Trang chính » Biên Khảo, Tư Liệu Email bài này

Lá thư văn nghệ gởi một người vừa mới quen

 

 

 

Long Xuyên, ngày 08 tháng 4 năm 2010

Thưa anh Tô Thẩm Huy,

Trước hết, tôi xin cảm ơn anh cho tôi đọc bài thơ anh làm chúc thọ nhạc phụ của anh nhơn mừng sinh nhật lần thứ 82 của cụ vào năm 2002, cách nay đã tám năm rồi; và nay được biết cụ đang ở vào tuổi 90 mà sức khoẻ cùng tinh thần luôn minh mẫn, tráng kiện, tôi mừng vô cùng. Bài thơ năm chữ, dài 14 đoạn, tôi rất thích đoạn này:

Vườn xưa nơi An Hữu
Hương nhãn nồng tuổi thơ
Gió sông Tiền mát lạnh
Rửa hồn ta bụi nhơ

Nếu ai có lần đã qua vùng An Hữu nằm bên kia con sông Tiền Giang ngày xưa làm sao mà lòng không khỏi bồi hồi mỗi bận nhớ về một vùng vườn cây ăn trái mát rượi nơi này qua những mùa màng. An Hữu là nơi mà khách phương xa có lần đi ngang qua chuyến bắc Mỹ Thuận bên dòng nước Cửu Long vào những năm sáu, bảy mươi năm trước không ai mà không khỏi trầm trồ đây là một miền cây trái xanh tươi biết chừng nào! Nào là long nhãn, xoài cát, ổi xá lị, mận da người quằn nhánh, trĩu cành. Đối với dân quê như tụi tôi nghe anh kể “Gió sông Tiền mát lạnh, Rửa hồn ta bụi nhơ” nghe như chính mình trải qua bao mùa gió mưa mà lòng vẫn ấm, vẫn êm đềm, mát mẻ vì bao nhiêu bụi trần bay sạch hết rồi; chỉ còn lại gió từ bến sông mát rượi lùa vào vườn cây như bản nhạc tình vương vương mùi nhớ thiết tha và có thể nói thiên nhiên là một trong những gì quí báu mà tạo hoá đã ban tặng cho con người ý nghĩa nhất .

Thưa anh,

An Hữu vào những năm thập niên 50 dù có loạn lạc nhưng tương đối còn an bình, đến những năm 60, 70 đất nước đang chìm vào chiến tranh; khoảng đường dài từ Cai Lậy, Cái Bè, An Hữu, Giáo Đức trên quốc lộ 4 rồi chạy dài theo con đường tỉnh lộ đổ về hướng Cao Lãnh là cả một vùng chiến tranh bao phủ với những mô đất sáng sáng nằm chắn giữa đường, những dấu tích chiến tranh trên những tàn cây, ngọn dừa, cùng nhà cửa xác xơ rải rác khắp cùng… Thế mà người dân miệt vườn ở đó vẫn miệt mài lo vét mương lập vườn trở lại mỗi khi tiếng súng vừa ngừng nơi những bãi chiến trường. Nhờ họ mê một đời sống trồng cây lập vườn ngay giữa những mùa binh biến ấy mà khách qua đường mỗi bận có dịp ngồi xe đò đi ngang qua vùng An Hữu là thấy sức sống nơi những vườn tược xanh xanh trùng trùng quằn trái trĩu cành ấy một sức sống bền bĩ biết dường nào ! Và rồi từ những năm cuối thập niên 1950, rồi đầu những năm 1960 ấy cũng từ các vùng An Hữu, Hoà Lộc, Vĩnh Long, Bến Tre những giống cây trồng được ghép tháp như nhãn, xoài cát, cam sành, quit hồng, bưởi năm roi và nhiều giống cây ăn trái khác … bắt đầu lan toả ra khắp các vùng sông nước miền Tây, làm thành một thời lên liếp lập vườn nơi những vùng đất bị ngập lụt hằng năm thêm nhộn nhịp, góp phần cùng với các vùng Lấp Vò, Lai Vung (Sa Đéc), Bình Minh (Vĩnh Long), Long Sơn (Châu Đốc), Mỹ Hoà Hưng (An Giang), Tân Lộc Đông, Tân Lộc Tây thuộc Thốt Nốt, rồi Ô Môn, Cái Răng, Phong Điền (Cần Thơ) và các làng mạc nơi các cù lao nằm giữa sông Hậu Giang chạy dài ra cửa biển thuộc các tỉnh Cần Thơ, Sóc Trăng… làm thành những vùng vườn cây ăn trái sầm uất bên cạnh những cánh đồng lúa bạt ngàn nơi xa xôi cuối đất Nam Việt này vậy!

