Trang chính » Sáng Tác, Truyện ngắn Email bài này

đền rùa vàng

 

 

 

clip_image002

 

Nụ mang ra cho tôi dĩa bánh cuốn còn bốc khói, đặt lên bàn, cất giọng thanh tao:

– Mời anh.

Tôi nhoẻn cười thay cho lời cám ơn. Cặp mắt mí lót của Nụ liếc nhìn tôi, nghịch ngợm:

– Bữa nay thua nhiều há!

Tôi than thở:

– Bị quê cơ.

Nụ tinh quái:

– Tại Nụ mà anh quê cơ chứ gì?

Tôi nhớ có lần đang chơi bi-da, Nụ từ phòng trong bước ra xem. Từ lúc đó tôi không chú tâm được nữa. Không "sơn mỏng" được "giò gà". "Mắt kiếng" lại thụt quá mạnh, không giữ được bi. Tôi bông đùa, đổ lỗi cho Nụ, đứng xem khiến tôi bị phân trí.

Nụ không đẹp, nhưng miệng cười có duyên và nói chuyện hiền lành, không kiểu cách. Tôi không để ý nhiều đến Nụ, nhưng khoé mắt Nụ nhìn tôi mỗi khi tính tiền và thỉnh thoảng nàng còn nhân nhượng bớt cho tôi vài đồng bạc lẻ, đã làm tôi bối rối không ít. Bạn bè bảo tôi là thằng nhát gái. Tử vi tôi có sao Đào Hoa và Hồng Loan chiếu mệnh, gái bám phủi không hết, một thằng bạn lý giải như vậy. Tôi chỉ cười. Tôi nào để tâm tới mấy chuyện này, vì tôi vẫn chưa quên hình bóng Đoan. Chúng tôi mất liên lạc với nhau đã nhiều năm nay. Những lá thư tôi gởi đi đều không được hồi âm. Chuyện gì đã xảy ra cho Đoan? Lấy chồng, vượt biên mất tích hay không còn yêu tôi nữa? Tôi đã khổ sở với những nghi vấn ấy một thời gian dài. Rồi tôi tự tìm quên bằng cách học thiền. "Hít vào tâm tĩnh lặng. Thở ra miệng mỉm cười". Nếu trong chuyện tình cảm, tôi là một kẻ bất hạnh, thì trong chuyện tu tâm, tôi là một thằng dốt. Lúc nào cũng vậy, tôi chỉ kiểm soát được hơi thở mình đến lần thứ hai mươi lăm là hết, những phiền muộn lớn bé lại chập chờn hiện ra trong trí tôi. Quá khứ cũng như tương lai, thời gian nào cũng có mặt Đoan. Từ quê nhà sang đến đây, không gian nào Đoan cũng hiện hữu. Và rõ nét không kém là cảnh hồ nuôi rùa trong một ngôi đền Trung hoa ở Đa kao. Chiều nào xa xưa, tôi và Đoan sát vai nghiêng xuống ngắm bầy rùa rị mọ chậm chạp trong hồ nước cạn, rêu phủ xanh rì. Bóng mát cổ thụ toả đằm đằm. Cảm giác bình an, bầu không khí đạo vị ấy đã hằn vết trong tâm tưởng tôi.

Nhiều năm qua mau, vết tích ấy vẫn ri rỉ máu.

– Trình, có chơi nữa không?

Một người bạn lớn tiếng gọi. Tôi gác đũa ngang miệng dĩa, uể oải:

– Không, chán rồi.

Thế là cả bọn ồn ào chia cặp, cá độ. Tự dưng tôi cảm thấy cô đơn, nỗi cô đơn của mười hai con giáp không giống con nào. Tôi móc một điếu thuốc, châm lửa. Ý nghĩ tôi theo làn khói bay lang thang.

– Bánh cuốn hôm nay em làm có được không anh?

Tôi ngẩng lên. Nụ đứng bên tôi từ lúc nào, mặt tươi rói. Tôi gật đầu:

– Nụ nấu ăn khéo.

– Món Bắc, món Nam em đều nấu được, chỉ có món Trung là dở.

– Anh không biết làm bếp.

– Xạo, ở đây lâu như anh, người nào nấu nướng cũng giỏi.

Tôi cù cưa:

– Anh là trường hợp ngoại lệ, bất tài vô tướng.

Môt đứa đang chơi bi-da, chỏ miệng vào:

– Thằng Trình một vợ hai con rồi đó, cô Nụ coi chừng!

Tôi đứng lên, vỗ nhẹ vai Nụ:

– Nụ vào trong tính tiền cho anh!

Chuỗi cười chọc ghẹo của lũ bạn bám theo tôi và Nụ vào tới phòng trong. Quầy rượu lèo tèo vài chai lưng. Hai cái ly ám bụi. Tượng ông thần tài mập phệ, miệng cười hoài không mỏi. Giàn máy đang chạy một băng nhạc thời thượng. "Mười năm không giặt tưởng chừng như đã…" Góc bếp chật hắt thoảng mùi nước mắm. Nụ mở hộp thiếc, lấy ra xấp giấy con xốc xếch. Tôi ngồi trên ghế cao, nghếch mặt đợi như phạm nhân chờ nghe án lệnh. Nụ lẩm nhẩm tính:

– Giấy ký sổ của anh từ tháng trước tổng cộng 95 đồng 25 xu. Tiền bàn bữa nay là… là… để coi… à, 16 đồng 20 xu, cộng với tiền thuốc lá, bia, cà-phê, nước ngọt và một dĩa bánh cuốn, cả thảy là 24 đồng. Như vậy, anh thiếu Nụ 135 đồng 45 xu. Anh trả Nụ bây giờ, Nụ bớt cho anh 45 xu.

Tôi kỳ kèo:

– Bớt 5 đồng 45 xu đi!

Nụ ngước mặt, nhếch môi:

– Bớt cho anh, mấy người khác biết được, họ tị nạnh, khó xử cho em.

– Ừ, thôi.

Tôi trả tiền, không khỏi nghĩ tới cái trương mục ốm đói của mình. Gần năm nay, tôi thất nghiệp. Tôi muốn rên rỉ một ca khúc cũ: "Lòng buồn dạt dào nhớ hôm nào không tiền tiêu, lái Hông-đa tôi chạy rong…", nhưng không thốt nên lời, chỉ bật cười khan. Nụ ngẩn ngơ nhìn tôi. Bỗng dưng tôi thấy Nụ đáng ghét. Khi không bày chuyện mở ra cái hội quán bi-da bi-thịt này, làm tôi tốn tiền không ít.

Tuy nói không bớt, nhưng khi thối lại tiền, Nụ cũng tính tròn thành 130 đồng. Tôi giả bộ đẩy đưa:

– Anh không lấy đâu, anh không muốn vì anh mà em khó xử.

Chắc lúc đó bản mặt tôi láu cá lắm, vì Nụ bắt tẩy được ngay:

– Thôi đi ông, làm bộ hoài.

Tôi nhoẻn cười theo kiểu "hít vào tâm tĩnh lặng…":

– Cám ơn Nụ đã phát tâm làm phước, kiếp sau…

Nụ ngắt lời:

– Ở đây không phải là chùa chiền hay nhà thờ, không có kiếp trước kiếp sau gì hết.

Tôi ba hoa:

– Tu chợ mới khó, chớ tu chùa, dễ ợt.

Nụ nhíu mày:

– Hôm nay anh làm sao ấy. Hến mở miệng.

Tôi thầm kêu, Nụ ơi, tâm sinh lý anh đang xáo trộn, anh đang cô đơn như một con cọp tuyết, một con đom đóm đực; cho anh gầm lên một tiếng rung chuyển cả không gian, cho anh phát quang một lần rực cả đêm thâu, rồi chết cũng đành. Và tôi lên tiếng:

– Đêm nay anh đưa Nụ về.

Nụ cười giòn:

– Anh nói nghe như hát.

Hai má tôi nóng bừng, không hiểu vì men bia còn lại hay vì lời đề nghị táo bạo của mình. Tôi nói lảng:

– Ừ, hình như có bài hát …

Rồi tôi ngân nga:

Đêm nay anh đưa em về, vì sao lung linh nhè nhẹ…

Nụ bối rối quay mặt, giấu nụ cười e thẹn. Một lần nữa tôi khẳng định, không có người con gái nào xấu. Dẫu nhan sắc ai dưới điểm trung bình, vẫn có đôi lúc thẹn thùng trông duyên dáng lạ.

– Anh uống gì nữa không? Em mời.

Nụ hỏi. Tôi gật:

– Cho anh một tách cà-phê, uống để giã rượu.

– Uống nước chanh mới giã rượu.

– Vậy cho anh một ly nước chanh.

– Làm biếng lắm, Nụ pha cà-phê vậy.

Tôi buột miệng:

– Cà giựt quá!

Nụ tỉnh queo:

– Không những cà giựt, Nụ còn cà chua nữa đó anh.

– Anh thích canh cà chua với trứng.

– Canh nhà nghèo.

– Anh đang nghèo kinh khủng.

– Nghèo mà ham.

– Ừ, anh có tính ham hố quá độ, chẳng hạn như ham trúng số.

Nụ cất giọng cười trong trẻo:

– Nếu trúng số, anh sẽ làm gì?

– Phải làm nữa sao? Nghỉ làm, chỉ chơi thôi.

Nụ đặt tách cà-phê xuống mặt quầy. Tôi chậm rãi cho đường, rót sữa, khuấy trầm ngâm. Trí óc tôi bật ra những mộng tưởng. Tôi vẽ vời:

– Nếu anh trúng số, anh sẽ trở thành một trọc phú bần tiện, suốt ngày đếm tiền mệt nghỉ.

Nụ xoe mắt:

– Ủa, Nụ tưởng anh có tiền, chỉ lo chơi.

– Chơi hoài cũng chán, hoang phí riết cũng nhàm, phải keo kiệt một lần cho thiên hạ biết tay.

– Anh không thể là một người bần tiện được.

– Tại sao?

– Vì anh sẽ không bao giờ trúng số.

– Chờ xem hồi sau sẽ rõ.

Và tôi đổi giọng triết lý:

– Nghèo hay giàu đều khổ. Nhưng cái khổ của người có tiền dù sao cũng thoải mái hơn, trọc phú Hoa kỳ Roosevelt đã tuyên bố như vậy.

Nụ nhún nhường:

– Em không ham nhiều tiền.

Tôi chọc ghẹo:

– Vậy là em thuộc loại "một túp lều tranh với hai quả tim vàng".

Nụ thêm vào:

– Phải nuôi thêm gà.

Tôi ngớ mặt:

– Chi vậy?

– Để giống như cô Ba-bé.

Tôi thở ra:

– Lại thêm một tâm hồn cô độc.

Vừa lúc đó, đám chơi bi-da từ phòng ngoài ồn ào kéo vào, kêu Nụ tính tiền. Những ánh mắt nhìn tôi và Nụ, nửa dò xét nửa nhạo báng. Tôi đóng vai "trai tơ vô tội", tỉnh bơ châm thuốc, nhả khói mù mịt. Nụ chỉ tôi tấm bảng "cấm hút thuốc" treo trên vách. Tôi nhún vai, hớp cạn tách cà-phê, lững thững bước ra hiên ngoài.

