Trang chính » Biên Khảo, Giới Tính, Nhận Định Email bài này

Góc độ thân thể trong văn chương đồng tính

yukio_mishima_san_sebastianthumbnail

MỘT VÀI NHẬN ĐỊNH ĐỂ KẾT THÚC CHUYÊN ĐỀ GIỚI TÍNH TRÊN DA MÀU

“Chúng tôi là những đứa trẻ xanh xao nở ra từ trứng ấp lạnh” – người thanh niên nói, trầm tư, khuôn mặt hốc hác vì thiếu ngủ nhìn quanh căn phòng ngổn ngang nhạc cụ. “Âm nhạc của chúng tôi là âm nhạc của mặt trăng”

(Trích từ truyện vừa chưa hoàn thành của Trần Thiện Huy “Âm nhạc của mặt trăng – Phóng sự trên một tờ báo lá cải địa phương”).

Tại sao lại phải miễn cưỡng trích dẫn từ một truyện chưa viết xong để bắt đầu bài viết này? Vì khi tự nhìn lại, nó nổi bật lên như một dẫn chứng về những hạn chế có tính mâu thuẫn của bản thân người viết, một người đàn ông “bình thường”, có khuynh hướng dị tính luyến ái, khi muốn thử biểu tượng hoá người gay như một dấu hiệu cho những bi kịch vô hình và những hứa hẹn bất tận của thời đại chúng ta. Điểm đấu tiên người ta nhận thấy từ hình ảnh người nhạc sĩ gay ở trên, chính là một định kiến tiềm thức luôn liên tưởng sự vắng mặt của khả năng sinh sản với sự hiện diện của yếu đuối tật bệnh, với một trạng thái quá tinh tế đến mức mong manh ít nhiều giống như anh em nhà Usher trong truyện ngắn của Edgar Poe. Khi người ta viết về, ví dụ, một người kéo chuông nhà thờ gù lưng, đúng là người ta cảm thấy một sự liên hệ rất tự nhiên, một tính cách “không tránh khỏi” về sự trùng hợp giữa nghề nghiệp và dị tật của anh ta; nhưng có lẽ hiếm có một hình mẫu nhân vật nào mà “hợp lý” theo cách ấy hơn người nghệ sĩ gay; nó không còn một tính cách cụ thể tách biệt ra khỏi tập hợp những người gay, và cũng có một hơi hướng gì gần như mang dấu ấn khái quát về con người nghệ sĩ. Tôi không biết là trong tiềm thức của chúng ta, một người gay mà có bản chất nghệ sĩ là một chuyện bao nhiêu phần trăm hiển nhiên so với một vị linh mục mà theo Cơ Đốc giáo; một người nghệ sĩ mà gay thì chắc chắn có tỷ lệ sự hiển nhiên thấp hơn, nhưng cũng không phải là quá khó cho một người nghe với chút ít trí tưởng tượng coi nghề nghiệp nghệ sĩ thời nay như dấu hiệu có khả năng một người mang khuynh hướng đồng tính, và chắc chắn là dễ dàng hơn nhiều cho người nghe ấy liên hệ ngay khuynh hướng đồng tính của một người với nghề nghiệp và tính cách nghệ sĩ. “Người nghệ sĩ gay” đã trở thành một hiện thực gần như tương đương với “người gay”, và đấy là một sự khám phá thẩm mỹ về họ, và một sự an ủi cùng lúc với một sự trói buộc vô hình giành cho họ đến từ nền văn học dị tính – không nhất thiết phải là văn học do người dị tính viết, nhưng là văn học được tưới tắn từ trí tưởng tượng dị tính.

Độc giả có thể nhìn thấy ngay điều đó xuyên suốt qua chuyên đề giới tính của tạp chí Da Màu, đang bước vào điểm kết thúc, cũng như từ khoảng dưới 20 năm gần đây, khi văn học Việt Nam bắt đầu sáng tác về đề tài giới tính. Trong khi đối với châu Âu thời Victoria, tha nhân, kẻ ngoài vòng (tạm dịch khái niệm “the Other”), “người xa lạ” của Camus, chính là phương Đông, vừa mê ly huyền hoặc, vừa man dại đơn thuần, thì đối với chúng ta ngày nay, đến lượt những người đồng tính làm “con người kia”, con người khác với chúng ta. Nói như vậy không có ý muốn vạch một lằn ranh đối nghịch như Edward Said đã làm với cuốn “Đông phương học”; lại càng không phải để dán những cái nhãn giá trị lên tác phẩm của các nhà văn Việt viết về đồng tính luyến ái (nhất là những nhà văn đã ưu ái gửi bài cho Da Màu) – những cái nhãn có tính xét đoán như “hiểu v. ngộ nhận”, “thông cảm v. xét đoán”, “trong cuộc v. ngoài cuộc” để đánh giá cách họ hình tượng hoá đồng tính. Thiết nghĩ, nếu coi đây là một vấn đề, thì nó cũng thuộc về cấu trúc diễn ngôn của thời đại, chứ không phải sự biểu hiện những hạn chế của một cá nhân hay tập thể, như thói thích áp đặt, như sự bất an trước những khác biệt, như sự lãng mạn hoá hay lòng quan tâm giả tạo… Vì những lẽ ấy, rất mong không tác giả nào hiểu bài viết này như sự phê phán, nhất là phê phán những giới hạn cảm thông và sự hiểu biết của mình đối với đồng tính luyến ái.

Thật vậy, trong những tác giả mà tôi nhắc đến ở đây – vì tôi chỉ được biết họ qua trang viết chứ không phải trong đời tư – rất có thể có những vị vì lý do này khác mà gần gũi và hiểu rõ người đồng tính hơn tôi rất nhiều. Vấn đề ở chỗ là, cảm quan của con người về bản chất luôn đi kèm với những giới hạn, những lằn ranh, và ta cũng phải cám ơn điều đó vì sâu xa hơn, đó là bản chất mâu thuẫn chứa đầy khả năng sáng tạo của tự nhiên. Cảm quan thẩm mỹ lại càng đòi hỏi tính chất mâu thuẫn đó – chỉ nhờ nó, mà đồng tính luyến ái duy trì được sự tồn tại, như một đối tượng đầy cảm hứng cho hoạt động hư cấu hoá của nhà văn. Khởi điểm ở vị thế của người đồng tính như “the Other” có thể là một góc độ phiếm diện hay phi thực, nhưng cũng đồng thời là góc độ duy nhất tạo được kịch tính và cái đẹp cô đọng, gay cấn cho đề tài này.

Trở lại với câu chuyện đang viết dở và cái cá nhân người viết của bản thân tôi. Những trải nghiệm đã tạo nên một người viết dị tính quan tâm và viết về đề tài đồng tính là cả một câu chuyện rất phức tạp và nảy sinh từ vô số mâu thuẫn, và tôi nghĩ là tạo nên một người viết như vậy mà thành công còn đòi hỏi thêm nhiều phức tạp và mâu thuẫn hơn thế. Một trong những cách tốt nhất để tìm hiểu thân phận của người đồng tính, tức là những gì xảy ra ngoài vòng một cái rìa vô hình, chính là bắt đầu từ những gì xảy ra ở bên trong cái vòng ấy, tượng trưng cho điểm khởi đầu của tất cả và điểm ngừng nghỉ vĩnh viễn cho đa số: thế giới trắng đen của người nữ và người nam, cổ điển, thuần túy. Sự phát triển của thân thể luôn luôn đồng hành với sự phát triển về một liên hệ thân thể với đồng loại; trong trường hợp đối tượng khác phái tính, vấn đề chỉ đơn giản là sự thu hút theo khuynh hướng giao cấu. Nhưng đối với người đồng giới – và ở đây tôi chỉ phát biểu trên phương diện nam giới là chủ yếu – đó là một quan hệ đầy sự phòng thủ.

Ở một lứa tuổi tương đối trưởng thành tổng kết lại, người đàn ông thấy mình đã có nhiều cảm nhận giác quan về thân thể người nữ hơn của những người đồng giới, dù cho tiếp cận được với người nữ là một quá trình chinh phục nhiều thử thách. Mặc nhiên, trong quan hệ với người đồng giới, thân thể nam giới được chia làm hai phần: những khu vực “an toàn” được ấn định cụ thể trong phép xã giao, trong cái bắt tay, vỗ vai… và khu vực còn lại, những bộ phận “nam tính” một cách chân thật nhất, dồi dào lẽ sống đàn ông, đầy đặc tính sinh lý, khu vực “triển lãm” trong sự giao tiếp ý tưởng để thu hút người khác phái. Không khó gì đoán ra được, đó là những vùng nhạy cảm kích thích tính dục (erotic zones), những vùng có cấu tạo cơ bắp nổi bật, tạo nên nhân dáng đặc biệt nam tính, chẳng hạn như lồng ngực… Hứng thú với cuộc ‘triển lãm” không giành cho mình mặc nhiên là một dấu hiệu lệch pha, một sự lựa chọn giới tính. Đôi khi tôi không khỏi so sánh một cách lệch lạc giữa sự cấm kỵ không dám đụng chạm hay quan sát kỹ thân thể người đồng tính nam giới với sự cấm kỵ không đụng vào lửa. Cả hai đều làm cho chúng ta căng thẳng với một sự kích thích, một thách thức từ bên trong thôi thúc muốn phạm cấm suốt một thời gian dài của tuổi thơ, nhưng rồi sẽ từ từ trở thành quen thuộc và nhập dần vào ý thức như một bản năng tự nhiên. Sự cấm kỵ của luân lý, của sự giáo dục về giới tính đã trở thành một cái gì đó mang tính sinh tốn một cách căn bản như sự cấm kỵ của chính thiên nhiên vậy. [1]

Lấy ví dụ một trường hợp nổi bật nhất trong văn học Việt Nam nhắc đến thân thể nam giới và sự thu hút của nó, thậm chí còn đặt như một lộ tuyến chính cho mạch truyện. Đó là tiểu thuyết “Trống Mái” của Khái Hưng. Một lý do nhà văn quá cố cảm thấy một sự thoải mái hơn mức bình thường khi miêu tả những cơ bắp của anh Vọi chính là vì ông đang cố tự biến mình thành một cô gái trẻ, để dễ mô tả cảm xúc và tình cảnh của cô ta. Thế mà ông cũng chỉ có được một đoạn khá ngắn, gượng ép thiếu sắc bén, gần như để nói cho xong cái yếu tố thân thể anh Vọi mà ông buộc phải đưa vào để câu chuyện tiến triển (chưa kể đến những yếu tố “thông minh” mà ông lập đi lập lại như để “thuần hoá” nhân vật).

Người ta không khỏi so sánh những mô tả của ông về cô Hiền trên bình diện thân thể kỹ hơn, thẩm thấu đều và rộng hơn khắp cuốn tiểu thuyết. Và cách ông đập tan hình ảnh lý tưởng của anh Vọi, một cách tàn nhẫn và hơi cay độc, tuy hoàn toàn cần thiết để kết thúc tác phẩm, và có thể coi như thông cảm với anh Vọi, nhưng không khỏi làm người ta cảm giác một thái độ khắc kỷ và một ẩn ý muốn tẩy xoá đi thân thể người nam giới:

Giữa lúc ấy, một người nhà quê đi chân không, đầu chụp cái khăn lượt cũ, mình mặc chiếc áo lương dài rụt rè tiến vào phòng, ngơ ngác sợ hãi nhìn quanh…. Lưu nói tiếng Pháp bảo mọi người:

– Con ‘khỉ đột thuần thục’ của cô Hiền.

Hiền cũng dùng tiếng Pháp cãi lại:

– ‘Con khỉ đột’ của tôi khỏe, đẹp hơn tất cả các anh

Trong bút pháp của những nhà văn dị tính, tôi nhận thấy một sự cách điệu hoá, phi thực hoá thân thể người đàn ông khi phải nhắc đến nó. Dường như đó là một thân thể ảo, một diễn xuất trong màn kịch nào đó, hay một biểu tượng/ ký hiệu, và nhà văn tiếp xúc với thực tế của nó với một phản xạ rụt phắt bàn tay lại khi vừa đụng vào lửa. Người nghệ sĩ gay là một điển hình mẫu (archetype) quen thuộc và dễ chấp nhận với chúng ta, vì họ gần như chỉ tồn tại phần hồn; phần xác, phần thân thể của người gay rất ít được nhắc tới, nhất là từ những góc độ sinh lý, vì họ vẫn mang thân thể nam giới nên các nhà văn nam không muốn quan sát họ, và các nhà văn nữ không chú ý đến họ lắm về mặt này – tôi mạo muội đoán khi chưa có nhiều cơ sở để khẳng định lắm.

Trong các chức năng cảm nhận của nhà văn, giác quan là chức năng thờ ơ nhất trước loại chất liệu văn học này. Bản thân tôi là một người rất tâm đắc với quan niệm rằng một người viết văn là người còn giữ được phần nào đứa bé ngày xưa trong mình; đến giờ đây, tôi lâu lâu vẫn gần như không kìm nổi ý muốn chạm tay vào lửa xem nó thế nào. Cũng thế, tôi thường băn khoăn không biết cái cảm giác đụng vào lồng ngực nổi vồng hay bắp tay săn chắc của một người đàn ông khác ra sao… Với những giới hạn ấy, không tránh được Yukio Mishima, một nhà văn duy trì nếp sống dị tính, nổi bật lên trong lịch sử văn học với khả năng xây dựng một thế giới nhục thể đầy những nội dung “gay”, tưởng như đòi hỏi một hệ giác quan tinh tế vượt bậc so với bình thường – hay đúng hơn, một hệ giác quan ít bị đè nén khác thường, đi đôi với một ý thức ưu ái cái thẩm mỹ tự nhiên của nam tính:

…trên quầng ngực cường tráng vồng lên như đôi khiên với hai núm vú đo đỏ ở đầu. Từ nách và chùm lông chìm khuất dưới cơ bắp to chắc của vai và ngực toát ra mùi dìu dịu buồn buồn; như thể từ nơi êm ái này rỉ ra, bằng cách nào không biết, tinh chất của sự yểu mệnh. Làn da trần trung úy ánh ngời như đồng lúa mạch chín vàng, trên khắp người bắp thịt chắc nịch nổi lên lồ lộ rồi cùng tụ lại trên bụng, quanh chấm rốn nhỏ kín đáo. (Ưu quốc)

Mishima là một tài năng văn học, hẳn thế, nhưng những bối cảnh xã hội của ông, cả bẩm sinh lẫn chọn lựa, đã góp phần. Đó là truyền thống duy mỹ cực đoan, tôn sùng thân thể của người Nhật bản, mà sự va chạm, cọ xát, vô hình chung khơi gợi những rạo rực sinh lý giữa những người nam giới trong cuộc luyện tập như một thứ hành lễ của thứ tôn giáo trên, được mô tả, chẳng hạn, qua không khí bềnh bồng mộng ảo dưới đây trong truyện ngắn “Nhu thuật sư đồ ký”:

… giấc mơ khi đang dạy Nhu Thuật cho Itsuchi Tora Jiro trên một cách đồng rộng lớn. Thân thể mảnh dẻ trắng toát của Tora Jiro đẫm đầy mồ hôi lấp lánh dưới ánh nắng. Tora Jiro đang bị hai cánh tay lực lưỡng ghì chặt lấy.

– Sao nào, hãy thử thoát ra khỏi đôi tay này xem.

Đôi môi của Hachiro Zaemon thì thầm vào bên tai, hơi thở Tora Jiro càng lúc càng dồn dập. Hachiro Zaemon như say trong mùi thân thể nồng nặc của đứa học trò yêu.

– Sao nào, thử xem nào… (Nhu thuật sư đồ ký – Ikenami Shotaro).

Thú thật là tôi chưa có dịp đọc bất cứ tác phẩm nào của Hồ Trường An. Nhưng qua phỏng vấn của ông, tôi đoán được sự thoải mái của ông khi nhắc đến thân thể nam giới xuất phát từ sự thanh thản của ông sau khi đã nhìn nhận khuynh hướng tính dục của mình. Hiếm khi chúng ta thấy loại chất liệu này được xử lý với một ánh sáng chan hoà, với dạng khuôn mẫu chất phác, hồn nhiên như thế này, thay vì với không khí nặng nề, tranh tối tranh sáng, như những ẩn dụ mộng mị về mặt trái của con người:

…nam nhân vật tuy có tên Việt như Cảnh, Hạo Minh, Tường Ngọc, Huy Châu v.v…, nhưng tôi mường tượng qua các chàng kép có thân vóc cường tráng mỹ lệ.

Bao giờ cũng vậy, khi viết tiểu thuyết không bao giờ tôi dám giết những nhân vật đẹp trai dù các đương sự cùng hung cực ác đi nữa…. (Phỏng vấn Hồ Trường An – Sống theo cái đức)

Sở dĩ tôi đã đi khá sâu vào sự xuất hiện của thân thể nam giới trong văn chương dị tính nói chung, và sự xuất hiện của thân thể nhân vật gay nói riêng, cũng như hình tượng người nghệ sĩ gay như là người gay bị tách mất phần xác cho thích hợp hơn với khuynh hướng văn chương Việt, đó là vì tôi nghĩ đây là một góc nhìn có thể đem ra thử nghiệm khi phân tích những tác phẩm viết về giới tính lệch pha lâu nay, nhất là những tác phẩm trong chuyên đề giới tính của Da Màu. Thật vậy, chúng ta có mối duyên nợ rất sâu nặng với hình ảnh người đồng tính như một phần hồn rất thân thuộc với tác giả và độc giả, trong một thân xác xa lạ – motif đồng tính luyến ái như sự vong thân (alienation). Người đồng tính trong các tác phẩm văn chương Việt thường giống như một nghệ sĩ, sáng tạo bằng phương thức đảo lộn trên chất liệu lớn lao nhất là cuộc đời mình, là sự sinh tồn và tình cảm sâu kín nhất của mình. Và tác phẩm của họ luôn là một sự hỗn độn một cách phi lý và đau khổ, sự hỗn độn của hình ảnh, cảm giác và màu sắc. Thân thể của họ yếu đuối, tâm hồn họ tha thiết, và số phận của họ như mơ hồ chịu một sự dàn xếp điên rồ.

Hoàng Chính, trong tác phẩm “Người quan hoạn”, đã mô tả thân thể người đồng tính bị biến dạng đi dưới những bàn tay giằng xé, bóp nặn, xô đẩy tua tủa xung quanh mình. Có thể coi như đây là tác phẩm thể hiện tài tình nhất ý thức hệ dị tính mà tôi vừa trình bày, ý thức hệ về thân thể ẩn dụ, thân thể diễn xuất (spectacular), ý thức hệ quan niệm đồng tính luyến ái như một sự vong thân, và, có lẽ ngoài ý muốn tác giả, một sự bất lực của thân xác. Cái dương vật của người quan hoạn, trong những sự vặn vẹo thống khổ của nó, một mình diễn màn kịch câm hình thể về dục vọng và ẩn ức:

Những ngón tay vẩy vẩy dương vật quan hoạn. Con chim rụt rè. Con chim yếu đuối. Nghiêng bên này, ngả bên kia, èo uột. Những người đàn bà cả đời chưa một lần nhìn thấy cái vật gây máu lửa trần gian. Khi nứng nó như thế nào nhỉ. Giọng nói thanh thanh. Người đàn ông thôi chống cự. Ừ, khi nứng lên nó ra làm sao hè. Những ngón tay lắc lắc miếng thịt mềm. Những đầu móng tay búng nhè nhẹ, khiêu khích.

Nhà văn nữ Trần Mộng Tú (xin nhắc lại, ý thức văn học dị tính đã trở thành một cấu trúc diễn ngôn xã hội – nó không đi kèm với bất cứ một điều kiện nào về cá nhân tác giả chẳng hạn như giới tính) đã tiếp cận khía cạnh spectacle này từ một hướng khác, coi đồng tính luyến ái không phải như một cảnh ngộ của thân thể, mà như một sự ngụy trang, một trò chơi tráo qua trở lại diện mạo thân thể (truyện Dạ vũ hoá trang). Có vẻ như đồng tính luyến ái trong trường hợp này là một hiện tượng bình lặng hơn, một tình huống trái khoáy đồng thời là một sự sáng tạo của cuộc sống. Tuy nhiên, bi kịch của một sự mâu thuẫn giữa thân thể và linh hồn vẫn xảy ra, khi trò chơi, khi sự sáng tạo làm thiên lệch thực tại bị đánh bại bởi sự quân bằng đối xứng tự nhiên trong thực tại. Ở đây, lần đầu tiên mối tương quan giữa người đồng tính nam và nữ được đặt ra, và có vẻ như được giải quyết trong một sự bế tắc nào đấy khi cô gái ôm quần áo bỏ chạy ra ngoài. Không có một sự luân chuyển tương giao giữa các vị trí đối xứng như triết học Đông phương thường ưa thích, mà là một sự xa cách, giữa hai cực là toàn thể khoảng cách của không gian “bình thường”. Tác giả Trần Mộng Tú, một cách nhẹ nhàng, vô tình đã khẳng định một phát hiện về sự nghiệt ngã trong số phận đồng tính luyến ái của Hoàng Chính, một sự nghiệt ngã rất phi lý vì đúng ra nó không đáng tồn tại, nhưng lại luẩn quẩn bất tán như một nỗi ám ảnh:

Thượng uyển dưới kia có cả một khu vườn đào như thế. Họ bảo nhau bây giờ người đàn ông ấy đã trở thành vô hại. Như con rắn đã bị lấy đi túi nọc độc chẳng còn gây tai họa được cho ai. (Người quan hoạn)

Cơn ác mộng lớn nhất trong văn học hiện đại, mà không đâu được thể hiện kỳ diệu như dưới ngòi bút Franz Kafka, như trong Hoá thân, Nhà trừng giới, là sự phân rã, biến dạng của thân thể – sự kinh hoàng không phải là đối diện với cái gì từ ngoài đến, mà là với chính con người bên trong của mình dần dần lộ diện. Đó có thể chỉ là sự tự bất mãn được kịch tính hoá, sự phát hiện một mầm mống tự hủy diệt, hay sự tương phản giữa diện mạo và thực trạng bị lột trần. Những tác phẩm vừa kể trên, duy nhất đề cập đến vấn đề thân thể người gay, đã không tiếp cận nó như trạng thái tự nhiên, như trong đời sống và sinh hoạt đồng tính (mà một điển hình là truyện chớp “Món quà” của Đỗ Lê Anh Đào đã làm với thân thể người lesbian), mà là mô tả nó giữa quá trình bị lột phanh, bị bóc bỏ, phơi bày ra những sự thật bi hoặc hài. Tôi có cảm giác rằng, vì những tiếp xúc thân thể giữa người lesbian có tính cách nhẹ nhàng, nên thơ hơn, lại phần nào phản ảnh những ấn tượng về tình mẫu tử trong quá khứ thơ ấu của người đọc, nên truyền thống thanh nhã của văn học Việt nam ít nhiều dễ dung hoà nó hơn là đối với người gay. Đứng từ góc độ này mà nói, các tác giả đã thành công to lớn trong việc đem lại kịch tính và ấn tượng văn học cho chuyên đề, cũng như đã miêu tả được khía cạnh xã hội và gia đình phức hợp của đồng tính luyến ái nam (qua hai truyện “Trong bóng tối” của Trần Mộng Tú, và “Cuối cùng, không còn lại” của Ngô Nguyên Dũng), nhưng vẫn hơi đáng tiếc là nó còn thiếu vắng một lời giải thích sinh động và trực quan (mặc dù đặt mục tiêu giải thích như một tiêu chí văn học thật sự có vẻ hơi tầm thường và thực tiễn) về con đường và cuộc sống của người gay.

Và đi xa hơn nữa, vấn đề thân thể lại có ý nghĩa gì sâu xa hơn đối với ý thức văn học? Tôi có thể đề cử ra muôn vàn ứng dụng, chẳng hạn như để tạo ra một ý vị hậu hiện đại mới cho văn học Việt Nam. Nhưng đồng thời, bên trong đó còn ẩn chứa vô vàn những ý niệm về sự giải phóng con người. Chẳng phải George Orwell đã nói trong 1984: “Nếu anh muốn nhìn thấy tương lai, hãy hình dung một chiếc giày bốt dậm trên một khuôn mặt – vĩnh viễn”. Một ẩn dụ chính trị, đúng vậy, nhưng cũng là một ẩn dụ dựa trên thân thể, diện mạo – một viễn ảnh của sự hủy hoại vị thế độc lập của con người. Cũng như một lý thuyết gia đường phố vô danh của phong trào tự do tính dục đã phát biểu một công thức tương quan đáng suy nghĩ: “Giải phẫu thẩm mỹ, đó là sự tuân phục; xăm mình, đó là tự tách biệt như một cá nhân (individualization).”


[1] Cũng xin nói thêm một chút về khía cạnh động học tâm lý (psychodynamic) của hiện tượng này: Nếu quả Freud đã đúng khi nói rằng những câu nói đùa có ý tục, những lời chửi thề… là sự biểu hiện của những nội dung tâm lý bị ức chế, thì ta có thể thấy rõ hơn những gì người viết vừa trình bày qua sự dồi dào những ẩn ý về thân thể trong ngôn ngữ bình dân Việt Nam. Xin kể ra đây một ví dụ thú vị: Người dân Bắc có câu này để chế diễu Tổng vụ Nghệ thuật Sân khấu: “Xem kịch Tổng vụ như sờ vú đàn ông”.

bài đã đăng của Trần Thiện Huy


2 bình luận »

  • Nguyễn Minh Vương viết:

    Văn dĩ tải đạo… Dù là người đồng tính hay không đồng tính, thì cái quan trọng là họ có làm cho cây đời nở hoa hay không kìa, tức là sau những miêu tả về thân thể, về những mặc cảm bị xã hội xem như một kẻ xa lạ, về những thỏa mãn giác quan… của các nhà văn đồng tính, thì cuối cùng, khi đã đi hết con đường đó, họ có dám một mình đối diện với hư vô của kiếp người không. Thiết nghĩ, văn chương đồng tính hay không đồng tính rồi cũng phải đối diện với hố thẳm, với hư vô, với cái chết, do vậy văn chương đồng tính có đủ sức mình để khai quang, khơi mở một nẻo đường mới, một phong thái mới của con người trong cuộc chiến sanh tử với hư vô không? Nếu văn chương đồng tính, chuyển tính khai phá được một tân dục đạo giống giống như Mật Tông, như Yoga thì lúc đó nó mới khả dĩ hoàn thành vận mệnh của mình.

  • Gia Khang viết:

    Vấn đề đồng tính là một vấn đề còn đáng phải bàn luận rất nhiều. Tuy hiện nay xã hội Việt Nam và cả ở một số nước đã có những cái cởi mở hơn, thiện cảm hơn, nhưng không vì thế mà những định kiến xã hội bớt phần kỳ thị.
    Lại nói về văn chương đồng tính, hiện nay theo tôi ở Việt Nam (tôi chỉ giới hạn ở Việt Nam)sự thật là chưa có dòng văn học đồng tính, nó chỉ là một hiện tượng mà thôi mặc dù trong những khoảng thời gian gần đây liên tiếp xuất hiện nhiều tác phẩm khá thú vị. Nhưng tôi lại thầm nghĩ rằng, chính những tác phẩm văn học đồng tính này sẽ mở ra những hướng đi, những con đường rất thuận lợi cho vấn đề mà chúng ta đang đề cập. Văn chương đồng tính hay không “đồng tính” thì chúng ta cứ hy vọng đó là những tác phẩm theo đúng nghĩa của nó. Cái gì cũng có sự khởi đầu và kết thúc, chỉ có điều chúng ta cứ hãy hy vọng vào những điều tốt đẹp nhất mà thôi.

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch