông Coeur d’Alene thì sao?-những kẻ dối trá, lường gạt, trộm cướp kia cũng đã sống sót, lại còn phơi phới hơn nữa chứ? Mary Lynn không muốn mình có quan hệ gì với những kẻ đó, hồi trước cũng như bây giờ. Lúc còn vị thành niên, cô chỉ hẹn hò với con trai da trắng. Lớn lên, cô cũng chỉ làm bạn với đàn ông da trắng. Chúa ơi, thật cô phải công nhận, những người đàn ông da trắng—thầy giáo, huấn luyện viên, cấp chỉ huy, người tình—thảy đều đáng tin hơn những người đàn ông da đỏ trong đời cô. Hiếm khi những người đàn ông da trắng này làm cho cô thất vọng, nhưng cũng chẳng có gì để cô phải ngạc nhiên cả. Đàn ông da trắng đều trung lập, cô nghĩ, như Bỉ quốc vậy. Có khi nào nước Bỉ gây kích thích về thể xác chưa? Có lúc nào một người Bỉ đã khiến cho một người đàn bà phải run người lên vì sợ hãi và mặc cảm tội lỗi. Cô không muốn mình là một người Bỉ ù lì, cô muốn phiêu lưu vào chốn hiểm nguy. Trong căn phòng quán trọ rẻ tiền, Mary Lynn hít một hơi thật sâu. Người đàn ông da đỏ nặc mùi mồ hôi, chiếc áo bận đến hai lần chưa giặt. Cô đưa tay sờ lần theo những vết sẹo trên bụng, trên ngực. Cô muốn biết tại sao có những vết sẹo đó, hy vọng là anh chàng người da đỏ này là một chiến binh từng chiến đấu bằng gươm dao, nhưng cô lại e rằng hắn chỉ mang trong người trái tim và lá phổi của một người đàn ông khác mà thôi. Cô đẩy hắn xuống giường, nằm đè lên một chiếc chăn đã sờn. Có lần cô đọc báo thấy các nhà khoa học đã khám nghiệm một chiếc chăn ở khách sạn và tìm ra được 432 mẫu tinh trùng khác nhau dính vào đó. Chúa ơi, cô nghĩ, mấy nhà khoa học đó quả có nhiều thời gian, thế mà họ cũng đã quên không đặt câu hỏi quan trọng nhất: Ai đã để lại những mẫu tinh trùng đó? Có phải do những đổi chác vì tiền, vì sự trìu mến, hay do bịnh tật? Có chút tình yêu nào trong sự đổi chác đó không? “Làm nhanh đi,” cô nói với người lạ mặt đang ở bên cô. Chồng cô, Jeremiah, đang giận khi thấy cô đến trễ cả nửa tiếng, khi vào tiệm ăn anh lại giận đến độ không còn tự chủ được nữa khi nhà hàng bảo họ phải chờ cho đến khi có bàn. Đối với người lạ anh hay lên cơn giận, nhưng lại rất dịu dàng với bốn đứa con. Mary Lynn cũng đã từng thấy những cơn giận như vậy nơi người đàn ông da trắng một khi những ước muốn của họ không được thỏa mãn. Ở nơi các trận cầu, trong bãi đậu xe, hay ngoài phi trường, đàn ông da trắng đòi hỏi họ phải được đối xử đặc biệt mà chính họ đã coi những cách đối xử đặc biệt như thế chưa bao giờ hiện hữu. Đàn ông da trắng là những kẻ có thể tiên đoán được, Mary Lynn nghĩ. Cô lại nghĩ, này Ông Jeremiah ơi, người mua vé xem thể thao suốt mùa, kẻ đậu xe tháng và người hay di chuyển bằng máy bay ơi! Cô lại mơ thấy anh đang ở ngoài kia, bên trong một chiếc máy bay cùng với 87 người đàn ông da trắng khác, diện dạt những bộ đồ vét hạng nhì, tất cả đều hướng về những căn phòng chật hẹp ở các khách sạn Ramada, Radisson, và có khi cả Hyatt mà lao tới. Rồi từ đó bọn họ sẽ bỏ tiền ra xem phim khiêu dâm trong đó có đủ mọi thứ chỉ trừ việc ấn sâu vào người mà thôi. Phim kích dâm mà không có cảnh ấn sâu vào người thì còn gì đáng coi? Mary Lynn biết cái thứ phim kích dâm đó chỉ làm cho những tên đàn ông cô đơn này càng thêm cô đơn mà thôi. Họ cũng đáng được xem những thứ khá hơn thế kia chứ, những người chào hàng, những quản lý trung cấp da trắng, những Willie Loman của thế kỷ 21 này, họ chỉ muốn trở thành những người đàn ông giỏi hơn cha ông họ mà thôi! Cố nhiên, Mary Lynn nghĩ, những người con này xứng đáng có một đời sống sung sướng hơn vì họ khôn ngoan hơn, dịu dàng hơn và rộng lượng hơn bất kỳ một người đàn ông da trắng nào thuộc các thế hệ trước. Những người đàn ông Mỹ—chưa từng được tưởng thưởng xứng đáng, cho nên sự tức giận của họ vừa có căn cơ vừa sáo mòn. “Bớt giận đi anh,” Mary Lynn bảo chồng trong lúc anh đang nổi đóa với cô tiếp viên. Từng ấy từ là những lời nói thường xuyên thoát ra từ cổ họng Mary Lynn trong suốt cuộc hôn nhân của cô, nhiều hơn bất cứ một cụm từ nào khác. “Có thể hai mươi, ba mươi phút,” cô tiếp viên nói. “Cũng có thể lâu hơn.” “Chúng tôi đợi ở bên ngoài,” Jeremiah nói. Anh hít vào một hơi thật sâu, nhớ lại những thần chú mà người điều trị cho anh đã dạy. Thần chú của Mary Lynn: “Tôi đã cắm sừng chồng. Tôi đã cắm sừng chồng.” “Chúng tôi sẽ gọi tên ông,” tiếng của cô tiếp viên, một người đàn bà da trắng nay đã ngán ngao hết thảy đàn ông, bất kỳ màu da nào. “Khi tới phiên.” Họ tựa lưng vào tường gạch, hai chân tréo nhau đứng trên vỉa hè, vào một buổi tối oi ả của Seattle. Jeremiah và Mary Lynn hút những điếu thuốc giả làm bằng các thứ lá cây có vị đắng. Trong nhiều năm, họ đã hút thuốc lá Camel không đầu lọc, nhưng đã bỏ thuốc sau khi tứ thân phụ mẫu cùng một lúc bị một thứ ung thư hành hạ. Mary Lynn gọi đó là Ban Hợp Ca Ung Thư Khốn Nạn của đạo Mormon, mặc dù chẳng ai là người có đạo, và tất đều có giọng cao mà thôi. Có được ơn Chúa hay không, họ cũng đã sống sót qua những đợt hóa trị, xạ trị, các canh bạc chiếu trên truyền hình cáp trong nhà thương, thân thể họ vẫn không hề suy suyển để rồi họ trở lại với cái thói quen tự hủy diệt mình đó thêm lần nữa. Sau nhiều đêm lang thang trong các hành lang bệnh viện, ngồi trong phòng đợi hay trên ghế bành, cả Jeremiah lẫn Mary Lynn đều đâm ra ghét bác sĩ, mọi loại bác sĩ, kể cả bác sĩ trên truyền hình, đặc biệt là các bác sĩ trên truyền hình. Vì cùng ghét cay ghét đắng các bác sĩ như thế, cả Mary Lynn lẫn Jeremiah đề tự lo uống thêm sinh tố, ăn thịt gà nướng, và chỉ hút thuốc lá do sáu người da trắng hôi hám theo phái tự do ở Bắc California vấn tay bán. Trong lúc chờ bàn, Mary Lynn và Jeremiah thấy có hơn chục người vừa đến là có bàn ngay. “Anh cá là họ chẳng đặt bàn trước đâu,”anh nói, “Em ghét mấy điếu thuốc này ghê,” cô nói. “Ghét sao cứ mua?” “Vì con bé thu tiền ở tiệp chạp phô trông kháu.” “Em nông cạn lắm.” “Cạn như vũng nước bùn.” Mary Lynn ghét đi ăn ngoài vào những buổi tối trong tuần. Cô ghét phải lái xe vào phố. Cô ghét phải chờ bàn. Đứng bên ngoài tiệm ăn dưới phố, trong lúc chờ được gọi tên, Mary Lynn quyết định là cô phải ghét Jeremiah trong vài giây. Ghét, ghét, ghét, cô nghĩ thế, rồi dứt ngay cơn ghét. Cô không biết trên người có còn mùi tinh khí hay không, mùi ái ân với một tên đàn ông thổ dân, và liệu một người đàn ông da trắng có khả năng ngửi được mùi của kẻ thù mình hay không? Cô đã tắm gội rồi nhưng nước quá yếu mà viên xà bông lại quá nhỏ. “Mình đi chỗ khác đi,” cô nói. “Không, mình mà đi là năm giây sau họ gọi.” “Nhưng mình sẽ không biết là họ gọi.” “Anh có thể cảm được.” “Làm thầy bói và đoán mò cũng khó đấy chứ!” “Biết em sẽ nói thế mà!” Cả hai cùng mặc áo choàng da, quần jeans đen, đứng sát nhau nhưng chẳng ai đụng ai, trông rất đẹp đôi khiến người khác phải chú ý, phì phà những điếu thuốc giả mà trông như thật. Họ có thể là đề tài cho một bức ảnh của Schultz hay một bài thơ của Runnette. “Nhan đề của bức ảnh: Bất Trung.” “Nhan đề của bài thơ: Lại Bất Trung.” Tư cách của Jeremiah vẫn còn khá nguyên vẹn, mặc dù anh đã suýt sa chân trong một cuộc tình vụng trộm với một người làm việc cùng sở. Vào giây phút gay cấn nhất, khi chiếc cúc cuối cùng sắp bật ra, khi việc giao hoan chỉ còn trong gang tấc, anh đã xô người tình ra và nói, không thể được, không thể được, tôi vẫn yêu cuộc hôn nhân lắm. Anh không thú nhận mình còn yêu người hôn phối, yêu người bạn đời, yêu vợ. Không, anh thú nhận anh yêu cuộc hôn nhân, yêu sự kết hợp đã được ban phước, yêu tờ chứng có giá trị luật pháp, yêu chia sẻ món tiền nhà hàng tháng, và yêu bốn đứa con của họ. Mary Lynn phân vân không biết chuyện gì sẽ xảy ra nếu cô mang thai, một thai nhi của bộ tộc Lumni. Liệu đứa hài nhi tuyền máu thổ dân này có giống da đỏ nhiều hơn các đứa con mang hai dòng máu của cô không? “Chẳng lẽ họ không biết em là ai sao?” cô hỏi chồng lúc họ đang đợi bên ngoài tiệm ăn dưới phố. Cô không có bầu, và vì thế sẽ không có thử nghiệm để biết ai là cha của thai nhi, sẽ chẳng có một sự bí mật to tát nào phải bật mí. Điều bí mật của anh: anh vẫn còn yêu một người đàn bà da trắng quen từ thời trung học mà mấy chục năm nay chưa hề gặp lại. Điều Mary Lynn biết: anh rất yêu cái ý niệm về một người đàn bà da trắng, xuất thân từ một trường trung học chỉ có trong huyền thoại, một hoàng hậu của đêm khiêu vũ tốt nghiệp có tên “Giá như’” hay một công chúa của buổi họp mặt trở lại thăm trường mang tên “Đời tôi lẽ ra phải khác hơn.” “Anh chắc chắn họ biết em là ai,” anh trả lời. “Vì thế nên mình mới có tên trên danh sách chờ. Bằng không mình đã nhắm McDonald hay Denny’s rồi.” “Chán mấy cái tiệm ăn của anh!” “Nhưng đáng tin cậy. Bánh Big Mac ở Hong Kong hay Des Moines đều có mùi vị giống như Big Mac ở Seattle.” “Nghe giống chủ nghĩa thực dân.” “Chủ nghĩa thực dân đâu có phải là hoàn toàn xấu đâu.” “Thử dán khẩu hiệu đó lên mũi xe xem.” Tên tiệm ăn là Tan Tan, nhưng chẳng bao lâu nó sẽ trở thành một nơi quen thuộc và sẽ được đặt tên là: Tan’s. Và có lẽ Tan’s sẽ thành T’s, và T’s sẽ được nhận ra chỉ bằng một cái quay đầu hay chỉ cần mở lớn đôi mắt. Sau đó, việc tiếng tăm của tiệm tuột dốc là điều không thể tránh, cho dù thức ăn và chất lượng có giữ y nguyên hay ngon hơn thì cũng thế thôi. Thực tế, Tan Tan là một tiệm ăn liên Á: người chủ, bếp chánh, các món ăn đều thuộc về người da trắng, chỉ trừ bộ phận phục vụ gồm nhiều giống người gốc Á khác nhau. “Em có ghét không?” Jeremiah hỏi, “khi thấy bồi người Hoa trong một tiệm sushi, hay một người Đại Hàn rửa bát trong một tiệm mì Thái?” “Em chưa bao giờ nghĩ đến điều đó,” cô trả lời. “Không, em hãy nghĩ đi chứ, các tiệm ăn này, các tiệm ăn Á Châu, họ thuê người Á châu một cách tùy tiện, vì họ cho rằng người da trắng không phân biệt được ai với ai.” “Người da trắng không thể phân biệt được.” “Anh làm được.” “Này Geronimo ơi, anh bầu bạn với dân da đỏ quá lâu để không còn là da trắng nữa rồi.” “Đụ một đứa da đỏ không biến anh thành da đỏ được.” “À, thế ra mình đang đụ nhau ấy à?” “Em có vẻ không ưa mấy chuyện đụ đéo.” “Không, không phải là không ưa chuyện đụ đéo, chỉ không ưa chữ anh dùng thôi.” Mary Lynn và Jeremiah quen nhau ờ đại học, hồi còn có tên là Mary và Jerry. Sau lần ngủ với nhau đầu tiên, sau cơn kích ngất đầu tiên trong đời cô và lần thứ ba của Jerry, Mary quay qua nói với Jerry, giọng vô cùng nghiêm chỉnh: “Nếu muốn cuộc tình này lâu bền, mình phải đổi tên để vần cuối không còn vận nhau nữa. Cô học văn chương, chuyên về thơ ca của Milton và Blake. Anh lại học làm kỹ sư hóa học, nghề anh đeo đuổi từ lúc lên bảy, bằng cấp đối với anh chỉ còn là hình thức, cho nên anh có dư thì giờ để đặt câu hỏi tại sao một cô gái da đỏ sống trong vùng bảo hộ lại thông minh đến thế. Cho đến giờ anh vẫn còn thắc mắc, song không bao giờ có can đảm hỏi cô. Bây giờ, hơn chục năm sau ngày ra trường với một tấm bằng vô dụng, Mary Lynn làm việc ở Microsoft, dưới quyền một người đàn ông tên là Dickinson. Jeremiah không biết tên gọi của ông là gì, hy vọng không phải là Emery, chưa bao giờ gặp ông ta và cũng không muốn gặp. Chức vụ và trách nhiệm của Mary Lynn thật mơ hồ, mơ hồ đến nỗi Jeremiah không nghĩ hỏi cô nói rõ. Cô thường làm việc sáu mươi giờ mỗi tuần, và anh không muốn khuyến khích thói quen làm việc đó bằng cách bày tỏ sự quan tâm của mình muốn biết rõ vợ mình phải làm những công việc cụ thể nào cho Bill Gates. Đứng chờ bên ngoài Tan Tan, cả hai người ngửi được mùi gừng, mùi cơm cháy và mùi bia. “Liệu rồi họ có chỗ cho mình không đây?” cô hỏi. “Chắc rồi, không phải họ biết em là ai sao?” “Em biết chỗ này họ kỳ thị da trắng lắm.” “Vậy sao?” “Đúng thế, em nghe nói có lần mấy ông luật sư, bọn da trắng mặc đồ lớn mua ở Nordstrom phải đợi hai tiếng đồng hồ mới có bàn.” “Vậy hai giờ đó luật sư có tính tiền không?” “Lúc này khó cho mấy tên da trắng đi kiếm chỗ ăn.” “Vì cái luật hành-động-tích-cực cà chớn đó mà ra cả” Đứa con đầu của họ ra đời do tai nạn: chiếc ca pốt bị rách, quên uống thuốc ngừa thai. Họ đặt tên con gái là Antonya, gọi tắt là Toni. Đứa thứ hai và thứ ba, Robert và Michael, ra đời theo ý họ muốn, và đứa thứ tư, Ariel, sinh sau khi Mary Lynn nghĩ rằng mình không còn thụ thai được nữa. Toni mười bốn tuổi, nhưng trông nhỏ hơn số tuổi thật, đẹp và rất tự kỷ. Da trắng, tóc dài vàng ánh, đôi mắt tròn xoe—mắt Botticelli mà—, cô khoe khoang như thế sau khi học qua một lớp căn bản về Nghệ Thuật. Cô bé chẳng bao giờ nói cho ai biết về dòng máu da đỏ cô mang trong người, vì chẳng ai hỏi han bao giờ. Jeremiah tin chắc là cô con gái cưng Antonya đã mất trinh với một thằng bé cầu thủ mặt đầy tàn nhang trong đội bóng bầu dục của trường. Ý nghĩ về những sinh hoạt tính dục tuổi mới lớn của con gái mình làm anh vừa tò mò vừa bực bội. Hơn hết thảy, anh tin rằng con gái anh quá đặc biệt để đi ngủ với một đứa làng nhàng, mà lại là một đứa làng nhàng chơi banh cho đội bóng của trường. Mỗi năm có ba tháng khi Robert và Michael đồng tuổi nhau. Hiện giờ cả hai đều 11 tuổi. Da ngăm đen, tóc đen giống mẹ, xương hàm bạnh và chiếc mũi dài như bất tận khiến chúng giống người da đỏ vô cùng. Robert—nó đã không chịu bất cứ một thứ tên gọi nào khác ngoài Robert ra— rất thông minh và là một thần đồng toán học, còn Mikey thì chỉ ưa có mỗi thứ bóng rổ. Mỗi khi bố mẹ của Mary Lynn từ trong khu bảo hộ gọi điện thoại thăm, họ đều hỏi mấy thằng cháu trai, khi nào cũng mời mấy đứa cháu trai về thăm nhân các ngày nghỉ, các dịp lễ và quà cáp cho chúng khi nào cũng nhiều hơn quà cho mấy đứa cháu gái. Khi Jeremiah chỉ cho Mary Lynn thấy sự bất công đó, cô cũng đồng ý nhưng lại nhắc nhở anh rằng chính bố mẹ anh cũng quan tâm tới mấy đứa cháu trai nhiều hơn, nên anh thôi không nói, chỉ thầm nguyện sẽ yêu thương con gái nhiều hơn mấy đứa con trai để bù đắp. Làm như tình yêu là thứ có thể đong đếm, anh nghĩ. Anh tự đặt câu hỏi cho mình. Nếu như mình yêu mấy đứa con gái nhiều hơn chỉ vì chúng giống mình nhiều hơn, bởi vì chúng giống với da trắng nhiều hơn mấy đứa con trai thì sao? Con bé Ariel đầu tóc bù xù chỉ mới lên hai, tính tình thì cũng vừa mới có hình có dạng mà đã nghịch ngợm quá sức, lại còn có thể ngủ liên tiếp 16 tiếng đồng hồ liền tù tì khiến bố mẹ nó nhiều lúc lên ruột. Nó sống trong thế giới riêng của nó, đủ để cho người ta phải quan sát định kỳ nhằm phát hiện chứng tự kỷ nơi trẻ con đang dần dần ló dạng. Nó thấy nhàm chán anh chị nó, chỉ muốn quanh quẩn trong chiếc nôi của nó suốt nhiều tiếng dồng hồ, chơi với những đứa bạn do nó tưởng tượng ra và những trò chơi do nó bày vẽ Mary Lynn cứ khăng khăng con gái út của mình sẽ là một nghệ nhân, nhưng Jeremiah thì lại không hiểu đứa bé, mặc dù anh là cha và đã 43 tuổi đầu, vẩn thấy mình còn thua kém cả con Ariel. Anh tự hỏi là rồi vợ có bỏ mình vì mình là người da trắng không? Khi cánh cửa tiệm ăn Tan Tan bung mở ra, khói thuốc và tiếng cười nói tràn ra ngoài. “Em còn thuốc lá không?” anh hỏi. “Đừng gọi những cái đó là thuốc lá nữa. Nó đâu phải là thuốc lá. Nó giống với mấy bụi hoa hồng nhiều hơn. Mẹ kiếp, chúng giống như phân người ta rãi lên các bụi hồng.” “Em nghĩ là sẽ có bàn cho mình không?” “Chờ đến khi chỗ này ế khách chắc mình mới có bàn.” “Em muốn đi chỗ khác không?” “Anh muốn không?” “Nếu em muốn.” “Mình nói với người giữ con là mười giờ mình về.” Cả hai ước gì con bé Tony coi em được thay vì nó cũng phải được người ta coi sóc cùng với mấy đứa em. “Mấy giờ rồi?” cô hỏi. “Chín.” “Thôi về đi.” Lễ giáng sinh vừa rồi, lúc trẻ con ngồi la liệt trong phòng khách, giấy gói quà ngập lút đầu bên những món đồ chơi đắt tiền, Mary Lynn quan sát từng khuôn mặt và nhận ra rằng những đứa con trai mang nhiều nét giống cô nhất, trong khi mấy đứa con gái chẳng có nét gì giống mẹ, và cô đã đùa cợt là về phương diện di truyền, thật bất phân thắng bại. Mình nên sinh thêm một đứa con nữa, cô nói với Jeremiah, để có thể nói được là gia đình này trắng hay đỏ. “Đây là một gia đình “gia đình,” Jeremiah nói, chẳng có chút gì hài hước. “Chỉ có một tên da trắng mới nói thế thôi,” cô bảo. “Tốt, vậy thì cô đã lấy một tên da trắng làm chồng rồi đó.” Khoảng cách giữa họ lúc đó trở nên lạnh lùng, trong cái im lặng đó, có thể một hay cả hai đã nói điều gì vô cùng xúc phạm, nhưng Ariel lại khóc rú lên mà chẳng do một nguyên cớ gì rõ rệt, giải thoát cho cha mẹ nó khỏi trách nhiệm phải hoàn tất cuộc đối thoại. Trong suốt thời gian hai người chung sống, cả Mary Lynn lẫn Jeremiah đã bàn luận về chủng tộc như một khái niệm, như một quốc gia xa lạ thỉnh thoảng họ đến thăm, hay như một thứ kẻ thù hiện hữu ở bên ngoài tổ ấm của họ, một thứ sức mạnh có khả năng tàn phá khiến cho cả hai phải hợp lực chống chọi như một cặp vợ chồng, như một gia đình. Nhưng chủng tộc lại thường xuyên hiện diện, một người khách vãng lai hay như một kẻ ở trọ muôn kiếp lảng vảng vào khắp các ngõ ngách trong phòng ngủ, kéo mở những hộc tủ, lấy cắp những đồ dùng hay quần áo, lại còn làm thay đổi cả nhiệt độ trong nhà. Trước khi lập gia đình với Mary Lynn, Jeremiah luôn luôn tin tưởng rằng người ta nói quá nhiều về chủng tộc, rằng dân da trắng là giống dân kỳ thị chủng tộc nhất, giống da nâu thì cũng chẳng kém kỳ thị. Là một nhà khoa học thuần lý, anh hiểu vấn đề chủng tộc chỉ là một tạo phẩm của xã hội, chỉ gây nên ảo ảnh, nhưng vì làm chồng một phụ nữ da đỏ, làm cha những đứa bé da đỏ, anh đã học được một điều, chủng tộc cho dù nó được cấu tạo như thế nào, là một vấn đề có thật. Giờ đây, có nhiều người da trắng lại muốn loại trừ khái niệm về chủng tộc, muốn quẳng nó qua một bên như một đồ vật được phát minh ra mà không ai muốn, nhưng lại đã quá trễ tràng. Nếu giống dân da trắng là những nhà khoa học điên rồ phát minh ra chủng tộc, Jeremiah nghĩ, thì chúng ta đã tạo ra chủng tộc để có thể giam hãm người da đen trong chế độ nô lệ và giết chóc dân da đỏ, để bây giờ chủng tộc đã vươn vai trở thành con quỉ Frankenstein vượt khỏi vòng kiềm tỏa của chúng ta. Dù anh từng tự nguyện trở nên mù, Jeremiah đã học được cách nhận ra con quái vật đó trên mặt những người da trắng da đỏ, trong ánh mắt của họ. Trước đây đã lâu, cả Jeremiah lẫn Mary Lynn quyết định sẽ thách thức những ai ném những tia nhìn xoi bói về họ, bằng cách ném trả những tia nhìn như thế, người này quay người kia lại tựa lưng vào vách rồi ôm nhau hôn đắm đuối, gợi dục. Trước đây đã lâu, họ đã quyết định trả lời những câu hỏi tại sao, thế nào, cái gì, ai, hay lúc nào, bằng cách tuyên bố thẳng thừng: Tình yêu là tình yêu. Cả hai đều biết đó là những lời dối trá lãng mạn, một câu trả lời quá đơn giản chỉ làm vừa lòng những kẻ đầu óc cũng quá đơn giản như thế, nhưng đó là cách tự vệ hay nhất của họ. Anh này, Mary Lynn có lần đã nói với Jeremiah, hỏi bất kỳ một kẻ nào tại sao họ lại vướng vào tình yêu thì cũng giống như hỏi tại sao họ tin Chúa. Cô nói thêm, cứ bắt đầu bằng những câu hỏi như thế rồi anh sẽ dinh vào một cuộc cãi vã, hay sẽ được nghe nhạc dân ca. Em suy nghĩ nhiều quá, Jeremiah nói rồi trở mình quay sang một bên, buồn ngủ. Và rồi, trong bóng tối, Jeremiah bước vào giấc ngủ, Mary Lynn thủ dâm ngất ngây với nhũng ý nghĩ về một tên đàn ông da đỏ, ngực chằng chịt đầy sẹo. Sau khi rời tiệm ăn Tan Tan, họ cùng đi trên một chiếc Ford Taurus băng qua cầu 520 trở về nhà ở Kirkland, một căn nhà 5 phòng xây theo kiểu nhà nông trại, chỉ cách Microsoft khoảng mười khu phố. Mary Lynn từ nhà đi bộ đến sở. Điều đó khiến cô nghĩ mình được ưu đãi. Cô ước chừng có khoảng 22 người Mỹ gốc da đỏ đã không có được đặc quyền như thế. “Mình cũng cần phải ăn chứ,” cô vừa nói vừa lái xe qua cầu 520. Cô cảm thấy lạ lẫm. Không biết rồi mình có còn tìm lại được cái gì là bình thường nơi người cô nữa không? “Ăn Taco Bell được không?” anh hỏi. “Đồ quỉ, lại muốn tuột quần em nữa phải không?” Như bị thôi thúc, anh ngã đầu mình lên đùi rồi kê môi sát đũng quần jean đen của cô. Cô rú lên rồi lấy tay đẩy đầu anh ra. Cô không biết anh có thể ngửi thấy gì nơi cô không, có ngửi được mùi người da đỏ Lumini nơi cô không. Có thể anh đã ngửi được, nhưng lại diễn giải cách khác, thứ mùi vị chỉ dành riêng cho anh, vì thế anh lại ngả đầu vào lòng cô. Cô phải làm sao đây? Cô muốn cười, nên cô đã cười và dí mặt anh vào xương mu của cô. Cô yêu người đàn ông đó vì những lý do mà không phải lúc nào cô cũng giải thích được. Cô nhắm mắt, lái xe đi trong đêm tối và cảm thấy nguy hiểm. Qua khoảng giữa cầu, Mary Lynn thắng gấp, không phải vì cô đã nhìn thấy gì ở trước vì mất cô còn nhắm, nhưng mà do cô cảm giác được có việc gì đang xảy ra. Chiếc xe trợt bánh rồi ngừng lại, chỉ cách cản xe trước mặt chừng vài phân, một chiếc truck mà chính nó cũng vừa suýt lao vào đoàn xe đang ngừng phía trước. “Chuyện quái gì đang xảy ra thế?” Jeremiah hỏi khi anh cất đầu khỏi đùi vợ. “Kẹt xe” “Chúa ơi, không cách gì về kịp trước 10 giờ. Phải gọi thôi.” “Điện thoại di động nằm trong ngăn để giấy tờ xe.’ Jeremiah bấm số điện thoại gọi về nhà nhưng chỉ nghe tiếng điện thoại đang bận. “Toni đang nói chuyện với bồ hắn chứ gì” cô nói. “Anh không thích thằng đó.” “Nó cũng chẳng thích anh.” “Chuyện quái gì vậy. Sao mình chẳng nhúc nhích được chút nào vậy.” “Em đâu biết chuyện gì. Anh xuống xe xem thử chuyện gì vậy.” Jeremiah bước xuống xe. “Em đùa ấy mà,” cô nói khi anh đóng ầm cửa. Anh bước về phía cửa sổ chiếc xe đậu đằng trước. “Ông bạn có biết chuyện gì đằng trước không vậy?” Jeremiah hỏi người lái chiếc xe truck. “Không!” Jeremiah đi ra giữa cầu. Anh không biết là do xe bị chết máy làm nghẽn đường như thường nghe các đài phát thanh gọi là “tai nạn nghẹt đường.” Ngoài ra còn có “tai nạn gây thương tích,” và tai nạn chết người “khi có cả một gia đình ngồi trên xe.” Anh phải lái xe qua lại chiếc cầu này 10 lần mỗi tuần. Đường đi đến sở. Chính người da trắng đã phát minh ra cái “đường đi đến sở” này, đã gán cho nó nhiều nghĩa, đã đa dạng hóa những phiền phức do nó gây ra, để rồi bây giờ phải dành rất nhiều thì giờ đề tìm cách rút ngắn nó, giảm thiểu nó, làm nhẹ nó. Ngồi trong xe, Mary Lynn phân vân tại sao Jeremiah lúc nào cũng ưa dính vào bất cứ một tình huống nào. Anh liên tục từ thụ động biến qua chủ động. Người đàn ông này mới thật năng động! Cô không biết có phải vì anh là người da trắng không. Rất có thể. Nhưng đúng hơn, đó là cá tính của Jeremiah. Cô còn nhớ trong một vở kịch của Mikey hồi hắn còn học lớp ba, diễn tuồng Hamlet được biên soạn lại, anh đã bước lên sân khấu giúp con kéo xác Polonius, lúc đó đang bất tỉnh sau khi chỉ bị đánh mấy dùi vào đầu chứ không phải bị đâm chết như trong vở kịch, ra khỏi sân khấu. Thằng bé quá mất mặt, đêm đó hắn khóc cho đến khi ngủ thiếp đi. Hắn đinh ninh là mình sẽ là một thứ bần dân của trường tiểu học, trong khi Jeremiah cố giải thích một cách vô vọng cho toàn thể gia đình hiểu tại sao anh đã hành động một cách bốc đồng như thế. Tôi chỉ muốn làm một người cha tốt thôi, anh đã nói. Mary Lynn nhìn Jeremiah đi xa hơn vào giữa cầu. Anh chỉ còn là một cái bóng, một ảnh mờ. Cô cảm thấy như bị tát vào mặt khi có nỗi lo sợ thoáng qua rằng anh sẽ không bao giờ trở lại. Chồng ơi, trở lại với em đi, em sẽ thú tội. Mấy người lái xe mất kiên nhẫn nhấn còi. Mary Lynn cũng làm theo họ. Cô hy vọng Jeremiah nhận ra được tiếng còi xe mình mà trở về. Hãy nghe em, hãy nghe em, hãy nghe em, cô vừa nghĩ vừa dần mạnh lên vành lái. Jeremiah nghe thấy tiếng còi xe của mình, nhưng chỉ là một âm thanh trong bản giao hưởng của tiếng ồn đang vang lên trên cầu. Anh bước xuyên qua tiếng ồn đó, xuyên qua tiếng ồn càng lúc càng dồn dập cho đến khi thấy mình đang chen vào giữa một đám người. Anh đang chứng kiến một vụ tự tử. Qua ánh đèn xe, người nhảy cầu là một phụ nữ da trắng, đẹp, mặc trang phục mùa hè, chân đi đôi giày xinh. Jeremiah chỉ thấy được chừng đó lúc bà ta đứng bên thành cầu, cao 40 bộ bên trên dòng nước sông lạnh lẽo. Anh có thể nghe được tiếng còi hụ đang đến gần ở cả hai đầu cầu, nhưng chẳng thể nào luồn qua được đám đông kịp thời để cứu hộ người đàn bà kia. Người nhảy cầu đang gào lên tên của một ai đó. Jeremiah bước lại gần hơn muốn nghe rõ tên người được gọi, muốn có được chút thông tin đó để sau này dùng. Dùng việc gì thì anh chưa biết, nhưng anh biết cái tên có một giá trị, một tầm quan trọng. Cái tên đó, sở hữu chủ của cái tên đó, chính là lý do tại sao người đàn bà kia đang đứng trên thành cầu. “Aaron,” bà ta thốt lên. Người nhảy cầu hét to. “Aaron.” Ngồi trong xe, Mary Lynn không thể thấy Jeremiah hay người đàn bà, nhưng lại có thể thấy có hơn chục người xuống xe chạy ùa về phía trước. Bỗng nhiên cô cảm thấy chắc chắn một cách không thể nào có được là chồng mình là nguyên do của việc cấp cứu. Anh đang hấp hối, Mary Lynn nghĩ, anh đã chết.Tôi đâu muốn thế, cô nghĩ, đây không phải là lý do tôi đã cắm sừng anh, tôi đâu muốn chuyện xảy ra như thế này. Thấy có thêm nhiều người lái khác xuống xe và chạy ào về phía trước, Mary Lynn vội bấm 911 trên máy điện thoại di động, nhưng chỉ nghe được tín hiệu đường dây bận mà thôi. Cô mở cửa, bước ra khỏi xe, nhưng chỉ mới đặt một chân lên lòng đường thì ngừng lại. Người nhảy cầu đã không ngừng. Bà quay mặt lại nhìn đám đông vây quanh đang chăm chú nhìn bà. Bà nhìn vào những khuôn mặt vô danh, nhìn thẳng vào cổ họng họ, rồi quay lại nhìn dòng nước đen ngòm phía dưới. Và bà ta lao mình xuống. Jeremiah tung chạy về phía trước, cùng với một vài người khác, cúi nhìn qua thành cầu. Một người đàn ông can đảm phóng người qua thành cầu xuống dòng sông bên dưới, cố cứu người đàn bà nhưng vô vọng. Jeremiah đã chặn một thanh niên tóc đỏ không cho hắn nhảy xuống cầu. “Đừng,” Jeremiah bảo, Nước lạnh lắm. Anh cũng sẽ chết thôi.” Jeremiah nhìn chòng chọc vào dòng nước đen ngầm ở phía dưới, đưa mắt tìm người đàn bà và người đàn ông nhẩy xuống cứu. Ở trong xe, đúng hơn là chân trong chân ngoài, Mary Lynn rơi nước mắt. Chúa ơi, cô yêu anh ấy thật mà, đôi khi vì anh là người da trắng, nhưng rất nhiều khi chẳng phải vì cái màu trắng ấy chút nào. Trong cơn sợ hãi, cô đã tìm ra thêm một chân lý mà Sitting Bull đã không thấy: ít ra còn có một người da trắng có thể tin cậy được. Dòng sông đen ngòm chìm trong im lặng. Jeremiah chăm chăm vào cái im ắng đó. “Jesus chúa ơi” một người đàn bà xinh đẹp đứng cạnh anh thốt lên. “Bà ấy là ai? Là ai?” “Tôi sẽ không bao giờ bỏ vợ đâu.” Jeremiah nói. “Cái gì?” người đàn bà xinh đẹp hỏi, vẻ lúng túng. “Vợ tôi,” Jeremiah trả lời, mặt tươi tỉnh một cách lạ thường. “Tôi sẽ không bao giờ bỏ vợ.” Vốn có đầu óc một nhà khoa học và toán học, Jeremiah biết rất rõ vợ mình là một hằng số. Lòng nhẹ nhõm anh đã tìm ra một chân lý khác mà Shakespeare chưa bao giờ biết: trọng lực đã bị đánh giá quá cao! Jeremiah nhìn lên những thanh sắt ngang dọc trên đầu, nhìn bầu trời đêm đen ngòm, nhìn những đám mây mắt không thể thấy nhưng anh biết chắc chúng hiện hữu đâu đó, những đám mây vô hình đang che lấp những vì sao. Anh cất tiếng gọi to tên vợ, gào đến khản cổ, hôm sau nói không thành tiếng. Ở trong xe, Mary Lynn đập mạnh tay lên vành lái. Vẫn chân trong chân ngoài, cô liên tục nhấn còi. Cô phân vân không biết có phải đó là cách để dứt một đời hay không, lúc mọi người mắc kẹt trên cầu, trong khi dòng nước đen ngòm cuồn cuộn dưới chân. Ở giữa cầu, bốn nhân viên cứu cấp đến quá trễ. Hụt hơi, kiệt sức sau khi phải chạy gấp qua cầu cùng với dụng cụ y tế và băng ca, họ chỉ có thể đứng nhìn cùng với đám đông bên thành cầu mà thôi. Một chiếc tàu, một chiếc tàu nhỏ, một phép lạ, bập bềnh trên mặt nước đen. Họ đã tìm ra được người đàn ông nhảy xuống tìm cách cứu người đàn bà, nhưng họ lại không thể tìm ra người đàn bà kia ở đâu cả. Jeremiah rẽ đám đông, chạy xa khỏi nơi người đàn bà đã nhảy. Anh chạy băng qua cầu cho đến khi anh có thể thấy Mary Lynn. Trong khoảng cách xa xôi đó, hai người đã yêu nhau.

bài đã đăng của Sherrill Alesiak


Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)