Thưa anh,

Đặc tính của đời sống dân quê miền Tây Nam Phần nói chung và vùng An Hữu của cụ nói riêng, là nó luôn lấy cái nét bình dị làm nền, lấy cỏ cây làm bạn, lấy mây nước làm thú vui tao nhã và đối với họ công danh sự nghiệp chỉ là phù du, hư ảo. Vì thiệt tình ra, sống ở miền quê là sống với thiên nhiên, một thứ thiên nhiên hiền hoà và tươi mát biết dường nào. Cái lòng yêu thiên nhiên bẩm sinh ấy của dân quê chính là do trời đất đặt để như vậy. Ở mỗi nơi chốn có một cái nền của nếp sống, nó khế hợp với những con người trong môi trường sống ấy, không làm sao cắt nghĩa nổi những đắm đuối của con người với đất- trời, cỏ-cây, mây-nước ấy. Một người chưa hề ngủ qua đêm trên những mái chòi, trại ruộng, bờ đìa , sân lúa vào những ngày cắt gặt, tát đìa, làm lóng vào tháng hai, tháng ba hoặc họ chưa bao giờ ngủ qua đêm nơi những cánh đồng nước ngập , hoặc một vài bến sông vào những lúc giăng lưới, giăng câu vào tháng tám, tháng chín, tháng mười thì họ không làm sao tưởng tượng được cái chốn chân quê ấy nó có sức quyến rủ gì mà cuốn quyện những con người sanh ra và lớn lên từ các làng quê ấy đến độ họ cho dù bao nhiêu tuổi đời, trải qua bao bận phế hưng mà vẫn mang mang trong lòng nỗi niềm tha thiết nhớ về những bến bờ thân ái ấy! Quả giống như câu thơ anh viết:

Ta sống đời bình dị
Lớn lên cùng cỏ cây
Công danh hề hư ảo
Vui thú cùng nước mây

Và rồi, đọc tiếp mấy đoạn sau của bài thơ chúc thọ, tôi mới thấy thấp thoáng trong thơ anh cái ý niệm về đời người nơi một cụ già miền quê vùng An Hữu, nó bao gồm cả một phong vị sống rất thanh tao mà nghiêm cẩn, rất giản ước mà phải dày công khổ luyện. Tất cả những tứ thơ trong những đoạn thơ bên dưới tôi xin ghi lại đây, nó hàm chứa cả một nhân cách của người nhà quê đã trải qua hơn tám mươi năm tuổi đời với biết bao bận bể dâu dời đổi mà nhân cách ấy vẫn không dời đổi chút nào, một nhân cách mà theo tôi, đó là nét đẹp của những hương đồng cỏ nội, của bông sen, bông súng, của hương cau, hương bưởi tỏa hương sắc ngọt ngào ở nơi những người nhà quê già nơi miền Tây nước Việt mình vậy!

Ta yêu ngày thanh thản,
Nuôi cá đá, trồng lan,
….
Ta giữ lòng ngay thẳng,
Không lừa dối gì ai,
….
Ta sống lâu trăm tuổi,
Hay sống đến nghìn năm,
Chuyện trên đời sống chết,
Há gì phải bận tâm.

Nhìn mấy lần dâu biển,
Trải mấy cuộc đổi thay,
Ta sống không ân hận,
Không oán sầu mảy may.

….

Ơn đời, ôi vô lượng.
Tạ ơn đời chắp tay.

Thật thế, thưa anh, qua những câu thơ mà tôi vừa trích, nó cho một kẻ hậu sinh như tôi có cùng sông nước với cụ nhận ra rằng ở nơi chốn vườn cây ruộng nương bát ngát ấy nó mới hun đúc nên được cái tâm hồn dạt dào nhân ái, bao dung, độ lượng với cuộc đời, với tha nhân chan chứa bằng chính những từng trải của mình. Dường như nơi nào cái nền lễ nghĩa còn thì nơi đó những nét tươi sáng trong con người vẫn còn, và nơi nào vật chất văn minh lấn át đời sống, nơi đó giá trị đạo đức cần phải được giáo dục mới có được; vì nghĩ cho cùng, cái văn minh thuộc về vật chất ấy nó luôn luôn hiển hiện và hấp dẫn nên ai cũng thấy, cũng biết, cũng dễ bị mê hoặc; còn cái đạo đức là phần tinh tuý của tâm hồn, nên nó nằm sâu trong tấm hồn mỗi con người, nên khó nhận biết nếu mình không có tấm lòng rộng mở. Phải có tấm lòng yêu cuộc đời, yêu tha nhân, yêu thiên nhiên mới mong đồng cảm với những bát ngát hương hoa của một người sống ngoài tám mươi, chín mươi như nhạc phụ của anh vậy!

Thêm vào đó, cái nền lễ nghĩa nơi các làng quê vào những năm xa xưa ấy một phần nữa nó còn được tô bồi bằng việc thờ phượng Thánh Thần, Trời Phật qua các đình miếu, chùa chiền, những nơi chốn trang nghiêm ấy là một trong những biểu tượng của sự kết hợp giữa các đấng thiêng liêng với con người một cách hài hoà; nó chẳng những phù hợp với đời sống tinh thần của dân quê mình vốn coi Trời Đất là trọng, mà còn là biểu hiện một quan niệm về đời sống thuận cùng Trời Đất và hợp Con Người lân láng vậy ! Tôi cũng xin được gợi nhớ ra đây những lời dạy từ các trang sách rầt cũ của các bậc thánh hiền như Minh Tâm Bửu Giám, Quốc Văn Giáo Khoa Thư; những trang sách rất cũ và thật là đơn sơ mà hàm súc ấy, nó rất thâm thuý mà gần với làng quê, nó rất cao siêu mà thiết thực trong đời sống thường ngày của cư dân nơi những miếng ruộng, mảnh vườn quanh năm xanh một màu xanh của thiên nhiên tươi mát ấy… Trải qua nhiều đời, từ ông Cố, ông Nội tôi, rồi đến đời Tía Má tôi, tôi còn giữ được mấy trang sách Minh Tâm Bửu Giám này được nẹp bằng hai thanh tre với chỉ gai kết lại là một trong những vật quí báu còn sót lại qua biết bao mùa binh biến, những trang sách có tuổi thọ nhiều hơn tuổi đời những người cùng thế hệ với tôi mà tôi đã được học từ những ngày còn nhỏ, cũng xin gởi kèm theo đây như một di tích về cái nền đạo nghĩa ở nhà quê vùng làng Tân Bình tôi qua gần trăm năm ấy đến bây giờ. Tất cả, đó có thể gọi là những tinh chất làm nền cho một phong vị sống đẹp của dân quê miệt vườn ruộng miền Tây Nam Phần từ những năm xa xưa ấy vậy.

clip_image002

Quyển Minh Tâm Bửu Giám đời xưa

Dịp này, tôi cũng xin ghi lại sáu bài kệ của cụ Bùi Xuân Hoà, một nhà Nho thuộc làng Cái Tàu Thượng, bên bờ con sông Tiền chảy ngang vùng Chợ Mới (An Giang) làm và được khắc trên bảo tháp hình lục giác của Ngài Yết Ma Trụ Trì chùa Tân Phước Tự làng Tân Bình (Lấp Vò) (1) cách nay gần trăm năm để anh xem qua ngõ hầu bổ khuyết thêm về nhân cách một bậc chân tu đắc quả cùng lòng ngưỡng vọng của các nhà Nho đời sau nghĩ về Ngài khi Ngài viên tịch. Sáu bài kệ lần lượt như dưới đây:

Bài thứ nhất:

clip_image002[8]

Phiên âm:

Tảo ngộ luân hồi ấu xuất gia
Mang mang khổ hải thoát trùng ba
Thiên ban xảo kế hà trù hoạch
Nhứt cá chơn thành tự trát ma
Ngũ uẩn giai không ly hoả trạch
Lục trần bất nhiểm tựu ngưu xa
Danh trường lợi tẩu vô tâm luyến
Lâm mạng chung thời thượng bửu toà.

Bài thứ hai:

clip_image004

Phiên âm:

Khiêu xuất phàn lung mãnh tỉnh nhân
Kiền thành lễ Phật tự ân cần
Oai quyền lung lộc đô vi giả
Nhẫn nại từ bi nãi thị chân
Mỗi bả huệ đăng tầm giác lộ
Tương thừa bửu phiệt độ mê tân
Tam quy ngũ giới thừa tông chỉ
Tinh tấn nhứt sanh bất nhiễm trần.

Bài thứ ba:

clip_image002[10]

Phiên âm:

Phú quý vinh hoa nhược mộng hồn
Trượng phu cứu kiến Phật vi tôn
Xả thân cầu đạo hành thiền hạnh
Tu kỷ lợi tha học phạm tông
Bối ngụy tùng chơn vi thiện đạo
Khử tà qui chánh nhập từ môn
Hữu vi chi pháp chung giai thoại
Nhứt điểm huyền quan vĩnh đắc tồn.

Bài thứ tư:

clip_image004[6]

Phiên âm:

Chí tôn vô thượng Phật đàn tràng
Tham ngộ thiền tâm đắc tịnh an
Đoá tỵ mê đồ huy huệ cự
Viễn ly khổ hải phiếm từ hàng
Lục thông cụ hữu quy thiên trúc
Tứ tướng giai không xuất thế gian
Lao lục hồng trần hà đắc hữu
Tiêu diêu tự tại Phật liên ban.

Bài thứ năm:

clip_image002[12]

Phiên âm:

Tu trì Phật đạo quý kiên tâm
Vô thượng vô biên hựu thậm thâm
Phần nhiệt đàn hương xưng địa tạng
Phi tuyên bối diệp niệm Quan âm
Pháp vương thùy huấn thông hà nhỉ
Giáo chủ lưu truyền quán cổ kim
Tịch diệt hư vô vô thống chữ
Tức tâm tức Phật đạo đương tầm.

Bài thứ sáu:

clip_image004[8]

Phiên âm:

Thế gian tứ khổ kỷ nhơn tri
Đặc đạt phương năng hối ngộ chi
Lục độ ân cần vô thiểu giải
Tứ đề miễn lệ bất dung khuy
Kim cang bất hoại thiên thu tại
Bửu tháp trường tồn vạn cổ thùy
Viễn cận đàn na giai ngưỡng mộ
Bổn sư xuất thế dĩ tây quy.

Thưa anh,

Qua các trang MinhTâm Bửu Giám và sáu bài kệ nơi chù Tân Phước Tự làng Tân Bình (Lấp Vò) mà tôi vừa nhắc làm tôi sực nhớ lời Ngài Viên Chiếu trong cuộc đối thoại về Thánh và Phật:

Có tăng hỏi: Phật với Thánh, nghĩa nó thế nào?
Sư đáp:
Ly hạ trùng dương cúc
Chi đầu thục khí oanh
(Cúc trùng dương dưới giậu.
Oanh thục khí đầu cành.) (2)

….

Theo giáo sư Lê Mạnh Thát trong Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam: ”Qua cuộc đối thoại này quan hệ giữa Phật và Thánh, tức giữa Phật giáo và Nho giáo được xác định dưới dạng một quan hệ tình thế, nghĩa là tùy theo từng tình thế cụ thể, mà Phật giáo hay Nho giáo có thể được vận dụng để đáp ứng lại nhu cầu của tình thế đó…. Cũng vậy, vận dụng Phật giáo và Nho giáo vào từng tình thế cụ thể của đời người thực không dễ dàng chút nào… Vì vậy, vận dụng Phật giáo và Nho giáo vào từng tình thế cụ thể của cuộc đời là cả một nghệ thuật, vừa là một khoa học. Là khoa học, vì nó đòi hỏi một sự tính toán chính xác. Nhưng đồng thời nó là một nghệ thuật, vì nó yêu cầu một sự tinh tế nhạy bén của tâm hồn từng cá nhân.”(3)

Nhưng, thưa anh, khi sống với thực tế nơi làng quê Tân Bình của riêng tôi và cũng có thể cả những làng quê các vùng khác thuộc miền Tây Nam phần dưới này nữa, sự kết hợp giữa Thánh và Phật trong đời sống của cư dân các làng quê là một hòa hợp tự nhiên, thân thiết giữa hai khía cạnh tu thân và học đạo như là một cách sống an vui bất tận của con người nơi các vùng quê heo hút từ thuở xa xưa ấy. Và cái nét đặc sắc ở đây là tôi muốn nhắc đến tính chất chơn chất của căn gốc nông dân khi biết phối hợp giữa Thánh và Phật trong đời sống là vì cái đẹp của cuộc đời chứ không mảy may nào về sự mê tín thường tình ở đời. Chính đó là nền của mọi đạo đức, lễ nghĩa và được tổ tiên truyền lại cho con cháu nhiều đời sau làm hành trang sống ở đời.

Thưa anh,

Về việc yêu thiên nhiên của dân quê mình, thiệt tình ra nó không lấy gì làm mới và cũng không lấy gì làm khó khi tìm kiếm qua phong cách nhà quê của họ. Chỉ có điều người ta mỗi khi nhắc đến dân quê ai ai cũng nghĩ rằng hạng người dốt ấy có gì cao siêu mà phải bận tâm nghĩ ngợi làm gì ! Chính vì cái ý niệm có sẵn trong các tầng lớp người khoa bảng nặng phần “lý tính” ấy mà họ đã đánh mất những “cảm tính” rất dễ thương của một con người vốn luôn luôn muốn chìm vào cái cõi thiên nhiên tươi mát của những làng quê ruộng đồng ấy. Thế nên, nhiều lúc tôi nghĩ khi một ai luôn đặt nặng phần “lý tính” trong cách nhìn, cách sống, cách hiểu về con người, về thiên nhiên, về mọi việc, người ấy vô tình hoặc cố ý chối bỏ cái chất lãng mạn làm người của mình trong thế gian này một cách oan uổng.

Ngược thời gian, xin mời anh thử nhìn một chút về các bậc tiền bối trong dòng văn học Việt Nam thời Nguyễn triều, có ai yêu thiên nhiên say đắm bằng cụ Nguyễn Khuyến. Chính vì cái lòng yêu thiên nhiên say đắm đó nó làm cho tình cảm con người gần gũi với cỏ cây, chim chóc, trời nước thênh thang rồi tràn ra thành những vần thơ bất hủ như các bài Thu Điếu, Thu Vịnh, Thu Ẩm mà người đời sau mấy trăm năm vẫn mãi hoài ngưỡng mộ. Ngưỡng vọng thiên nhiên giúp cho dân quê Nam Việt vui hưởng đời sống điền viên như một cách sống an bần lạc đạo vậy. Tức là sống với cảnh nghèo mà vẫn giàu cái thanh tao, an lạc; sống với cái chân quê mà chừng như thanh thoát cõi nào!

Là một người sanh ra nơi làng quê, sống với làng quê qua những mùa binh biến, rồi chạy loạn tản cư cũng chạy lên những cánh đồng lác hoang vu; đến khi lớn lên đi học, đi làm năm ba năm rồi cũng trở về làng quê làm ruộng cày bừa, giăng lưới, giăng câu sống cùng bà con chòm xóm quê mùa đằng đẵng mấy mươi năm, thì thử hỏi làm sao tôi có thể xoá bỏ cái chất nhà quê bùn phèn trong tôi được. Người ta sanh ra ở đâu sẽ hấp thụ cái tinh chất ở vùng đất đó cho tới già đời; đừng ai mong mình sẽ là tiên khi mình sinh ra nơi ruộng lúa bùn lầy, lung vũng. Cái chính là mình biết lấy cái lung vũng, bùn lầy ấy làm cái chất tinh tuý ngọt ngào bao la bát ngát của thiên nhiên nuôi sống mình lớn dậy. Đó chính là cái tinh chất làm nên nét đặc thù của mỗi con người, mà ai không dám nhận, hoặc chối bỏ nó thì là một lầm lẫn, một mất mát mà không cách gì tìm kiếm lại được ở kiếp này hay kiếp khác sau này…

Vì gốc gác là một nông dân nên tôi rất mê cái phong cách yêu thiên nhiên, thương người làm ruộng của cụ Tam Nguyên Yên Đổ biết bao. Ngoài ra, tôi cũng đọc đi đọc lại bài thơ “Làm ruộng ở Vị Xuyên” của Vương Duy, đời Đường bên Trung Hoa mà lấy làm thích thú:

Vị Xuyên Điền Gia

Tà dương chiếu khư lạc,
Cùng hạng ngưu dương qui.
Dã lão niệm mục đồng,
Ỷ trượng hậu kinh phi.
Trĩ cấu mạch miêu tú,
Tàm miên tang diệp hi.
Điền phu hạ xừ lập,
Tương kiến ngữ y y.
Tức thử tiễn nhàn dật,
Trướng nhiên ngâm thức vi. (4)

Xin phép diễn nghĩa xuôi:

Làm ruộng ở Vị Xuyên

“Bóng chiều tắt nắng làng quê. Trâu dê lần lượt quay về nẻo xa. Cụ già chống gậy hàng ba. Ngóng mong bọn trẻ về qua, mục đồng. Trĩ kêu khi lúa đầy bông. Tằm kia ngủ hết lá dâu thưa dần. Bỏ cày, dân ruộng nghỉ chân. Chờ người qua lại chuyện gần chuyện xa. Cảnh nhàn thấp thoáng hiện ra. Ngâm câu ca cổ vui hòa “thức vi”.

Thêm vào đó, thưa anh, cùng với bài thơ trên, tôi cũng thích tám bài thơ làm ruộng của Tô Đông Pha, có tựa là “Tô Đông Pha bát thủ” không kém. Bởi có trải qua những năm tháng lưu đày vô vọng nơi đát ngập rừng hoang dài đằng đẵng bảy năm trời rồi khi trở lại làng quê làm ruộng trong cảnh bần hàn mình mới cảm được những nỗi niềm của Tô Đông Pha qua những ngày làm ruộng ở Hoàng Châu. Ngài Tuệ Sỹ khi bàn về tám bài thơ “Tô Đông Pha bát thủ” này có viết:

“Tám bài thơ thuật sự, nên chương pháp như một bài tản văn. Lời thơ và tình tự, chất phác và nồng nàn. Ở đây có thể thưởng thức tài làm thơ lão luyện của ông. Và cũng có thể nghe được đâu là tâm tình dịu ngọt của một nhà thơ. Ông nói tới những công lao cực nhọc của người làm ruộng, những lo lắng khi trời hạn hán. Tại đó ông có ba người bạn nông dân thân thiết, bác Phan, bác Quách và bác Cổ. Thú đồng quê cực nhọc mà tựa như nhàn. Hai câu kết trong bài thứ nhất là hứng thơ như mạch ngầm chảy suốt qua cả tám bài:

Vị nhiên thích lỗi thán
Ngã lẫm hà thời cao

Buông cày đứng than thở
Kho lúa bao giờ đầy ?” (5)

Nhắc đến Tô Đông Pha không thể không nhắc đến giai thoại sau đây khi ông bị đày đến đảo Hải Nam như để nhớ về một tư cách:

“Một hôm ông đội một quả dưa lớn vừa hát vừa đi từ ruộng về nhà. Một bà lão khoảng bảy chục tuổi, thấy ông, hỏi đùa: “Quan Hàn lâm, có thời ngài làm đại thần ở triều. Bây giờ ngài có thấy mọi sự như một giấc mộng xuân không ?” Từ đó hễ gặp bà ta, ông gọi là bà Mộng Xuân.” (6)

Và rồi, học giả Nguyễn Hiến Lê kết thúc quyển sách của ông qua lời kết: “Khổng Tử khen Bá Di, Thúc Tề là người hiền thời cổ, cầu nhân mà được nhân, không có gì ân hận. Đông Pha chính là hạng người đó. Chúng ta trọng tư cách của ông cũng bằng trọng văn thơ ông. Vì có tư cách đó thì mới có văn thơ đó được.” (7)

Thưa anh,

Để kết thúc lá thư này nhân đọc bài thơ của anh chúc thọ ông Ngoại của các cháu, tôi mãi nghĩ trong lòng về phong cách của cụ: phong cách của một bậc tiên sinh đạt đạo, rất đáng kính vậy.

Ta sống lâu trăm tuổi,
Hay sống đến nghìn năm,
Chuyện trên đời sống chết,
Há gì phải bận tâm.

Nhìn mấy lần dâu biển,
Trải mấy cuộc đổi thay,
Ta sống không ân hận,
Không oán sầu mảy may.

Theo thiển ý của tôi, nghĩ cho cùng, dù ngày xưa hay thời nay, cái “nhân cách” dù là “nhân cách nhà quê” đi chăng nữa cũng là điều đáng trân trọng trong mỗi con người sống trong kiếp người này. Phải thế không, thưa anh Tô Thẩm Huy?

Kính thư,

Lương Thư Trung


Phụ chú:

1/ Theo“Lịch Sử Khẩn Hoang Miền Nam” của Sơn Nam, do Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản, không thấy ghi năm, trang 115, ghi : ”Làng Tân Bình được lập từ đời Gia Long, theo địa bộ Minh Mạng thứ mười bảy, thôn Tân Bình, thuộc Tân Phú tổng, Đông Xuyên huyện, Tân Thành phủ, tức vùng lấp Vò, thuộc tỉnh An Giang, lúc bấy giờ tổng cộng các hạng điền thổ trong làng Tân Bình là 208 mẫu.”

2/ Theo “Lịch sử Phật Giáo Việt Nam”của Lê Mạnh Thát, nhà xuất bản thành phố HCM, năm 2001, tập 2, trang 647.

3/Lịch sử Phật Giáo Việt Nam,(sđd), tập 2, trang 650

4/ Theo bản in trong sách “Vương Duy chân diện mục” của tác giả Vũ Thế Ngọc, do nhà xuất bản EastWest Institute Press, California, Hoa Kỳ, năm 1987, trang 172.

5/ Trích trong “Tô Đông Pha Những Phương Trời Viễn Mộng” của Tuệ Sỹ, Ca Dao xuất bản lần thứ nhất năm 1973, Sài Gòn, Việt Nam; Sông Thu, California, Hoa Kỳ tái bản năm 1991; trang 206.

6/ Trích trong “Tô Đông Pha” của Nguyễn Hiến Lê, lời Tựa, tác giả ghi “Sài Gòn, ngày 3-9-1969”, Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản không thấy ghi năm, trang 276.

7/ Tô Đông Pha của Nguyễn Hiến Lê,(sđd), trang 287.

bài đã đăng của Lương Thư Trung


9 bình luận »

  • dau le viết:

    Bài viết cô đọng nhiều chân tình của người lục tỉnh và cái nghĩ và đức tình ngàn đới ông cha mong con cháu giữ gìn.
    Xin hỏi là sao các bản chữ Nho đều viết từ trái sang phải và từ trên xuống dưới theo quốc ngữ mà không theo kiểu thường lệ của chữ Nho(trên-dứơi,phải -trái)

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Vừa đọc “trộm” xong lá thư trên, đã nhận ra thấp thoáng 1 thiên đường trong tâm hồn ai đó ở miền lục tỉnh. Tuy không phải là người miền Tây nhưng tôi đã có dịp du ngoạn vượt qua 2 con sông Tiền, sông Hậu để về tới tận ….. Hà tiên. Vì thế không khỏi bồi hồi khi thấy tác giả nhắc đến khung cảnh và những con người tốt bụng “quê mùa” ở đó !
    Cám ơn Tác giả !

  • Lương thư Trung viết:

    Thưa bạn Dau Le,

    Trước nhất, xin thành thật cảm ơn bạn đã đọc “lá thư..” và chia sẻ nhận xét của bạn về bài viết.
    Thứ đến, về cách viết chữ Nho, nay làng Tân Bình quê tôi các cụ nhà Nho thế hệ Tía tôi không còn ai. Anh Năm Triễn, con của thầy Bảy Hiển trong làng là một bậc  uyên thâm chữ Nho, anh cũng đã mất cách nay năm năm, lúc anh 82 tuổi. Nhà Nho cuối cùng của làng Tân Bình là thầy Bảy Lạc vừa mới mất hồi năm ngoái, thọ 90 tuổi. Thành ra, tôi không biết hỏi ai để nhờ giải thích giùm vì sao các bài kệ được viết “từ trái sang phải và từ trên xuống dưới” như vậy. Nhưng theo thầy Lưu Khôn dạy môn Hán Văn khi tôi còn đi học Ban Việt Hán trường Đại học Văn khoa Cần Thơ bốn năm mươi năm trước thì cách viết chữ Nho, thấy dạy như  sau:(1)

    Phép viết(thư-pháp:

    1.-
    Cách cầm bút (chấp bút pháp):
    Thường ta cầm bút lông theo lối “song câu” (song là hai, câu là móc), nghĩa là hai ngón trỏ và ngón giữa nằm ở phía trước cán bút. Khi ta viết, ta phải cầm bút cho thẳng, cho chắc, nhưng ngón tay phải mềm mại, uyển chuyển.
    2.-
    Cách viết:
    a) Viết cho thuận
    :
    _ Nét: phần trên trước,  dưới sau.
    _Nét phần trái trước, phải sau.
    Ngoại lệ: những chữ như bộ “Đao” : con dao, bo “Điêu”  trong “điêu đẩu” (một thứ đúc bằng kim loại lớn bằng cái đấu, ngày dùng nấu cơm, tối thì gõ cầm canh; hoặc nghĩa “điều ác, khéo lừa dối như “điêu ngoan”; và bộ “Lực”, như sức lực, mục lực, quyền lực,  mã lực, bút lực, lực điền, viết “phải trước, trái sau“.
    _ Nét phần ngang trước, sổ sau.
    Nét phần giữa trước, hai bên sau nếu cân xứng.
    Nét phần ngoài trước, trong sau.
    Ngoại lệ:
    _
    Nếu phần bên ngoài là chữ “khẩu” hoặc “vi” thì nét thứ ba của chữ này viết sau cùng, tức là sau khi đã viết phần bên trong xong, rồi mới viết chữ “khẩu”, “vi”.
    _ Nếu phần bên ngoài là bộ “xước” hoặc “sước” như Vu, Hất, Tấn, Truân, Nghênh…., và bộ “dẫn”  như Diên kỳ, Diên niên, Diên sư, Diên tân,, diên thọ, diên trì, diên trường…, thì phần trong viết trước, rồi mới viết bộ “xước”, bộ “dẫn “sau.

    b) Viết cho đẹp:
    _ Nét ngang phải ngay.
    _ Nét sổ phải thẳng.
    _ Chữ viết phải đều đặn.
    _ Các phần của chữ phải sắp xếp cho nghiêm mật (không để hở, trống), chỗ nối tiếp phải gọn gàng.”(1)

    Ngoài ra, trong sách  của thầy, khi ghép chữ thành câu, các ví dụ thấy cho cứ ghép “từ trái sang phải”, như bài thơ Lâm Giang Tống Hữu của Đổ Phủ:

    “Bi quân lão biệt lệ triêm cân
    Thất thập vô gia vạn lý thân
    Sầu kiến châu hành, phong hựu khởi
    Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân.” 

    Tôi cũng xem lại các sách như dẫn trong bài, ví dụ “Tô Đông Pha Bát Thủ“, thầy Tuệ Sỹ cũng viết và đọc “từ trái sang phải” tám bài thơ này. Rồi tôi cũng lục lại các bài thơ cổ như Ngụ Ý của Nguyễn Bỉnh Khiêm, hoặc bài thơ của Lý Thường Kiệt làm khi chống nhau với quân nhà Tống với câu thơ bất hủ “Nam quốc sơn hà Nam đế cư”, hoặc bài “Theo vua về kinh đô”của Trần Quang Khải với câu mở đầu :”Đoạt sáo Chương dương độ,”; hoặc như bài “Phong – thổ An – bang” của Lê Thánh Tôn, cũng viết “từ trái sang phải”:

    “Hải thượng cao phong quần ngọc lập,
    Tinh la kỳ bố thúy tranh-vanh
    Ngư diêm như thổ dân xu lợi;
    Hòa đạo vô điền thuế bạc chinh.
    Ba hướng sơn-bình đê xứ dũng;
    Chu xuyên thạch-bích khích trung hành.
    Biên manh cửu lạc thừa binh hóa,
    Tứ thập dư niên bất thức binh.”

    Bản dịch của Đông Châu:

    Tron-von ngọc chuốt ngất cao phong,
    La-liệt như sao núi trập-trùng.
    Cá muối lời dân nghề sẵn có;
    Chiêm mùa thuế ruộng nhẹ như không.
    Lô-xô lớp sóng sườn non vỗ;
    Len-lỏi con thuyền kẽm đá thông.
    Hơn bốn mươi năm nhuần đức hóa,
    Thừa binh nào biết cuộc binh-nhung.”

    (Khảo về Địa-dư và lịch-sử tỉnh Quảng Yên, N.P.t. XIV số 84)(2)

    Qua các ví dụ mà tôi vừa lục tìm lại, từ đó tôi nghĩ các bài kệ nơi chùa Tân Phước Tự làng Tân Bình (Lấp Vò) viết theo thứ tự “từ trái sang phải” cũng là hợp lẽ vậy.
     
    Vài hàng cùng bạn và một lần nữa xin chân thành cảm ơn bạn về ý kiến này,vì nhờ đó mà tôi có dịp đọc lại những bài thơ xưa rất thâm thúy, nay rất khó tìm thấy.

    Trân trọng,
    LTT

    Phụ chú:
    1/ Sách “Tự Học Chữ Hán” của giáo sư Lưu Khôn, do Nhà Khai Trí xuất bản, Sài Gòn, năm  1965, trang18, 19, 20 và 21.
    2/ “Việt Nam Văn Học Sử Yếu” của giáo sư Dương Quảng Hàm, do nhà Xuân Thu (Hoa Kỳ) tái bản, không thấy ghi năm tái bản; sách viết năm 1941, không thấy ghi năm và các nhà xuất bản trước kia, các trang 262, 263.

  • hoàng-xuân sơn viết:

    Đọc Lương Thư Trung lúc nào cũng thấy dạt dào tình quê. Cám ơn nhà văn, nhà giáo mình vẫn luôn trân trọng giữ gìn chút nghĩa cũ càng của quê cha đất tổ! Anh đã về ở hẵn? Mừng “chân quê” về lại “chân quê” .

    Quý mến,
    HXS

  • Lương thư Trung viết:

    Mến chào anh Trịnh Trung Lập,
    Hẹn gặp anh một buổi chiều nào đó nơi bờ kinh, bờ đìa vùng Lấp Vò, hoặc Mặc Cần Dưng (Long Xuyên), hay Phú Hòa, Vĩnh Chánh  quân Châu Thành (An Giang) mình lai rai vài xị rượu nếp than với chuột khìa nước dừa hoặc khô cá lóc nướng lửa than thơm phức vậy. Cảm ơn anh.

    Kính,
    LTT

  • Trinh - Trung Lap viết:

    Kính Anh Lương Thư Trung !

    Dạ,Lập xin tiết lộ thêm với Anh do yêu “văn hóa miệt vườn” lắm nên Lập cũng đã từng tìm đọc “trộm” bức tâm thư của Anh với Bác sĩ Ngô Thế Vinh (đề ngày :Lấp Vò, 19/9/2007) trong đó Anh chia sẻ nhiều nét văn hóa của huyện Lấp vò với những bài kệ chữ Hán, ẩm thực, đời sống giao thương sông nước, …. Nay,nghe Anh giới thiệu thêm món chuột khìa nước dừa, khô cá lóc nướng lửa than nhấm với rượu nếp than khiến Lập nóng lòng muốn về lại miền Tây lần thứ hai để thưởng thức mấy món tuyệt chiêu đó và diễm phúc nhất là được hóng chuyện với nhà văn, nhà giáo Lương Thư Trung !

    Nhất định Lập sẽ tìm Anh trong ngày về lại “cố hương” đó !

    Kính Anh ! Chúc Anh 1 ngày thật vui !

    TTL

  • dau le viết:

    Kính gửi anh Lương Thư Trung,
    Cám ơn anh đã giải thích cách viết của GS Lưu Khôn. Anh có học ban Việt Hán nên nói vanh vách, tui chịu thôi. Vì hồi nhỏ học Đệ Thất và Đệ Lục phải học Hán Văn và khoái Việt Văn nên tui chỉ để ý thôi. Sach của của VN thì hiện tại tui không có chi hết, hồi còn ở VN thì bán cân ký lấy tiền ăn hay phải đem đốt trước khi người ta xét nhà lấy đi cũng vậy thôi(tui là dân miền Đông). Hồi những năm 80 lúc muốn đọc sách củ của VN chỉ vào thư viện YengChing( Boston) mới có, sau nầy rời Boston, huề trớt.
    Thấy anh nói vậy tui coi lại cuốn Kim Vân Kiều của Bùi Kỹ & Trần Trọng Kim thì cũng thấy các thí dụ các câu thơ đều viết từ trái sang phải, ngoại trừ bài Thất ngôn bát cú của Phạm Quý Thích lại là trái-phải, trên dưới.( Tui không biết nghĩa chi hết trọi chỉ nhìn và d0án mò).Chắc là vì để cho ta đọc theo cách quốc ngữ hay là vì ta muốn viết theo ta chớ không theo Tàu?.Hồi nhỏ tui thấy Câu Ba (anh của Má tui) có mấy cuốn sách thuốc tiếng tàu đều đọc từ sau ra trưốc hết.
    Một lần nữa cám ơn anh cho thêm nhiều bài thơ thật hay, mà tui vẫn khoái bài thơ anh đã dẩn trong bài viết chánh, nó bùi ngùi làm sao khó nói quá. DLe.

  • Lương thư Trung viết:

    Kính chào các anh Hoàng Xuân Sơn, Trịnh Trung Lập và Dau Le,

    Xin chân thành cảm ơn các anh đã đọc và chia sẻ những nhận xét chí tình làm tôi vô cùng mừng; mừng là vì những chuyện nơi miền quê vẫn còn có những tâm hồn yêu mến, cảm thông và chia sẻ với người làm ruộng. Hồi năm rồi tôi có thử ghi lại “những mùa màng ngày cũ”, gồm những mùa màng cách nay sáu bảy chục năm như một bức tranh quê qua những mùa màng nơi vùng lúa mùa ngày trước với lời mở:


    Nói đến nhà quê là nói đến mùa màng. Một năm, theo thời tiết vùng gió mùa, ở nhà quê cũng có những mùa màng hợp với  thiến nhiên, trời đất. Do vậy tháng nào mùa nấy như trong ca dao “tháng hai trồng đậu, tháng ba trồng cà…”. Ngày xa xưa ấy, những năm tháng còn làm lúa mùa, mỗi năm một mùa lúa duy nhứt, nên ở nhà quê miệt Long Xuyên, Châu Đốc có những mùa màng mang cái đặc tính của vùng lúa mùa. Với đà tiến bộ về mọi mặt ngày nay của khoa học và nông nghiệp, mùa màng ngày xưa bị xáo trộn nhiều. Có nhiều mùa ngày nay hoàn toàn khác biệt với những ngày cũ. Do vậy, loạt bài viết về các mùa màng này như những chuyện xưa được kể lại hầu mang đến cho các bạn trẻ một chút hương xưa, như một kỷ niệm lâu rồi, rồi chợt nhớ lại mà bồi hồi. Ở đây không mang tính văn chương học thuật và nó cũng không phải là những tài liệu dùng để tham khảo khi cần, mà là những chất liệu qua những ngày mùa  mà người viết đã sống qua và làm công việc mùa màng bằng chính đời sống nông nghiệp nơi chốn thôn quê của mình có đến mấy mươi năm…”

    Tập bản thào này dày khoảng 350 trang, chẳng hạn như Mùa xoài; Mùa cày bừa và phát cỏ; Mùa sạ lúa; Mùa cằt gặt; Mùa làm lóng, tát mương, tát đìa; Mùa làm mắm, làm khô; Mùa bắt lươn, bắt lịch; Mùa soi cá; Mùa bắt cóc , bắt nhái; Mùa giăng câu; Mùa giăng lưới;mùa cá lên đồng;  Mùa cá ra sông; Mùa chất chà và dỡ chà;  và còn nhiều mùa khác nữa… Nếu các anh thấy thích và nếu tạp chí chí Da Màu không chê, tôi sẽ đọc lại tập bản thảo này và thêm những chỗ thiếu sót hoặc bỏ bớt những chỗ dư thừa cùng sửa các lỗi chánh tả, hoặc lỗi đánh máy cho các trang viết tàm tạm coi được một chút và thỉnh thoảng xin được gởi chia sẻ cùng các anh và các bạn đọc gần xa như một chút tình quê còn sót lại nơi người nhà quê già này vậy.

    Một lần nữa xin chân thành cảm ơn ba anh rất nhiều.

    Kính thư,
    LTT 

  • hoàng-xuân sơn viết:

    Rất nên ! Nên lắm anh Luơng Thư Trung à . Và tôi tin Da Màu cũng sẽ đồng ý đăng tải loạt bài Mùa Màng của anh .
    Xin cám ơn và chúc lành .
    HXS

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)