Thời tiết đầu hè dịu mát. Hương hoa đêm bên vườn hàng xóm toả nhẹ. Cảm giác thời gian là bàn tay khổng lồ ve vuốt thịt da phủ lấy người tôi, ngất ngây choáng váng. Cùng lúc là cảm xúc đổ vỡ. Những nhịp cầu không gian gẫy đôi, trầm mình dưới dòng sông mất trí nhớ. Người tôi run lên. Tôi tự vỗ về, đừng, đừng để lòng mềm yếu như vậy chứ Trình! Tôi vừa lầm bẩm như một kẻ quẩn trí, vừa lần tay mở nút áo sơ-mi trên cùng. Hơi đêm phà mát ngực trống. Tôi mân mê sợi dây chuyền móc đồng tiền khắc chữ phúc bằng tiếng Hán đeo quanh cổ, kỷ niệm ngày xưa giữa tôi và Đoan long lanh hiện về. Buổi trưa trốn nắng trong đền rùa vàng. Màu nắng nhiệt đới êm ả toả mát hồn tôi, gợi nhớ ray rứt. Tôi ngước mắt tìm những vì sao quen thuộc cũ. Trời đêm tha hương cao vợi. Sao tha hương xa tít tắp, không đủ tầm tay vói.

Tiếng ồn của đám bạn lục tục kéo nhau ra cửa xô tôi về với thực tại. Một đứa đập vai tôi, nói như hạch sách:

– Làm gì đứng một mình trong bóng tối vậy mày?

Tôi xẳng giọng:

– Đang đêm đốt đèn đứng đái đường.

Đứa khác được dịp, xổ một hơi:

– Thằng Trình thất tình treo tường tự tử, thân thể trần truồng, trứng thòng tòn teng teo tái trông thấy tởm!

Cả lũ ngoác miệng cười đủ kiểu. Có đứa lên tiếng hỏi:

– Sao chưa về, mày?

Tôi thật thà khai báo:

– Còn chờ đưa Nụ về.

– Thằng này coi vậy mà có hiếu.

– Coi chừng ăn dao, nghe mày!

– Nụ hoa nào gặp phải tay thằng Trình, sau vài hôm là toè loe toét loét ra.

Tôi gắt:

– Tụi mày bựa vừa vừa thôi, cô Nụ nghe được, kỳ chết.

Nụ cũng vừa tắt đèn, bước ra khom lưng khoá cửa. Thấy Nụ, cả bọn im bặt, miệng như dính keo. Tôi đi trước, Nụ ngoan ngoãn theo sau. Tôi mở cửa xe cho Nụ, phì cười nhái nheo mấy câu thơ tiền chiến. "Tôi đi, Nụ theo sau. Tôi không dám đi mau. Sợ nàng chê hấp tấp. Số con rệp không giàu".

Nụ cài dây an toàn, hỏi khẽ:

– Anh cười chuyện gì?

Tôi đáp lửng lơ:

– Cười bâng quơ cho đỡ buồn.

Nụ không tha:

– Anh buồn chuyện gì?

Tôi cù nhầy:

– Buồn vu vơ cho vui.

– Anh sống nhiều với nội tâm, chỉ khổ.

Tôi mở máy, rồ ga, cho xe lăn chậm vào lòng phố đêm. Im lặng một lát, tôi mới lên tiếng:

– Nội tâm anh phức tạp như cái tổ ong, Nụ đừng để ý.

Nụ ví con:

– Ong góp mật cho đời thêm ngọt.

Tôi cảnh cáo:

– Bị ong chích một lần, nhớ đời!

Nói xong, tôi không dám quay nhìn Nụ, và thấy mình sỗ sàng như hàng tôm, hàng cá. Tôi nhớ tới câu ca dao có kim, có thịt chích nhau, nhếch môi cười lén. Nụ biết được, chắc bóp cổ tôi chết. Không khí bỗng dưng ngột ngạt, khó thở. Tôi mở máy phát thanh. Nhạc kích động vang lên chói tai. Tôi đổi đề tài:

– Ban đêm đài phát thanh thường cho nghe nhạc giựt gân, để tài xế khỏi ngủ gục.

– Nụ chỉ thích nghe nhạc Việt nam.

– Nhạc Việt buồn đứt ruột, thành ra nước mình không phát triển nổi.

– Buồn mới thấm.

– Ừ, nhưng đừng uỷ mị.

– Em thích người đa cảm, vui thì cười, buồn thì khóc.

– Anh đa đủ thứ.

– Vì vậy mà anh trẻ hoài.

Tôi kêu lên:

– Ối, anh chưa già mà Nụ!

Nụ cười lí nhí:

– Tóc anh muối tiêu rồi, còn bảo chưa già!

Tối cố vớt vát:

– Có người xúi anh nhuộm tóc, nhưng nhà anh nghèo, còn phải gởi tiền về Việt nam nuôi mẹ già đang bệnh nặng, nên không để ý tới chuyện sửa sang nhan sắc.

– Hôm nào sinh nhật anh, Nụ sẽ tặng anh mười lọ thuốc nhuộm tóc.

– Anh không cho ai biết ngày sinh bao giờ, sợ bị mắng, nghèo còn ham nhận quà.

– Được quà, ai lại không ham?

– Đã bảo, anh là trường hợp ngoại lệ, là một động từ bất qui tắc, khó thuộc khó nhớ.

– Anh phức tạp thật đó!

Tôi chắt lưỡi:

– Nói rồi mà không tin.

– Nụ tin chứ… Anh bỏ Nụ ở đầu đường, Nụ đi bộ vào được rồi.

Tôi từ từ tắp xe vào lề. Chào tôi xong, Nụ còn chêm thêm câu:

– Anh nói chuyện có duyên lắm!

Tôi tưởng tượng ra nét mặt mình khi được khen, chắc hí hửng đáng ghét lắm, và nhủ lòng, cố đừng để Nụ hiểu lầm. Tôi trông theo dáng Nụ lầm lũi dọc theo lề đường. Nụ có thân hình đẹp. Áo thun bó eo thon. Quần jeans khít khao cặp mông tròn. Tôi chờ cho Nụ rẽ vào ngõ mới nhấn ga chạy tiếp. Tôi cho xe trườn chậm giữa phố khuya rộng thênh. Tôi chợt thấy mình mệt mỏi, già cỗi và đơn độc như con cá trê vùi mình trong đất chờ mưa tới. Ông Từ Thức thuở xưa lạc chốn bồng lai một khoảng thời gian, trở lại trần thế thì đã mấy trăm năm trôi qua. Như thế, thời gian chẳng nghĩa lý gì. Tất cả chỉ là một giao ước giữa loài người với nhau. Ngày, tháng, năm và thế kỷ. Lịch dương và lịch âm. Cả thái dương hệ cũng chẳng là cái thớ gì trong vũ trụ mênh mông này. Biết vậy, đã nhận ra điều vô nghĩa ấy, cớ sao tôi vẫn dằn vặt khổ đau với những tiểu tiết không đâu? Tôi là nhà sư Thích đủ thứ, tu hoài, vẫn không đắc đạo. Tôi mải miết đi tìm cái mất trong quá khứ và cái không cho tương lai. Tôi vẫn còn nguyên cảm tính của một sinh vật, tìm cách thoả mãn những khát vọng sinh tồn. Tôi kêu thầm, Đoan ơi, tại sao vậy? Tại sao anh không thể quên em? Ngần ấy năm quen nhau nào thấm thía gì với tuổi đời của địa cầu, của vũ trụ, mà sao anh vẫn chưa quên?

Đến nhà, tôi tắt máy, gục đầu xuống tay lái, rấm rứt khóc.

Chỗ trọ của tôi nằm trong một ngõ cụt đầy bóng tối. Đêm im vắng trần trụi ôm choàng lấy tôi. Một nỗi khiếp sợ vô cớ bủa vây tâm hồn tôi, như con thú rúm thân qui phục trong tấm lưới vô hình. Tôi không muốn vào nhà lúc này. Tôi sợ tiếng chìa khoá lạnh lẽo, khô khốc tra vào ổ. Tôi sợ những âm dội đuổi theo bước chân mình. Tôi chán mớ chăn nệm quen hơi như hơi hướm nồng gắt của một người tình già. Tôi ngại phải mơ lại những giấc mộng không đoạn cuối. Trời ơi, những con rùa đền vàng cứ đeo ám lấy tôi, cả bầy chục, trăm, ngàn con. Những mai rùa khắc chữ phúc lừ đừ chuyển động, chậm mà chắc, xấn tới, trườn lên người tôi, cưỡng đoạt ý thức tôi. Những cái đầu rùa nhú dài, ngúc ngắt, trông như những dương vật với đầy đủ mắt, mũi, miệng… Một tiếng động vang lên. Tôi lạnh người, ngẩng đầu. Con mèo nhà hàng xóm ngang nhiên nhảy lên ngồi trước kính xe, giương mắt nhìn tôi trân tráo. Người và vật sửng mắt đối diện giây lát. Rồi, con thú duỗi chân ném mình xuống đất, lủi vào hàng rào mất dạng. Tôi mở cửa xe, bước ra. Căn nhà mọc thêm những cánh tay, chờ ôm tôi vào lòng.

*

Đoan và tôi nghiêng vai nhìn xuống hồ nước cạn. Nắng xuyên tàn cổ thụ, soi đốm xuống mặt nước xanh rêu. Bầy rùa buổi trưa đang tĩnh tâm thiền định. Không gian phẳng phiu, không một vết gấp. Lũ chim sẻ thành phố trốn nắng nơi nào, không nghe tiếng ríu rít.

Đoan cất tiếng:

– Rùa sống lâu không anh?

– Như người, có khi lâu hơn.

– Em không thích giống rùa, trông chúng bò chậm chạp mệt nhọc, bực mình quá.

– Anh lại thấy rùa là một sinh vật đầy bí ẩn. Chúng là loài thú độc nhất có thật trong tứ linh. Anh còn thích huyền thoại rùa hoàn kiếm trong lịch sử.

Đoan lắc đầu:

– Em không tin chuyện đó có thật.

– Đã bảo là huyền thoại mà… Còn em thích giống thú nào?

– Em thương chó con, gà con, mèo con. Nói chung, thú vật còn nhỏ, con nào cũng dễ thương cả.

Tôi kêu:

– Sao không thú nhận, em thích chơi bầu cua cá cọp cho rồi!

Đoan nói như rên:

– Đừng nhắc, em lại nhớ Tết ở nhà.

Quê Đoan ở ngã ba Trung lương. Nàng lên Sài gòn trọ học nhà dì dượng đã hai năm nay. Lần nào chúng tôi gặp nhau, Đoan đều than nhớ nhà. Tôi bảo, nhớ thì về thăm, Sài gòn và Trung lương đâu xa xôi gì. Hằng năm, Đoan về nhà hai lần, bãi trường và Tết. Từ khi quen tôi, Đoan xẻ đôi những dịp nghỉ, một nửa dành để đi chơi với tôi. Chúng tôi chưa hề nói thương nhau. Tình cảm giữa hai đứa chỉ giới hạn ở bàn tay nắm và những lần ôm nhau trong mấy buổi nhảy đầm lậu. Không hiểu Đoan nghĩ sao, vì tôi chưa hỏi, riêng tôi vẫn chưa định rõ lòng mình. Có đôi lúc tôi nhớ Đoan ghê gớm, thèm có nàng ngay bên cạnh, ước được áp mặt vào vai nàng. Cũng có những khi tôi tự vấn lòng, thấy hoang mang những hoài nghi. Má tôi thường nói: "Thằng Trình ít nói, nhu mì nhủ mỉ như con gái, lại nhiều tưởng tượng, sau này sẽ khổ." Thuở ấy tôi nào để ý gì tới chuyện "sướng" hay "khổ". Hai cảm tính trừu tượng ấy chỉ đơn thuần là những nhu cầu vật chất, như "có, không" hay "được, mất". Lớn dần, tôi bắt đầu nghĩ tới chuyện "cho" và "nhận". Tất cả những đối tính ấy dường như không còn minh bạch nữa. Vùng xám ngăn chia trắng, đen càng lúc càng lớn. Sẽ có lúc chúng hoà vào nhau.

– Anh đang nghĩ gì?

Đoan hỏi giọng đầy thắc mắc. Tôi cúi đầu sát vai nàng:

– Lan man, không bờ bến.

– Còn em đang nghĩ gì, anh biết không?

– Làm sao biết được.

– Em nghