Suy nghĩ về tứ thơ
Lời giới thiệu của Nguyễn Việt Hoài: Để “đầu đuôi câu chuyện” có đủ như ý của Hoàng Ngọc Tuấn và “để bạn đọc có thể theo dõi vấn đề và tự mình đánh giá” như ý của Nguyễn Hưng Quốc, tôi đề nghị Da Màu in lại bài “Suy nghĩ về tứ thơ” của Nguyễn Xuân Nam dưới đây để làm tư liệu đối sánh với các bài “Tứ thơ” và “Trả lời Nguyễn Việt Hoài” của Nguyễn Hưng Quốc (đăng trên Tiền Vệ, ngày 21.01.2010, ngay bên dưới bài “Một trường hợp đạo văn?”). Bài của Nguyễn Xuân Nam được viết từ năm 1981, nhiều luận điểm cần phải trao đổi lại, nhưng cũng là một bài viết về tứ thơ đáng chú ý trong thời kỳ đó.
Nguyễn Xuân Nam đã mất. Tôi chỉ thu thập được một ít thông tin về ông như sau:
- Sinh ngày 10.3.1924. Quê Phú Lễ, Quảng Điền, Thừa Thiên-Huế. Phó giáo sư. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1987).
- Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Bắc Kinh năm 1961. Từ 1961 dạy môn Lý luận văn học ở các Trường Đại học Sư phạm Vinh, Hà Nội.
- Bài “Suy nghĩ về tứ thơ” sau khi in trên tạp chí Văn học, Hà nội, 2.1981 đã được in lại trong cuốn Thơ – tìm hiểu và thưởng thức, Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985 (trang 172 – 183).
Lao động thơ trước hết là kiếm tứ… Ngôn từ, lời chữ vẫn rất quan trọng bởi vì thơ là nghệ thuật của ngôn ngữ. Tuy nhiên đó là cái quan trọng thứ hai mà cái quan trọng thứ nhất làm rường cột cho tất cả là cái tứ thơ, nó chủ đạo cả bài thơ. Tiếp theo ý kiến của Xuân Diệu[1], tôi xin trình bày những suy nghĩ của mình về tứ thơ – trong phạm vi thơ trữ tình – mong được trao đổi với các bạn quan tâm đến việc nâng cao chất lượng thơ hiện nay.
I.
Trước hết cần phân biệt ý và tứ. Nói đến ý ta nghĩ đến những điều nảy ra trong trí óc khi suy nghĩ. Còn tứ phải là những ý không ở dạng quan niệm nữa, đã thể hiện trong hình tượng. Có tứ tất có ý, còn có ý chưa hẳn là có tứ. Nói tứ thơ – là hình tượng thơ là đúng nhưng chưa rõ. Một hình tượng thơ là sự thể hiện các hiện tượng, tình cảnh, chi tiết cuộc sống… sao cho người đọc có thể hình dung ra hình thể, dáng dấp, màu sắc, âm thanh của nó… biến nó thành những điều có thể tiếp nhận được qua cảm quan. Khi Nguyễn Du viết: Làn thu thủy, nét xuân sơn là đã dùng những hình tượng thơ giúp ta hình dung nàng Kiều. Đó chưa phải là tứ. Còn khi Lưu Trọng Lư viết:
Mắt em là một dòng sông
Thuyền ta bơi lội trong dòng mắt em
thì đã là một tứ vì hình tượng ở đây đã thể hiện một ý trọn vẹn – sự say đắm si mê!
Bài thơ nào chẳng có những câu trọn vẹn thể hiện trong hình tượng nhưng đã chắc gì có tứ? Nếu cứ hiểu chung chung, vô hình chung ta sẽ thủ tiêu luôn cả khái niệm tứ thơ. Thì ra khi người đọc thừa nhận một đoạn thơ có tứ, một bài thơ có tứ là đã thừa nhận một phần phẩm chất nghệ thuật của nó. Một tứ thơ phải là hình tượng có tìm tòi sáng tạo, thể hiện ý trọn vẹn, gợi lên những điều tốt đẹp, xúc động lòng người, tạo ra những mối liên tưởng rộng rãi, nghĩa là có giá trị thẩm mỹ cao. Đó mới là thực chất của tứ thơ thường được nói đến khi bàn luận về thơ. Những câu thơ được truyền tụng trích dẫn phần lớn là những tứ thơ:
Sống trong cát chết vùi trong cát
Những trái tim như ngọc sáng ngời
(Tố Hữu)
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn.
(Chế Lan Viên)
Bóng mẹ đứng trong ráng chiều đập đất
Bóng cha cày trong mỗi hạt cơm ăn.
(Vũ Quần Phương)
Có khi bài thơ bị quên đi, nhưng một số tứ thơ của nó vẫn sống. Vì đã diễn đạt được một ý trọn vẹn, chúng có thể tách khỏi bài thơ, tự có số phận riêng. Đơn vị nhỏ nhất trong thưởng thức thơ về hình thức mà nói là câu thơ (Vì làm thế nào thưởng thức một từ trơ vơ được cho dù đó là thần tự, nhãn tự, hay từ chìa khóa?). Nhưng về thực chất ta đang thưởng thức tứ thơ. Đó là cách chúng tôi hiểu cái tứ nhỏ trong cả bài thơ. Nó có mặt trong thơ trữ tình, cả trong thơ tự sự nữa – Nó là bộ phận trong cái tứ lớn của thơ trữ tình, tô điểm, soi sáng cho cốt truyện trong thơ tự sự.
II.
Ngoài cái tứ nhỏ (tứ bộ phận ấy), còn có cái tứ lớn (tứ trong toàn bài). Đó là điều chúng tôi muốn nói nhiều trong toàn bài này. Tứ trong toàn bài là hình tượng xuyên suốt cả bài thơ, thể hiện tư tưởng nghệ thuật (và cũng là tư tưởng chính trị) của bài thơ. Tứ thơ mang đặc điểm của cách nhìn cách cảm, cách nghĩ của nhà thơ… Đọc Ta đi tới của Tố Hữu thấy mở ra trước mắt ta con đường thẳng tắp và ý chí tiến lên mạnh mẽ thống nhất đất nước không thể gì ngăn cản được. Đọc Các vị La Hán chùa Tây phương của Huy Cận ta thấy như sừng sững lên, như cụ thể hóa ra những nỗi khổ đau bế tắc của các thế hệ trước kia. Có cái tứ đã lộ ra qua đề thơ: Cuộc chia ly màu đỏ (Nguyễn Mỹ), Những gương mặt, những khoảng trời (Bằng Việt), Khoảng trời hố bom (Lâm Thị Mỹ Dạ), Vào mặt trận lúc mùa ve đang kêu (Hoàng Nhuận Cầm), Lý ngựa ô ở hai đầu đất nước (Phạm Ngọc Cảnh) v.v… Nhà thơ đã nhìn ra những tương quan giữa các sự vật – xây dựng nên một hình tượng nghệ thuật – mang đậm cảm xúc suy nghĩ của nhãn quan thẩm mỹ của mình. Từ hình tượng ấy, từ những mối tương quan ấy, người đọc cảm nhận ra bao nhiêu điều mới lạ, cả những man mác khó tả nên lời. Có những đề thơ ôm trùm tứ thơ, đọc xong nhớ mãi, biến thành ấn tượng ăn sâu trong tâm hồn! Bóng cây Kơ-nia (dân ca Tây Nguyên) Núi đôi (Vũ Cao) Gương mặt quê hương (Tế Hanh) Cửu Long giang ta ơi (Nguyên Hồng). Cái hay của bài thơ còn tùy thuộc vào những điều quan trọng khác như tư tưởng, tình cảm ngôn ngữ và cả cách triển khai tứ. Nhưng có được cái tứ là điều kiện cần yếu của tính nghệ thuật của thơ. Vì tứ là đặc sản của tâm hồn thơ, chứng tỏ tác giả có cái nhìn thẩm mỹ – tức cái nhìn thế giới độc đáo, phát hiện ra những khía cạnh tinh vi, thiết yếu, những khía cạnh các nhà sử học không ghi hết được, nhưng lại là bộ phận sống động; cụ thể nhất của lịch sử, hình tượng của những trạng thái tâm hồn con người một thời đại.
Là hình tượng bao trùm toàn bài thơ, tứ thơ chỉ hướng cách kết cấu, làm nổi bật tư tưởng chủ đề của bài thơ. Khái niệm tứ vừa chỉ ra đặc điểm sinh thành vừa bao gồm cả quá trình phát triển sáng tạo của bài thơ. Cốt làm nổi bật tứ như là phần tinh túy nhất của bài thơ, các nhà thơ thường cắt tỉa bớt lá cành để bông hoa tứ thêm rực rỡ. Các bài Lá ngụy trang, Ngọn đèn đứng gác của Chính Hữu, Dáng đứng Việt Nam của Lê Anh Xuân, Hơi ấm ổ rơm của Nguyễn Duy được viết với một bút pháp tiết kiệm chính vì thế. Bút pháp nghệ thuật của thơ tứ tuyệt là dồn nén trong khuôn khổ ngôn từ kinh tế nhất một tứ thơ mới lạ độc đáo… tạo ra sức hấp dẫn của “ý ở ngoài lời” (ý tại ngôn ngoại) và chính cái không nói ra lời đó mới là cái đáng kể nhất, ý vị nhất của thơ tứ tuyệt! Một bài Cảnh khuya, một bài Lên núi, một bài Cảnh chiều tối của Hồ Chủ tịch ngắn gọn đến thế nhưng vương vấn lòng ta mãi vì tứ lạ và cao!
Có thể cần tạo ra những bài thơ dài với loại tứ này không. Thật ra bài thơ xây dựng trên cơ sở một tứ với hình tượng xuyên suốt bài như thế thường không dài. Dài, tứ dễ loãng, chìm đi trong tản mạn. Tất nhiên đã là nghệ sĩ chân chính quan tâm đến chất lượng nghệ thuật, chẳng ai muốn kéo dài bài thơ ra làm gì khi không cần thiết. Nhưng nếu để diễn đạt một dung lượng cảm xúc suy nghĩ lớn, nhà thơ có thể dùng “thế liên hoàn”. Nghĩa là từ một tứ lớn, chia thành những tứ bộ phận nhỏ hơn rồi kết hợp theo một trật tự hợp lý. Lửa đèn của Phạm Tiến Duật có cái tứ lớn chung, được chia ra trong ba đoạn Đèn, Tắt lửa, Thắp đèn nối kết bằng điệp khúc:
Anh cùng em sang bên kia cầu
Nơi có những miền quê yên ả
Edgar Poe có nói đại ý là không cần phải chứng minh rằng một bài thơ chỉ nên thơ chừng nào có xúc động mãnh liệt và nâng cao tâm hồn. Nhưng theo luật tự nhiên của thể chất con người, mọi xúc động mãnh liệt đều mau chóng. Vậy một bài thơ dài muốn hấp dẫn về thực chất phải là những đoạn thơ ngắn liên tiếp nối kết lại. Kinh nghiệm đó cũng đúng với Lửa đèn. Cho đến nay Lửa đèn vẫn là bài thơ hay nhất của Phạm Tiến Duật – vì sức ôm trùm phản ánh đặc điểm một giai đoạn của cuộc chiến tranh chống Mỹ – (giai đoạn chống chiến tranh phá hoại bằng máy bay) và cả vì khả năng tố chức kết cấu toàn bài (Tất nhiên còn phải kể đến ngôn ngữ trong sáng, duyên dáng, hình ảnh mới lạ và chính xác) – Thiếu khả năng tổ chức chắc không thể hiện được cái tứ đặc sắc Lửa đèn này.
III.
Lại có cái tứ trong toàn bài nảy sinh từ một ấn tượng chung, một cảm xúc chung, rồi nảy nở ra, dẫn dắt ra mãi những dòng suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng.
Nếu như loại tứ nói ở đoạn trên được ví với cúc đại đóa, với hoa thược dược sắc màu nổi rõ trên mảnh vườn, làm bạn đọc phải lưu ý đến, thì ở loại tứ thứ hai này, ta như đứng trước cây bưởi, cây chanh với bao nhiêu hoa nhỏ lấm tấm như hình ảnh câu thơ Kiều: cảnh lê trắng điểm… Sự thống nhất sẽ tìm thấy ở mùi hương thơm thoảng. tôi nghĩ đến các bài Cành phong lan bể của Chế Lan Viên, Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm, Tình yêu và báo động của Bằng Việt, Em biết là anh đang ở đâu của Phạm Hồ, Từ biệt vùng quê sơ tán của Vũ Quần Phương.
Với tứ này thơ có thể diễn tả những ấn tượng, những dòng cảm xúc, những liên tưởng cùng những suy nghĩ nghị luận phù hợp với đời sống nội tâm ngày càng giàu suy tưởng, thích hợp với cuộc đời cần nhiều suy tưởng để biện luận, để phản bác rồi tìm ra thái độ đúng, tin yêu và có trách nhiệm với cuộc đời hơn. Những dòng thơ đối thoại với chúng ta bằng sự chân tình của lời tâm giao. Sức lôi cuốn của lời tâm giao có phần át hình ảnh. Chế Lan Viên, Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm khá sở trường cách kết cấu này. Những bài thơ đánh giặc, Ngày vĩ đại, Thơ bổ sung đều được kết cấu như thế.
Theo đà suy nghĩ, liên tưởng, tưởng tượng nhà thơ có thể cấu tạo thành những bài thơ dài. Bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi là một bài thơ thành công vì âm điệu mới mẻ và nhiều câu thơ tạo hình rất nét. Bài thơ triển khai từ cái tứ:
Sáng mát trong như sáng năm xưa
Gió thổi muà thu hương cốm mới
Tôi nhớ mùa thu đã xa…
Rồi từ cái vắng lạnh của mùa thu xa nghĩ đến cái đẹp cái vui của đất nước mùa thu nay… qua từng cảnh, từng cảnh. Như thế không thể nói là không có tứ, hoặc mạch của tứ không thống nhất (Có điều do dấu vết của sự lắp ghép các mảng thơ khác nhau, nên bút pháp hai đoạn có chỗ khác nhau). Các bài Quê hương Việt Nam, Nhớ, tứ thơ và bút pháp diễn đạt nhuần nhuyễn thống nhât hơn. Cho nên làm thơ phải chú ý vào tứ, vào sự mạch lạc của cảnh. Nếu không bài thơ sẽ lan man xộc xệch, đầu Ngô mình Sở, có thể thành công trong vài đoạn nhỏ, nhưng rối loạn trong toàn thể. Cái cảm giác vụn nát, tan rã không phù hợp với nghệ thuật đòi hỏi mỗi tác phẩm phải là một chỉnh thể thống nhất tinh vi từ bộ phận đến toàn thể. Không có tứ, không chú ý đến sự phát triển của tứ thơ sẽ vấp phải nguy cơ đó.
Chia ra một loại tứ thiên vê tạo hình, một loại tứ thiên về dòng suy nghĩ liên tưởng cũng là cách phân biệt giản đơn cho tiện trình bày. Thông thường các nhà thơ thường thể hiện một tứ lớn bằng cách sử dụng xen kẽ các biện pháp tạo hình và biện pháp biểu hiện nên khó có sự phân chia rạch ròi. Trong bài Cửu Long giang ta ơi Nguyên Hồng đã mở ra hình ảnh rất đẹp về giờ địa lý và ông giáo như trong “thần thoại”:
… Mặt ngẩng lên trông bản đồ rực rỡ
Như đồng hoa bỗng gặp một đêm mơ
Bản đồ mới tường vôi cũng mới
Thầy giáo lớn sao thước bảng cũng lớn sao
Gậy thần tiên và cánh tay đạo sĩ
Đưa ta đi sống núi tuyệt vời
Rồi với dòng liên tưởng, tưởng tượng mãnh mẽ kỳ lạ, nhiều bản năng, nhà thơ đưa ta đi dọc Cửu Long Giang và đi hết các miền của Nam Bộ mến yêu. Cuối cùng trở lại với hình ảnh cái thước bảng hóa cán cờ và ý chí đấu tranh giữ gìn sự thống nhất đất nước ăn sâu trong truyền thống:
…Thước bảng to nay thành cán cờ sao
Những tên làm man mác tuổi thơ xưa
Đã thấm máu của bao hồn bất tử
Bài thơ kết hợp nhuần nhuyễn biện pháp tạo hình và biểu hiện, từ chân xác cụ thể đến tưởng tượng hư ảo… nên ra đời đã lâu vẫn cứ hấp dẫn mỗi khi đọc lại. Viết vài bài tứ tuyệt, viết mười lăm câu lục bát có thể hy vọng cái tứ đến bất ngờ dẫn theo cách kết cấu tự nhiên mà hợp lý. Nhưng muốn viết một bài thơ dài, một bản trường ca, thì từ cái tứ nảy sinh trong phút giây sáng chói của người nghệ sĩ mới chỉ là bước đầu. Nói như ai “Các thần thánh ban cho ta dễ dàng câu thơ thứ nhất nhưng ta phải dụng công làm nảy câu thơ thứ hai”… Nghĩa là phải nhìn rõ dần cái tứ, phải suy tính liên kết các mảng thơ với nhau theo những tầng lớp hợp lý: từ hiện tại đến tương lai, từ thực tế đến tưởng tượng, từ tạo hình đến suy tưởng… trong một bức tranh lớn hài hòa, theo một mạch thơ thống nhất làm nổi rõ một tư tưởng chủ đề nhất định. Bao nhiêu công phu nghiên cứu nghiền ngẫm tính toán không thể cầu may mà được. Có phải để phát triển loại trường ca, bên cạnh những vấn đề tư tưởng và nghệ thuật khác, việc nghiên cứu các loại tứ, cách phối hợp các loại tứ, cách triển khai một tứ lớn qua nhiều tứ nhỏ là một điều cần thiết của “thi nghệ”. Có thể bắt đầu bằng sự trao đổi tỉ mỉ cách triển khai tứ trong các bản trường ca tương đối thành công như Mặt đường khát vọng của Nguyễn Khoa Điềm; Đường tới thành phố của Hữu Thỉnh; Những người đi tới biển của Thanh Thảo… Không chịu làm tỉ mỉ, trường ca sẽ khó mà trường thọ được.
IV.
Như vẻ đẹp của con người, vẻ đẹp của thơ muôn hình vạn trạng khó mà bàn cho hết được. Thật ra cũng có lúc do ý sâu sắc, do lòng tin yêu con người, do ý thức trách nhiệm với cuộc đời với đất nước cũng làm ta nhớ mãi những câu hầu như không có dụng ý sử dụng một biện pháp tu từ nào. Đó là thực chất cái hay cái đẹp của các bài minh, bài châm… Đọc những câu của Trần Quang Khải:
Chương Dương cướp giáo giặc
Hàm Tử bắt quân thù
Thái bình nên gắng sức
Non nước ấy nghìn thu
thì ta không bàn đến vẻ đẹp của tứ, của văn mà thấy đây là phương châm giữ nước, là ý chí diệt thù, là lòng tin vững chắc đáng thêu thành chữ vàng treo ở chỗ ngồi các vị tướng.
Có những bài thơ khác cái tứ cũng bình thường thôi nhưng ta vẫn nhớ vẫn yêu. Bài Chiều thu của Nguyễn Bính chưa sáng lên vẻ đẹp của trí tuệ, nhưng những nét êm ả của nông thôn một thời đã qua cũng đáng quí
Lá thấp cành cao gió đuổi nhau
Góc vườn rụng vội chiếc mo cau
Trái na mở mắt nhìn ngơ ngác
Đàn kiến trường chinh tự thưở nào
Lúa trổ đòng tơ ngậm cốm non
Lá dài vươn sắc lưỡi gươm con,
Tiếng chim mách lẻo cây hồng chín
Điểm nhạt da trời những chấm son.
Bài Đêm sao sáng của Nguyễn Bính viết về đấu tranh thống nhất ới cái tứ nổi bật hơn nhiều.
Sao đặc trời, sao sáng suốt đêm
Sao đêm chung sáng chẳng chia miền
Trời còn có bữa sao quên mọc
Anh chẳng đêm nào chẳng nhớ em.
Bài Nhớ con sông quê hương cái tứ chung cũng không mới (đứng về tứ thì bài Chiêm bao mới mẻ sáng tạo hơn) nhưng cái tình của Tế Hanh chân thật quá, bút pháp diễn đạt cảm xúc tinh tế quá nên vẫn là một trong những bài hay nhất về tình cảm quê hương, đất nước trong thơ chúng ta.
Nếu bài thơ không có cái tứ chung trong toàn bộ, không có cái tứ nhỏ trong từng đoạn là đã kém phần hương sắc. Tình cảm cảm xúc không mãnh liệt thiết tha, cũng không có cái nhìn đẹp về cảnh thì thơ càng khó có lý do tồn tại. Nói khác đi nếu chỉ một ít ý chung chung, liên kết với nhau bằng tư duy luận lý, thì dù diễn đạt với ít nhiều vặn vẹo thế nào đó, bài thơ cũng không đứng được. Từ lĩnh vực thơ đã chuyển sang lĩnh vực của vần vè, của trò xiếc chữ (Tôi thừa nhận có những bài diễn ca, bài vè có giá trị nghệ thuật do các nghệ sĩ chân chính, có khi là nghệ sĩ dân gian viết). Có phải hiện nay một phần thơ ca trên báo chí không được người đọc hoan nghênh chính vì tác giả của nó chưa có xúc động thơ, chưa có cái nhìn thơ, chưa có sự tìm tòi trăn trở sáng tạo tứ, triển khai tứ. Tuy thế có người cứ tin rằng ngày nay tứ thơ phong phú hơn, ít trùng lặp hơn tứ thơ ngày xưa. Thật thế không? Đứng trên quan điểm lịch sử cũng khó mà nói như thế. Mỗi thời đại cái tứ có màu sắc riêng, có vẻ phong phú riêng. Nỗi buồn nơi đèo heo hút gió, sự rợn ngợp của con người trước bản vắng sông cong, nỗi day dứt về thế tình đậm nhạt, nỗi đau thất bại trong cuộc đời… đều là những chứng tích của một cuộc sống khác chúng ta (Cứ đọc thơ chữ Hán của Nguyễn Du, của Cao Bá Quát, thì thấy ông cha ta cũng nghĩ nhiều tứ thơ lắm!). Đọc những bài thơ ấy ta sẽ trở nên từng trải hơn, hiểu biết hơn con đường đau khổ mà nhân loại đã đi qua. Còn sự trùng lặp sáo mòn thời nào chả có. Những ai sống xa thực tế lớn của dân tộc, ít gắn bó với niềm vui và nỗi khổ của nhân dân – nghĩa là không có những rung động sâu sắc thực sự thì thơ mất dần nội dung và sa vào hình thức. Tứ thơ trùng lặp mô phỏng là lẽ đương nhiên.
Điều cần được khẳng định là được chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ đường, được chủ nghĩa xã hội khoa học dắt dẫn, được đường lối chính sách của Đảng soi sáng, tâm hồn những nhà thơ ưu tú ngày nay có một chất lượng mới, một tầm cao mới. Nhiều tứ thơ ngày nay vừa giúp người đọc hiểu đúng, hiểu sâu thế giới hiện thực vừa nâng người đọc vào thế giới bát ngát của những suy tưởng có tầm nhân loại. Đọc những bài như Bài ca mùa xuân năm 1961, Mẹ Tơm… của Tố Hữu, Các vị La Hán chùa Tây Phương, Trò chuyện với Kim tự tháp, Ngã ba Đồng Lộc của Huy Cận, Người đi tìm Hình của nước, Vòng cườm trên cổ chim cu, Con cò của Chế Lan Viên, ta sẽ thấy cái đẹp, cái mới của tứ thơ thời đại. Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương cũng có nhiều tứ thơ mới lạ, đọc một lần nhớ mãi. Và một khi đã có cái tứ mới, cách nhìn cách cảm nghĩ mới thì chắc không cần phải vặn vẹo câu chữ cho lắm, không cần dùng những hình dung từ, những trạng từ kỳ quặc, bài thơ vẫn lôi cuốn người đọc.
(Tạp chí Văn Học, Hà Nội 2.1981)
[1] Xem Xuân Diệu: Tìm tứ cho một bài thơ; Tạp chí Tác phẩm mới số 17 năm 1972.
.
bài đã đăng của Nguyễn Xuân Nam
- Suy nghĩ về tứ thơ - 24.02.2010

“Điều cần được khẳng định là được chủ nghĩa duy vật biện chứng chỉ đường, được chủ nghĩa xã hội khoa học dắt dẫn, được đường lối chính sách của Đảng soi sáng, tâm hồn những nhà thơ ưu tú ngày nay có một chất lượng mới, một tầm cao mới. ”
Tại sao cái loa cũ và rè này được phép cất giọng ra hải ngoại mà nói khoác, nói bậy vung vít thế nhỉ ? Chết lâu rồi mà chưa thối rữa sao ?
Nhiều tứ thơ ngày nay vừa giúp người đọc hiểu đúng, hiểu sâu thế giới hiện thực vừa nâng người đọc vào thế giới bát ngát của những suy tưởng có tầm nhân loại. Đọc những bài như Bài ca mùa xuân năm 1961, Mẹ Tơm… của Tố Hữu, Các vị La Hán chùa Tây Phương, Trò chuyện với Kim tự tháp, Ngã ba Đồng Lộc của Huy Cận, Người đi tìm Hình của nước, Vòng cườm trên cổ chim cu, Con cò của Chế Lan Viên, ta sẽ thấy cái đẹp, cái mới của tứ thơ thời đại. Bằng Việt, Nguyễn Khoa Điềm, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Vũ Quần Phương cũng có nhiều tứ thơ mới lạ, đọc một lần nhớ mãi.”
Những bài vè này và các thợ vè tuyên truyền này có “tứ” nào vượt khỏi sự chỉ đạo của đảng ta không nhỉ ?
Không cần phải tranh luận làm chi với ngữ điệu nịnh hót cho mất thì giờ. Ta để thì giờ làm việc khác thì hơn, chẳng hạn như uống cà phê tìm…tứ [thiệt thơ].
“Nguyễn Xuân Nam đã mất”? Nguyễn Xuân Nam, tác giả của Suy nghĩ về tứ thơ (tạp chí Văn học, Hà nội, 2.1981) và Thơ – tìm hiểu và thưởng thức (Nxb Tác phẩm mới, Hà Nội, 1985) hiện đang ở Hà Nội.
Có 1 điều lạ là sau bao thế kỷ của Thơ, các nhà phê bình thơ Việt nam vẫn tranh luận về Ý và Tứ.
Tôi thấy trong giao tiếp hằng ngày, người ta thường nói : “Con gái lớn rồi mà không có ý có tứ gì cả”, hoặc là : “Học trò học bè gì mà không biết ý biết tứ gì cả”. Tôi nghĩ, ở đây, Ý là sự phép tắc, sự thể hiện chính mình là người có giáo dục, còn tứ là sự tinh tế trong giao tiếp. Như vậy Ý thì ai cũng phải tuân theo 1 khuôn phép, Tứ thì lại mỗi người mỗi cách thể hiện khác nhau, tạo ra sự lôi cuốn riêng biệt trong giao tiếp.
Liên hệ về Thơ cũng vậy thôi, Thơ tất nhiên phải có Ý (dù đó là ý con cóc) nhưng Tứ thì là sự ẩn giấu bên trong điều muốn nói. Cho nên thi sĩ thường là những kẻ chỉ biết để hết tâm tình trong …… Thơ, còn khi nói trước đám đông thì lắp ba lắp bắp (rất dễ thương).
Vì thế đừng phân biệt thơ hay, thơ dở, đừng đả kích thơ chính trị hay thơ tuyên truyền,…. Tùy theo đối tượng mà nhà thơ sử dụng Ý, Tứ để đạt được mục đích của mình. Âm nhạc cũng vậy thôi, có người bạn kể cho tôi nghe rằng lúc tập đánh đàn hồi nhỏ người ấy thường nghĩ Nhạc Trịnh lạ một loại nhạc quá đơn điệu (so với các tác giả khác về khía cạnh nhạc thuật), vì lúc đó người ấy biết Ý mà chưa biết Tứ, chỉ ham thích lời ca và ý nhạc trầm bổng, nên đến nay chừng bảy mấy cái xuân xanh, hằng ngày quạnh hiu ẵm bồng cháu nội, cháu ngoại, giật mình ngẫm lại mới biết hóa ra những nhạc Ý đi đâu hết rồi (out of memory) chỉ còn lại toàn Tứ thôi, nên bây giờ đâm ra rất ghiền nhạc Trịnh.
Cho nên ai cũng có thể là họa sĩ, thi sĩ, nhạc sĩ nhưng chỉ có cái Tứ mới làm tác phẩm sống mãi mà thôi.
Phần Góp Ý/Bình Luận