Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả Email bài này

John Maxwell Coetzee: nỗi đau là chân lý

 

 

 

j.m. coetzee

Chân dung nhà văn J.M. Coetzee

 

Ngày 2/20/2003, Viện Hàn Lâm Thụy Điển chính thức loan báo người đoạt giải Nobel văn chương 2003: nhà văn Nam Phi John Maxwell Coetzee. Tin này không gây nên ngạc nhiên đối với văn giới cũng như độc giả trên toàn thế giới như  trường hợp của Cao Hành Kiện (2000) và Imre Kertesz (2002) những năm trước đây. Coetzee đã là nhà văn có tầm cỡ thế giới từ gần 2 thập niên qua. Và sau khi ông đoạt giải Booker lần thứ hai với tác phẩm Disgrace năm 1999, thì  giải Nobel có phần chắc là sẽ về tay ông, không sớm thì muộn. Trong nhiều năm, có lẽ tên của Coetzee đã nằm trong danh sách chung tuyển.

Phát biểu sau khi công bố người đoạt giải, ông Horace Engdahl, thư ký thường trực của Hàn Lâm Viện, cho rằng chọn trao giải cho Coetzee là “một quyết định dễ dàng. Giá trị lâu dài của sự đóng góp của ông vào văn chương đã mạnh mẽ thuyết phục chúng tôi. Tôi không muốn nói về số lượng tác phẩm, mà là về tính đa dạng và phẩm tính trung bình tuyệt cao của chúng”.  Còn thông cáo báo chí của Hàn Lâm Viện Thụy Điển thì nhấn mạnh: “Chẳng có tác phẩm nào của ông giống tác phẩm nào. Đọc thật kỹ ta mới phát hiện ra tất cả là cùng một kiểu thức lập đi lập lại, là những chuyến du hành theo đường xoáy trôn ốc đi xuống mà ông xem là cần thiết nhằm cứu chuộc số phận các nhân vật của ông”. Nhưng các viên chức Hàn Lâm Viện cảnh báo: các nhà báo rất  ít có cơ may tìm ra ông để phỏng vấn. Họ cho biết họ đã không thể nào tiếp xúc được với ông để thông báo cho ông về việc đoạt giải trước khi chính thức loan báo ra ngoài, theo thông lệ.  Coetzee thường dấu rất kỹ tung tích của mình vì rất sợ tiếp xúc với truyền thông và công chúng. Mãi đến một ngày sau khi loan báo giải, người ta mới hay ông đang ở Chicago qua một bản tuyên bố do trường đại học Chicago, nơi ông đang làm giáo sư thỉnh giảng, đưa ra. Nhà văn cho biết ông biết tin đoạt giải khi đọc tờ báo buổi sáng ở Chicago. “Thật là quá sức ngạc nhiên. Tôi chẳng hề biết là sự loan báo đã bị đình hoãn”.

Tổng thống Nam Phi, Thabo Mbeki, ra ngay một bản tuyên bố ca ngợi nhà văn nhân danh nước Nam Phi và nhân danh toàn cõi lục địa Phi Châu. Nhà văn Gordimer – giải Nobel văn chương 1991, cũng là người Nam Phi – nằm trong số  những người đầu tiên ca ngợi sự chọn lựa của Hàm Lâm Viện Thụy Điển. Trả lời cho một cuộc phỏng vấn của hãng thông tấn AP, bà nói: “Ông ấy là một đồng nghiệp và là một người bạn và thật là tuyệt vời khi một lần nữa giải Nobel văn chương lại vào tay một nhà văn Nam Phi. Chúng tôi không tiếp xúc với nhau nhiều kể từ khi ông ấy chuyển sang Australia. Nhưng theo tôi, bây giờ ông đã đoạt giải, ông sẽ trở về với Nam Phi”. Bà cho biết ông Coetzee may mắn hơn bà. Khi bà thắng giải Nobel năm 1991, chế độ apartheid (1) vẫn còn hiện diện và tổng thống thời đó chẳng hề gửi cho bà một lời chúc mừng nào.

Nhưng không phải mọi người Nam Phi đều hãnh diện về ông Coetzee. Từ lâu trước đó tại Nam Phi đã nổ  ra một cuộc tranh cãi dai dẳng về sự nghiệp của nhà văn. Những người ngưỡng mộ ông thì xem như là một điều đương nhiên khi ông vẽ ra hình ảnh một nước Nam Phi tranh chấp chủng tộc và chính trị, trước cũng như sau khi chế độ apartheid sụp đổ. Trong lúc đó, những kẻ chống đối ông thì mỉa mai rằng ông đã tạo nên tên tuổi mình bằng cách bi kịch hóa thực trạng Nam Phi, rồi bỏ đi. Stephen Gray, một nhà thơ Nam Phi, cho rằng việc Coetzee di cư sang Úc vào năm 2002 như đổ dầu vào lửa cho cuộc tranh cãi. “Có thật là ông trung thành với đất nước hay không? Trong khi nhiều nhà văn nhà thơ cảm thấy đất nước cần có họ tích cực làm việc cho đổi thay thì ông Coetzee tỏ ra thờ ơ với mọi chuyện. Hầu hết những độc giả sành sõi đều cho rằng Coetzee là một nhà văn viết cho người nước ngoài đọc”, Gray phát biểu.

John Maxwell Coetzee, thường được gọi tắt là J.M Coetzee, sinh tại Nam Phi vào ngày 14 tháng 2/1940. Thân phụ là một công chức nhà nước và đồng thời cũng là một người chăn nuôi cừu. Khi Coetzee lên 8, cha ông mất việc vì bất đồng quan điểm với đường lối kỳ thị chủng tộc của nhà cầm quyền. Gia đình chuyển về ở một thành phố khác, Worcester. Mặc dầu sinh trưởng trong một gia đình nói tiếng Afrikaans (2) ở Cape Town, ông học một trường toàn Anh văn và vì thế, Anh văn trở thành ngôn ngữ chính thức của ông sau này. Nhưng dẫu vậy, ông vẫn nói thông thạo tiếng Afrikaans.  Năm 1960, ông tốt nghiệp cử nhân và sau đó, tốt nghiệp cao học tại Cape Town, ngành toán. Sau khi tốt nghiệp, ông sang Anh làm việc cho công ty “International Computers” phụ trách thảo chương cho máy vi tính. Năm 1965, ông qua Hoa Kỳ dạy Anh văn tại một trường đại học đồng thời tiếp tục học và tốt nghiệp tiến sĩ văn chương tại đại học Austin, Texas vào năm 1969. Sau đó, ông trở về Nam Phi, làm giảng viên văn học tại đại học Cape Town từ 1972 cho đến 1983. Trong những năm 1984 và 1986, ông qua Hoa Kỳ dạy học tại đại học tiểu bang New York ở Buffalo rồi đại học John  Hopkins và đồng thời là giáo sư thỉnh giảng tại Harvard vào năm 1991. Năm 2002, ông chuyển sang định cư ở Úc, trở thành viện sĩ  trong một chương trình nghiên cứu  của đại học Adelaide và là giáo sư  thỉnh giảng của một số đại học khác trên thế giới.

Ông là một người kín đáo, sống cô đơn, lặng lẽ, rất kỵ tiếp xúc với truyền thông và công chúng. Mọi giao dịch đều thông qua email. Theo nhà văn Rian Malan (Nam Phi), ông “là một người sống tự giác như một nhà tu khổ hạnh và hiến dâng. Không uống rượu, không hút thuốc, không ăn thịt. Ông đạp xe đạp đi rất xa để gìn giữ sức khỏe và ngồi ít nhất một tiếng đồng hồ tại bàn viết mỗi buổi sáng, đều đặn như thế bảy ngày một tuần. Một người bạn đồng nghiệp làm việc với ông hơn 10 năm nói rằng ông ta chỉ thấy Coetzee cười có một lần duy nhất”. Một người quen biết ông, đã từng đi ăn với ông cho hay ông chẳng hề nói một tiếng nào trong suốt nhiều bữa ăn. Lối sống bất thường đó có cái ưu điểm riêng của nó, tất nhiên là đối với ông. Không tiếp xúc nhiều và cuộc sống đi đây đi đó thường xuyên giúp ông rất nhiều trong việc viết lách vì ông tránh khỏi những va chạm trực tiếp với những xáo trộn của đất nước, đặc biệt là vào những lúc cao điểm của cuộc xung đột chủng tộc đẫm máu ở Nam Phi nhiều thập niên trước.

Nhiều người cho rằng lối sống đặc biệt đó là hậu quả do chấn động tâm lý của việc ly dị với người vợ trước năm 1980 và rồi cái chết của đứa con trai 23 tuổi vài năm sau đó. Có lẽ đúng một phần. Nhưng nếu đọc tập hồi ký Boyhood: Scenes From Provincial Life (1997), với cuộc sống thời thơ ấu được mô tả một cách chi li của Coetzee, ta sẽ tìm thấy nhiều điều liên quan đến thái độ sống của ông cũng như  nhiều vấn đề cốt lõi liên quan đến tình hình xung đột chủng tộc ở Nam Phi và sự chống đối quyết liệt chế độ apartheid bàng bạc trong hầu hết tác phẩm của ông.  Cũng cần nhấn mạnh ở đây, sự xung đột chủng tộc ở Nam Phi  không chỉ giữa người da đen và da màu với da trắng  mà cũng còn giữa da trắng và da trắng nữa. Trong số hơn 40 triệu dân, 75% là da đen. Chỉ có 13% dân số (khoảng 5 triệu rưởi người) là da trắng, số còn lại là da màu (da đen hoặc hợp chủng) và Ấn Độ. Trong suốt gần nửa thế kỷ, thiểu số da trắng đã thiết lập một chế độ kỳ thị chủng tộc thuộc loại tàn bạo và lì lợm nhất trên thế giới. Dân da trắng thống trị cũng không thuần nhất: một phần là người da trắng đã bị Phi-châu-hóa (africanized) gọi là Afrikaaners (xem phần ghi chú) và một phần là người da trắng định cư sau này. Trong một nghĩa nào đó, các tác phẩm của Coetzee thường được xem như là “hình tượng hóa” một phần nào tính phân liệt của người da trắng ở Nam Phi. Bản thân Coetzee, ông vẫn thường lên tiếng bảo vệ những người Afrikaaners chống lại những người da trắng khác, những người mà theo ông thì “thái độ hoàn toàn cố chấp, hẹp hòi, cách cư xử vô lương tâm và đời sống hàng ngày thì lười biếng”.

Trở lại với tập hồi ký. Boyhood: Scenes from Provincial Life được viết ở ngôi thứ ba, diễn tả Coetzee như là một đứa trẻ hay đau ốm lặt vặt, ham đọc sách và ma lanh. Cậu ta mê loại sách lãng mạn và anh hùng. Cậu sớm biết ngờ vực khi đối chiếu những gì mình đọc trong sách với thực cảnh bên ngoài: trong nhà là cuộc sống lặng lẽ, tẻ nhạt giữa cha và mẹ vì trải qua một cuộc hôn nhân không vừa ý, cảnh đứa tớ trai da màu (bạn chơi duy nhất của Coetzee ở nhà) bị đối xử tàn nhẫn bởi gia đình; ngoài xã hội, cảnh tàn bạo, bất công do chính sách phân biệt chủng tộc gây ra. Thời đó, cái ác hầu như lan tràn khắp xã hội và trong học đường. Thầy giáo Nam Phi nổi tiếng là rất tàn nhẫn khi dùng roi để trừng phạt học sinh. “Mỗi một thầy cô trong trường cậu ta theo học, đều có một cây roi và được tự do sử dụng nó. Mỗi một cây roi có một tính cách, một đặc điểm mà cậu học sinh nào cũng biết và bàn tán về nó không dứt. Biết rành như thế nên các cậu thường cân nhắc các đặc điểm của những cây roi và độ đau mà chúng gây ra, so sánh với cánh tay và cổ tay của thầy, cô nào sử dụng chúng. Chẳng đứa nào kể ra nỗi hổ thẹn khi bị gọi riêng ra, bắt cúi đầu xuống và bị đánh vào sau lưng” (3). Riêng Coetzee thì thường bị đám trẻ đồng chủng Afrikaaner trêu chọc, thậm chí hành hạ, dựa vào lý do tôn giáo. Có lần, vì cho rằng ông là một người Do Thái (Jew), hai đứa trong bọn chúng là Thiên chúa giáo (Christian) kéo ông ra góc sân bắt ông nuốt sống một con sâu, mặc dầu ông đã tự nhận mình là người theo Công giáo La Mã (Roman Catholic). Tóm lại, đối với ông, thời mới lớn tràn đầy cảm giác hỗ thẹn của một cái gì trái tự nhiên, thương tổn và méo mó, bất thường. Trường học, tuy bề ngoài không có gì, nhưng ẩn dấu bên dưới là nơi của tội ác, đau đớn và hận thù. Ông biết mọi chuyện diễn ra là sai lầm, chúng làm ông phẫn nộ. Ông bị chấn động nhưng cái lạ là ông tham lam muốn thấy nhiều hơn, muốn thấy tất cả những điều đã xảy ra. Về sau, khi được chuyển lên học một trường khác đàng hoàng hơn, ông không mấy thích. Vì chính đống tro tàn của cái tuổi thơ yếu đuối, bất thường đó đã hình thành nên bản ngã của ông. Cảm giác đó khiến ông không mấy thích thú khi bị bắt phải làm những bài luận Anh văn về thể thao hay về sự an toàn trên xa lộ. Nghĩa là phải viết những lời tán dương, một điều vừa không thực, lại vừa trái với bản tính mình. Ông muốn viết, khao khát được viết, nhưng không phải là những đề tài hạnh phúc như thế. “Cái mà cậu muốn viết nếu cậu có thể, ấy là viết về một cái gì tối tăm hơn, một cái gì mà khi đã bắt đầu tuôn ra từ ngòi bút rồi, tự động tràn ra trên trang giấy, giống như mực đổ. Giống như mực đổ, giống như bóng mờ chạy tràn ra trên mặt nước yên tĩnh, giống như ánh chớp lóe sáng cả bầu trời” (4).

Quả thật thế! Thế giới truyện của Coetzee là thế giới của bóng tối, của khổ đau, tuyệt vọng và những bất hạnh nhân sinh khác – hậu quả trực tiếp của chế độ phân biệt chủng tộc. Ông bảo: “Đau khổ là chân lý. Tất cả mọi cái khác đều đáng hoài nghi” (5). Hậu quả đó xuất hiện bàng bạc trong hầu hết các truyện dài của Coetzee, ngay cả trong những truyện được lấy khung cảnh từ các xứ sở khác. Đề tài căn bản trong các truyện dài của ông dính líu đến việc xét đoán những giá trị và đức hạnh xuất phát từ chế độ phân biệt chủng tộc của Nam Phi, cái mà, theo quan điểm của ông, “có thể xuất hiện bất cứ nơi đâu” như  thông cáo báo chí của Hàn Lâm Viện trích dẫn. Từ bi kịch của nạn phân biệt chủng tộc, ông đẩy lên thành bi kịch chung của con người. Vì vậy mà, trong số những nhà văn Nam Phi, Coetzee có lẽ là người độc nhất không muốn viết một cách trực tiếp về đời sống dưới chế độ apartheid. Trong những tác phẩm đầu, chỉ có truyện dài Age of Iron là có đề cập ít nhiều đến hiện tình – mà ngay khi đó, ông quan tâm đến sự chuẩn bị chết của một nhân vật nữ bị bịnh ung thư hơn là chết vì lý do chính trị.

Chính điều này đã gây ra một sự khác biệt giữa Coetzee với những nhà văn Nam Phi khác, đặc biệt là với Gordimer, nhà văn nữ đoạt giải Nobel năm 1991. Cùng với Alan Paton, Dennis Brutus, Athol Fugard, Gordimer theo truyền thống dấn thân của giòng văn học phản kháng Nam Phi thế kỷ 20, cho rằng văn chương hư cấu có thể tạo ra một thứ quyền lực đưa đến thay đổi về chính trị. Văn chương đóng vai trò thúc đẩy cho cách mạng sớm xảy ra. Vì thế, bà sẵn sàng tiếp xúc với báo chí, truyền thông, lên tiếng bênh vực cho quan điểm của mình. Bà xem chiến tranh và bạo động chủng tộc là chủ đề thường xuyên của tác phẩm và hiến mình cho nó, xem như một sứ mạng tất nhiên của nhà văn. Tóm lại, với Gordimer thì “văn dĩ tải đạo”. Coetzee, ngược lại, theo truyền thống của những nhà văn Âu Châu hiện sinh như Dostoevski hay Kafka, không tin rằng văn chương có thể có hiệu quả trên các biến cố.  “Tôi không cho rằng truyện là cách hiệu quả nhất để can thiệp vào các tiến trình đời sống chính trị hàng ngày. Viết một truyện dài đã quá tốn thời gian. Xuất bản một truyện dài cũng tốn nhiều thời gian. Mà truyện lại chẳng có mấy ai đọc. Truyện chẳng dính dáng gì đến các hiện thực chính trị hàng ngày như trong các nhật báo” (6). Ông viết về chiến tranh và bạo động không như một sứ mệnh mà như  là nạn nhân. Các truyện dài làm nên tên tuổi ông thường đắm chìm trong cảnh đau khổ, lo âu và ác mộng. Waiting for the Barbarians, chẳng hạn, ghi lại lời tự thú của một nhân vật không tên đảm nhiệm chức vụ là thẩm phán tại một vùng đất của một đế quốc vô danh phát động một cuộc chiến tranh chống các bộ lạc dân thiểu số. Lúc đầu ông không phản đối cuộc chiến. Nhưng rồi hối hận, ông quay sang giúp đỡ và ủng hộ kẻ thù như một hành động chuộc lỗi để cuối cùng bị hành hạ tàn nhẫn, y như kẻ thù. Life and Times of Michael K mô tả một người đàn ông sống cô đơn giữa một vùng hoang dã, sống qua ngày bằng cây trái để rồi cuối cùng bị bắt vì bị nghi là giúp đỡ những kẻ nổi loạn. Anh ta bị hành hạ, tra tấn và bị bắt lao động khổ sai.

Gordimer và Coetzee cũng khác biệt nhau về nhiều điểm khác nữa. Trong lúc Gordimer cởi mở phóng khoáng thì Coetzee kín đáo, ít nói; văn của Goedimer tuy khúc mắc, rắc rối, tĩnh lược nhưng vẫn đầy chất hiện thực xã hội, còn văn của Coetzee, tuy câu kéo đơn giản, dễ hiểu, dễ tiếp cận nhưng lãng đãng, xa xôi. Gordimer bám sát thời sự, luôn luôn đi gần với các biến cố, còn Coetzee thì lúc nào cũng cố gắng thoát khỏi sự ràng buộc của các chuyện thời sự, cái mà ông thường gọi là “the procedures of history” – tiến trình lịch sử. Gordimer viết về những người đứng giữa giòng lịch sử, tham gia tích cực vào đó để tố cáo, để tranh đấu, để phản kháng và có thể để thay đổi trong lúc Coetzee lại thích viết về những người “cố gắng làm hết sức mình trong khi lẫn trốn bên dưới giòng lịch sử hoặc trôi nổi bồng bềnh trên đó” (7). Trong một cuộc phỏng vấn hiếm hoi dành cho hãng “Associated Press” năm 1990, Coetzee phát biểu: “ Lịch sử của chúng ta dường như thể là có những người tầm thường bỗng nhiên gặp phải những quyết định lớn lao theo cách mà vốn dĩ họ không bao giờ đụng tới. Tôi cho rằng trong 40 năm qua, Nam Phi đã là một nơi mà người ta phải đối diện với những món nợ lương tâm thật sự lớn lao”. Chính vì muốn diễn đạt cái thực tế đó mà những ai săm soi muốn tìm trong truyện của Coetzee một thông điệp rõ ràng về chính kiến sẽ cảm thấy bối rối, thất vọng. Đi tìm một anh hùng, một kẻ làm gương, người ta sẽ chỉ thấy những người…ngoại cuộc. Y như chính bản thân tác giả!

Do đó, ta dễ dàng hiểu tại sao chế độ apartheid phản ảnh trong truyện của Coetzee một cách bóng bẩy, gián tiếp qua các ẩn dụ và được đào sâu bằng một cái nhìn rộng lớn về kiếp nhân sinh. Nạn nhân của apartheid cũng là nạn nhân của kiếp người. Các đề tài của ông thường được khai thác ở nơi mà chính trị, tâm linh, tâm lý và sinh lý hội tụ nhau. Mọi khổ đau được ông chuyển qua bóng dáng của con người như một thân phận. Thông cáo báo chí của Hàn Lâm Viện nhận xét:“Quan tâm chính của Coetzee hướng thẳng đến những tình huống trong đó, sự phân biệt giữa đúng và sai, dù nó có rõ ràng đến đâu, cũng đều vô ích. Giống như người đàn ông trong bức tranh nổi tiếng của họa sĩ Magritt săm soi chiếc gáy của mình trong gương, vào những lúc quyết định, những nhân vật của Coetzee thường núp sau chính họ, ẩn dấu mình đi, bất động, không thể nào dự phần vào chính hành động của riêng mình. Nhưng tính thụ động không chỉ là cái bóng tối nuốt chửng cá tính, nhân tính, nó cũng còn là phương cách cuối cùng mở ra cánh cửa của những kiếp người khi họ thách thức trật tự áp chế trong khi tìm cách thoát ra”. Coetzee là tác giả “vẽ nên sự dấn thân bất ngờ của kẻ ngoại cuộc, bằng vô số hình thức khác nhau”(8). Kẻ ngoại cuộc! Đó chính là nhân dáng điển hình của các nhân vật trong truyện của Coetzee. Cùng một ý, Deepika Bahri – giảng viên đại học Emory, Georgia về “Postcolonial Literature & Culture” – nhận xét: “Tất cả những tác phẩm của Coetzee đều tương tự nhau ở chỗ chúng thường tập trung trên một nhân vật cô đơn. Tác phẩm không nhằm đưa ra một bài học luân lý trực tiếp mà chỉ mô tả tình huống để cho độc giả tự tìm hiểu lấy. Mục đích của ông không phải là cung cấp cho độc giả một giải pháp mà chỉ làm nổi bật lên vấn đề để độc giả suy gẫm”. Người ngoại cuộc cũng chính là người cô đơn!

Ông không ham viết dài. Các tác phẩm của ông đều rất vừa phải, cô đọng, thường thì không quá 300 trang. Ông viết văn chặt chẽ, cẩn trọng, ít lời, chắc chắn như viết tiểu luận. Và đặc biệt, truyện của Coetzee  “không có tác phẩm nào giống tác phẩm nào” theo thông cáo báo chí của Hàn Lâm Viện Thụy Điển. Mỗi một truyện dài của Coetzee ông đều áp dụng một “chiến lược” viết khác nhau về cốt truyện, nhân vật, không khí, cách diễn đạt và bố cục…Trong Life and Times of Michael K, không khí đầy chất Kafka và Beckett; trong In the Heart of the Country, không khí của những hoang tưởng và ám ảnh tâm lý; The Master of Petersburg tái hiện thế giới của Dostoevsky, Waiting for the Barbarians huyền hoặc, hoang đường và kinh dị như loại tiểu thuyết “thriller”; “truyện” mới nhất là Elizabeth Costello (9/2003) lại là một phi-truyện, một hư cấu, trộn lẫn giữa essays và fiction, gồm có 8 bài giảng (lessons) và một tái bút (postcript) đề cập đến nhiều chủ đề khác nhau: bảo vệ thú vật, vai trò của tiểu thuyết, vấn đề hiện thực…Các nhân vật tuy đều mang tính chất “cô đơn” nhưng được khắc họa sắc nét và đa dạng, cá tính phát triển tùy theo từng tình huống đặc thù: Magda (From the Heart of the Country) hoang mang, bất định; Lurie (Disgrace) thì trầm uất; Michael K. (The Life and Times of Michael K) thì lạc lõng; nhân vật không tên (Waiting for the Barbarians) thì ngây thơ, ngờ nghệch…

Thử điểm qua vài tác phẩm quan trọng của Coetzee:

Tác phẩm đầu tay Dusklands: xuất bản năm 1974, gồm hai truyện vừa (novella), mỗi truyện nhắm đến một khung cảnh. Truyện đầu có tựa đề Vietnam Project mô tả một nhân viên làm việc cho chính quyền Hoa Kỳ trong thời chiến tranh Việt Nam mơ mộng sáng tạo một hệ thống tuyên truyền vô địch trong cách tiến hành chiến tranh tâm lý sao cho giành được chiến thắng, trong lúc đời sống riêng tư đổ vỡ chung quanh. Truyện kia là The Narrative of Jacobus Coetzee báo cáo về một chuyến thám hiểm chinh phục ở Nam Phi vào năm 1760 do một nhà thám hiểm gốc Âu châu. Hai khung cảnh, hai thời điểm khác nhau, cách xa nhau về không gian và thời gian, hai hình thức trầm uất, một thì trí thức và vĩ cuồng (megalomaniac), một thì có vẻ sinh tử và man dã, phản ảnh lẫn nhau và nói lên một điều: tham vọng của kẻ xâm lăng thời nào và nơi nào cũng giống nhau là thống trị kẻ khác.

In the Heart of the Country: Câu chuyện của một cô gái bị loạn thần kinh. Magda, độc thân, mồ côi mẹ, sống với người cha. Hàng ngày cô phải chứng kiến cảnh âu yếm giữa cha mình với người tình trẻ da màu với cảm giác vừa ham muốn vừa ghen tức. Cô mơ được giết cả hai người, nhưng cuối cùng miễn cưỡng  chấp nhận một thỏa hiệp bằng cách chăm chỉ làm việc nhà. Diễn biến sự kiện và tâm trạng trộn lẫn nhau giữa ảo giác và thực tế, giữa sự tàn nhẫn và khôn ngoan, giữa tỉnh và cuồng.

The Life and Times of K: Michael K, lúc nhỏ là một đứa bé chậm phát triển, mặt mày dị dạng, không thể kiếm ra một cái “job” nào tốt nên được nhà nước huấn luyện thành một tay làm vườn. Người mẹ mang bệnh nan y, muốn K đưa bà về sống những ngày cuối cùng tại một nông trại mà bà ở thời còn con gái. K nghe lời, bỏ việc, đưa mẹ về quê. Dọc đường, bà chết. K thiêu xác mẹ, mang về chôn cất ở chính nơi bà muốn và quyết định ở tại đó luôn. Anh đào hang sống qua ngày một mình trong vùng đất bỏ hoang bằng trồng cây trái. Trong một cuộc càn quét của lực lượng an ninh, K bị bắt, bị tra tấn và lao động khổ sai vì bị nghi ngờ là một phần tử  thuộc lực lượng du kích. Văn phong tự nhiên và khách quan, giọng điệu tỉnh queo (deadpan tone). Những chi tiết bi thảm, đau nhói được diễn tả bằng giọng văn trào lộng khiến cho nét bi thảm càng đậm hơn. Không khí rất Kafka, không những từ cái tên K (giống tên một nhân vật trong một truyện của Kafka) mà còn có những ví von K sống như những côn trùng (insects), vốn là hình tượng điển hình trong truyện “Hóa thân” của Kafka.

Waiting for the Barbarians: Đây là một câu chuyện hoang đường với chất liệu hiện thực. Có thể gọi đó là một loại “hoang đường hiện thực” (realistic fable) ngược lại với Marquez trong “Trăm năm cô đơn” thuộc loại “hiện thực hoang đường” (magical realism). Marquez kể chuyện thực dặm thêm một số sự kiện hoang đường. Coetzee mô tả một đế quốc giả tưởng không tên (đại loại như  đế quốc Oceania trong truyện dài “1984” của George Orwell), không gian và thời gian bất định. Phụ trách cai quản một vùng đất sát biên giới là một nhân vật gọi là “Magistrate” (thẩm phán). Đặc trách về an ninh có đại tá Joll, một kẻ lạnh lùng, vô cảm do sở mật vụ phái tới. Tiên đoán rằng các đám dân bộ lạc sinh sống ở biên giới sẽ nổi loạn, ông ta đích thân đem lính đi đánh dẹp, bắt được nhiều tù binh mang về hành hạ. Lúc đầu Magistrate im lặng chấp nhận, nhưng không chịu được sự tàn ác, ông thay đổi thái độ. Điển hình là ông chăm sóc một nữ tù nhân rồi đích thân băng rừng vượt suối mang cô gái này trả về nguyên quán. Trở về, ông bị xem là phản bội, bị đại tá Joll bắt tra tấn chẳng khác gì tra tấn những tù nhân. Joll lại mang quân đi quyết tiêu diệt đám dân man dã. Nhưng đám quân bị bại trận,  trở về trong tâm trạng hoang mang, thất tán chờ đợi đám dân bộ lạc kéo tới trả thù. Đế quốc cuối cùng tan rã trong lúc đám dân man dã tồn tại.  Truyện mang tính ẩn dụ rõ rệt với dụng ý mang sự tranh chấp và khổ đau vượt khỏi biên giới quốc gia để trở thành phổ quát. Qua Waiting for the Barbarians, Coetzee muốn chứng minh bản chất thú tính ẩn nấp trong mỗi một con người.

Disgrace: mô ta thời đại mới ở Nam Phi sau khi chính quyền apartheid sụp đổ với đủ tệ nạn: tranh giành đất đai, hiếp dâm, tội ác, thiếu sự bảo vệ của cảnh sát và sự phân chia chủng tộc hiện diện dưới nhiều hình thức khác nhau. Đây là một tuyệt tác của Coetzee, kể lại câu chuyện của một giáo sư đại học tên là David Lurie bị đuổi việc vì vụ dan díu với một cô nữ sinh viên bị đổ bể. Nhục nhã, ông lui về ẩn cư tại một trang trại nhỏ của cô con gái tên là Lucy. Lucy là một cô gái bỏ nhà ra đi sống với bạn bè theo kiểu hip-pi và là một người đồng tính luyến ái. Sau khi bạn bè bỏ đi hết, cô sống một mình. Láng giềng chung quanh đều là người da đen. Tưởng về với con gái là yên thân, không ngờ tại đây, ông lại chịu thêm một lần nhục nhã nữa: chứng kiến cảnh Lucy bị ba người da đen xông vào “bề hội đồng” tại nhà ngay giữa ban ngày. Thủ phạm là những người sống quanh đó, kể cả thằng cháu của người láng giềng của Lucy. Khủng khiếp, tức giận, ông muốn gọi cảnh sát, nhưng Lucy ngăn cản và dặn ông không được nói cho ai biết chuyện bị hiếp dâm. Cảnh sát tới làm biên bản cũng không cần điều tra cặn kẽ. Lucy có thai, nhưng không chịu phá thai. Đã thế, lại bằng lòng làm vợ người láng giềng da đen. Mọi chuyện diễn ra đều có vẻ trái cựa đối với ông David. Nhưng xã hội Nam Phi thời kỳ sau Apartheid nó thế. Có hôm, ông ghé lại thăm con gái và đề cập tới đứa con trong bụng Lucy. Ông hỏi con gái:

Con thấy thương đứa nhỏ chưa vậy?
Mặc dầu những lời nói đó do chính miệng ông thốt ra, nhưng chúng vẫn làm ông sửng sốt.
– Ba nói về đứa nhỏ? Không thương đâu. Mà con có thể làm thế nào được đây? Nhưng rồi con sẽ thương. Tình thương sẽ lớn dần – ta phải tin Trời Đất về chuyện này. Con tự hứa là sẽ trở nên một người mẹ hiền, ba à. Một người mẹ hiền và một con người đàng hoàng. Mà ba cũng vậy, nên cố gắng để trở thành một người đàng hoàng.
– Ba nghĩ là mọi chuyện đều quá trễ đối với ba rồi. Ba chỉ là một tay tù già cố làm sao trả cho xong cái bản án của mình. Còn con, con cứ tiến hành việc của con đi. Con đang đi dúng đường đấy.
Một người tốt. Trong những lúc đen tối như thế này, điều đó không có gì sai đối với ông
(9).

Một lần khác, ông đến thăm Lucy. Trời chiều hè dịu nắng. Cô con gái ăn mặc giản dị, đầu đội mũ rơm, đang làm vườn. Trông cô y chang một người nông dân. Bận làm việc, Lucy không biết ông đến. Từ trước đến nay, ông chả hề biết gì về đời sống nông thôn, chỉ biết gái. Giờ thì có quá trễ để thay đổi nếp sống không?

Ông tằng hắng giọng, lớn tiếng gọi: Lucy
Công việc ngừng lại. Lucy đứng thẳng người lên, quay lại, mỉm cười.
– Kìa ba. Con không biết ba đến.
Con chó Katy nghển đầu lên nhìn chằm chằm về phía ông đi tới. Ông leo qua hàng rào. Katy chạy theo, đưa mũi vào đôi giày khịt khịt.
– Xe ba đâu? Lucy hỏi. Khuôn mặt cô đỏ lên vì làm việc và có lẽ một phần cũng do cháy nắng. trông cô như bỗng khỏe hẳn ra.
– Ba đậu xe và đi bộ đến.
– Vậy mời ba vào nhà uống cốc trà nhé?
Cô mời ông y như mời một người khách. Cũng được thôi. Khách khứa, thăm viếng: một đoạn đời mới, một khởi đầu mới
(10).

Disgrace nói lên tình trạng căng thẳng của một quốc gia mà sự xung đột chủng tộc vẫn còn tiếp diễn, lần này giữa người da đen ở thế mạnh và người da trắng ở thế yếu. Kết cuộc có vẻ như “happy ending”: một trí thức da trắng chấp nhận giải pháp của con mình, một cô gái đã từng ăn chơi trác táng, bằng lòng sống chung với người da đen, xây dựng một cuộc sống mới, giản dị tại nông thôn. Xã hội Nam Phi đang cố gắng xây dựng lại niềm tin giữa bao đổ nát qua hình ảnh một Lucy hy sinh và một David giác ngộ về nhu cầu hòa hợp chủng tộc và quên quá khứ để xây dựng một tương lai hoàn toàn mới.

Câu hỏi đặt ra là: tại sao Lucy phải hy sinh và hy sinh cho cái gì? Không ai và không có một yếu tố đặc biệt nào bó buộc cô phải ở lại vùng đất bất an này cả. Cô bị hiếp dâm và không đi tố cáo. OK. Nhưng tại sao cô không phá thai, một điều quá bình thường trong xã hội hiện nay. Hơn nữa, đứa con trong bụng cô lại là da đen. Mà kẻ hiếp dâm chẳng đe dọa hay ép buộc điều gì. Họ cũng chẳng cần sự có mặt của cô tại vùng đất đó. Tự dưng, một cô gái hippy da trắng, bỏ hết mọi thứ, chấp nhận cuộc sống lao động của một người nông dân, sống bên cạnh những người da đen chẳng tốt lành gì có vẻ phi lý, không thực. Theo Gerald Karfman, chủ tịch Ban Giám Khảo giải Booker năm 1999, Disgrace là một ẩn dụ về một cái gì đang xảy ra cho nhân loại trong kỷ nguyên hậu-thuộc địa, nghĩa là kỷ nguyên trong đó người da màu vươn lên ngang hàng với người da trắng. Trong một nghĩa nào đó, theo ông, “đó là một tác phẩm thiên niên kỷ vì nó mang chúng ta xuyên suốt thế kỷ 20, thế kỷ mà trong đó, nguồn suối quyền hành sẽ chuyển ra khỏi châu Âu”. Lucy, David cũng như những biến cố trong truyện đều mang tính ẩn dụ, vốn là sở trường của Coetzee. Hiện thực mà vẫn là ẩn dụ. Suốt cả truyện, không có chỗ nào ông bày tỏ hẳn ra quan điểm của mình. Chỉ kể chuyện. Nếu cần bày tỏ một cái gì, ông viết rất ngắn gọn, chữ nghĩa hết sức chọn lọc. Như câu cuối trong đoạn văn vừa trích trên: She makes the offer as if he were a visitor. Good. Visitorship, visitation: a new footing, a new start. Hiểu sâu sắc tình hình của một quốc gia đặc biệt như Nam Phi, ta mới hiểu được hết ý nghĩa của từ “visitor” mà Lucy dùng để ám chỉ cha mình trong câu văn này. Từ bao nhiều thế kỷ, người da trắng thiểu số là chủ nhân ông của đất nước này, cai trị đa số dân da đen y như cai trị những người nô lệ. Họ cướp đất đai, khai thác tài nguyên của người ta y như là tài sản của mình, biến đất nước của người ta thành đất nước của mình. Sau khi chế độ Apartheid sụp đổ, tất nhiên, người da trắng phải trở về vị trí thực tế của họ: những kẻ ở nhờ. Những người khách. Thế cũng đã là may mắn lắm. Trong thực tế, nếu muốn, người dân Nam Phi da đen vẫn có quyền yêu cầu những người da trắng rời khỏi đất nước họ. Cũng may, dân Nam Phi noi theo tinh thần dân chủ và độ lượng của Mandela, người anh hùng giải phóng đất nước, tiếp tục nhìn nhận những kẻ đã đàn áp mình trong hàng thế kỷ y như là một bộ phận cấu thành dân tộc. Ít ra là trong lúc này. David tượng trưng cho cuộc đổi đời của người da trắng: từ vị thế một chủ nhân thành người khách trọ. Lucy tượng trưng cho sự chấp nhận hiện thực: không thể nào quay ngược lịch sử. Phải thực hiện a new footing, a new start. Dù cay đắng, đau đớn. Không còn cách nào khác, nếu muốn tồn tại.

Ngoài viết truyện hư cấu, Coetzee còn là một nhà phê bình văn chương có hạng. Ông xuất  bản 4 tác phẩm: White Writing, Doubling the Point, Giving Offense và mới nhất là Stranger Shores. Stranger Shores (2001), bàn đến những tác giả hàng đầu của văn chương thế giới thế kỷ 20: Frank Kafka, Joseph Brodsky, Jorge Luis Borges, Salman Rushdie, Naguib Mahfouz, Nadine Gordimer…hầu hết đã được đăng tải trên New York Times, tờ báo mà Coetzee là cộng tác viên. Cũng như truyện, văn lý luận của ông ngắn, gọn, trong sáng, dễ hiểu. Ông viết thận trọng, nhưng thẳng thắn, sắc bén. Điều đó cho thấy ông đọc nhiều, đọc sâu từng tác giả và kiến thức về văn học rất phong phú. Giáo sư James Shapiro (đại học Colombia) nhận định: “Tuyển tập này sẽ lôi cuốn những ai quan tâm đi tìm một mô thức phê bình thẳng thắn, lịch sự và không chùn bước ở một thời điểm khi mà những nhà văn thường tỏ ra dễ dãi khi điểm sách các đồng nghiệp của mình. Những nhà lý thuyết hẳn sẽ rất thú vị trong cách mà Coetzee vận dụng một cách khéo léo ảnh hưởng lẫn nhau giữa chủ nghĩa thuộc địa, việc kiểm duyệt,  nghề văn và lịch sử. Nhưng giá trị lâu bền nhất của “Stranger Shores” là ánh sáng mà nó ném lên sân khấu trong chuyến du hành trí thức của một trong những nhà văn đầy trí tuệ và quan trọng nhất của thời đại chúng ta” (11).

Các tác phẩm chính của J.M.Coerzee:

Dusklands (1974), In the Heart of the Country (1977), Waiting for the Barbarians (1980), Life and Times of Michael K (1983), Foe (1986), White Writing: on the Culture of Letters in South Africa (1988), Age of Iron (1990), Doubling the Point : Essays and Interviews (1992), The Master of Petersburg (1994), Giving Offense : Essays on Censorship (1996), Boyhood : Scenes from Provincial Life (1997),  What is Realism? (1997), Disgrace 1999), The Lives of Animals (1999), The Humanities in Africa (2001), Stranger Shores : Essays, 1986–1999 (2001), Youth (2002), Elizabeth Costello : Eight Lessons (2003)

(Trong Tác Giả, Tác Phẩm vả Sự Kiện, biên khảo văn học, nxb Văn mới, California, Hoa Kỳ 2005)

______________________

Chú thích của người viết:

1. Apartheid (được sử dụng lần đầu tiên từ năm 1917) là một từ Afrikaans (xin xem chú thích 2 ở dưới) có nghĩa là “phân cách” (separation). Trong Anh văn, từ này có nghĩa là một hệ thống được phê chuẩn của sự phân chia chủng tộc (racial segregation) hiện hữu ở nước Cộng Hòa Nam Phi từ năm 1948 đến 1990. Nam Phi vốn bị người Hà Lan và Anh chiếm làm thuộc địa từ thế kỷ thứ 17. Trong những năm tiếp theo sau chiến thắng của đảng “South African National Party” trong cuộc tổng tuyển cử vào năm 1948, một loạt các đạo luật được ban hành nhằm bảo đảm sự thống trị hoàn toàn của người da trắng trên người da đen, tạo nên một chế độ phân biệt chủng tộc độc nhất vô nhị trên thế giới. Trong tiếng Việt, ta thường gọi chế độ Nam Phi (1948-1990) là chế độ apartheid hay chế độ phân biệt chủng tộc.

2.  Afrikaans – được sử dụng tại các nước South Africa, Zimbabue và Namibia – là ngôn ngữ của người Afrikaaners, hậu duệ của những di dân gốc Hà Lan (Dutch) vào các thế kỷ 16, 17 sang định cư ở vùng nam lục địa Phi Châu. Họ thường được biết dưới tên là người Boer, có nghĩa là “nông dân” (farmer). Sau này khi những di dân Anh sang định cư, người Boer bị đuổi vào sâu trong nội địa. Tách lìa khỏi cố quốc Âu châu, họ bị Phi-Châu-hóa và tìm cách sáng tạo ra một nền văn hóa và ngôn ngữ mới, đó là tiếng Afrikaans. Họ thường được xem như là một bộ lạc da trắng ở Phi Châu. Sau khi khám phá đó là một vùng đất đầy vàng và kim cương vào nửa sau thế kỷ 19, di dân từ Âu Châu tràn sang. Trước sự tràn ngập của di dân, để bảo vệ quyền lợi của mình, người Boer tổ chức kháng chiến chống lại nhà cầm quyền Anh nhưng bị đánh bại trong cuộc chiến tranh gọi là “Boer War” (1899-1902). Hậu quả là nước Cộng Hòa Nam Phi ra đời dưới xự bảo hộ của nước Anh.

3.  J.M. Coetzee, Boyhood: Scenes from Provincial Life, Viking, New York USA 1997, tr. 6

4.  J.M. Coetzee, sđd, tr. 140

5.  Pain is truth; all else is subject to doubt

6.  Trả lời phỏng vấn AP, 1990

7.  doing their best to duck under history or simply float above it (theo Associated Press, 3/10/03)

8.  who in innumerable guises portrays the surprising involvement of the outsider (đoạn mở đầu của thông cáo báo chí Hàn Lâm Viện)

9.  Coetzee, Disgrace, tr. 216

10.  Coetzee, Disgrace, tr. 218

11.  Dẫn theo New York Times, 16/9/2001

 

 

 

.

bài đã đăng của Trần Hữu Thục


8 bình luận »

  • Nguyễn Đức Tùng viết:

     
    Bài viết hay, công phu . Đúng như tôi biết về Coetzee, nhưng giúp tôi hiểu sâu hơn. Ông cũng có một cuốn nhật ký rất đáng đọc. Cám ơn anh Trần Hữu Thục.
     
    NĐT.

  • NQT viết:

    Thực sự mà nói, những bài viết như vầy chẳng giúp ích gì cho độc giả, khi muốn tìm hiểu một tác giả, thí dụ như Coetzee hay Orwell. Nó có tính chất gom nhặt những sự kiện, từ nhiều bài báo, và cho thấy người viết chưa thực sự đọc thẳng vô, chỉ một tác phẩm của tác giả được đề cập.
    Nhà thơ NDT phán, như bố người ta, “Đúng như tôi biết về Coetzee”!
     Ông biết về Coetzee như thế nào?
    “Ông cũng có cuốn nhật ký rất đáng đọc”, là cuốn nào? Tôi đoán là NDT muốn nhắc tới Diary of a Bad Year?
    Nhưng cuốn này đâu phải thực sự là nhật ký của Coetzee? Nó được xếp vào loại giả tưởng của ông.
    Tôi đoán NDT chỉ đọc cái tít!
    Đừng có xoa đầu bạn văn! Chỉ có những phê bình, nhận xét thực tình thì mới giúp cho nhau được thôi!
    Coetzee sau cuốn Stranger Shores, còn cuốn Inner Workings, tại sao không giới thiệu? Điều này chứng tỏ, THT chưa được đọc nó? Hay chưa được đọc những bài viết về nó?
    Nguyễn Quốc Trụ

  • hoàng-xuân sơn viết:

    Vậy yêu cầu nhà nghiên cứu triết học Nguyễn Quốc Trụ phóng bút cho một bài “bổ ích cho độc giả” liền đi .
    Cám ơn,
    HXS

  • d.lan viết:

    Hình THT không viết phê bình  … như ông NQT nói  gom nhặt những sự kiện, từ nhiều bài báo là chính xác …
    Còn cuốn Inner Workings thì có lẽ chưa ra đời khi có bài này (xuất bản 2005 … và chắc là viết trước đó nữa) … Thấy ông NQT biết nhiều, xin ông giới thiệu thêm về tập này cho những người yếu Anh ngữ như tôi …. Cảm ơn trước !
    d.lan

  • NQT viết:

    @ HXS

    Đề nghị bạn HXS đọc đỡ mấy bài này:
    Salman Rushdie đọc Ô Nhục, Disgrace.
    Only the Big Questions
    J.M. Coetzee
    trên
     http://www.tanvien.net/
    Thân
    Sơ Dạ Hương

  • Điền L. viết:

    @NQT “những bài viết như vầy chẳng giúp ích gì cho độc giả…”
    Đề nghị NQT viết như vầy mới chính xác: “những bài viết như vầy chẳng giúp ích gì cho độc giả (uyên bác) như tôi,…”.
    Bài viết của THT rất gọn gàng, cho tôi biết và hiểu thêm về Coetzee và những tác phẩm của ông.
    Xin đoàn lữ hành THT cứ đi và giới thiệu thêm những tác giả khác.

  • NQT viết:

    @ Điền L.
    THT ở ngoài đời có thể coi là bạn thân của NQT, tuy chưa hân hạnh gặp nhau, nhưng có thời gian cùng viết cho NMG.
    Nhưng bạn thân thì bạn thân vẫn không có quyền xoa đầu!
    Giả như bài viết của THT có ích cho bạn, thì OK, nhưng tôi sợ không có ích cho THT!
    Viết ‘tản mạn’ kiểu đó, sợ cùn mất ngòi bút!
    Kính
    NQT

  • Lê Thị Phương Tâm viết:

    Theo tôi thì bài viết kia vẫn có ích cho những ai chưa biết gì chứ. Cứ phải đứng trên góc cạnh của người đã biết thì thấy thiếu là đúng rồi. Mà bác Trụ nếu có thể biết xa hơn nữa thì thay vì ngồi phê bình có thể bổ sung bài khác ok hơn cho bọn chúng em ( lũ chúng ta trong manh chiếu hẹp này) mở óc thêm. Rất tốt! Cám ơn nhiều!
                                                                                                    Thạc sĩ u mẹ chưa ra trường!

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)
porn ficken russian porn japanese porn watch porn watch sex izle sex izle anal porn tube amateur porn watch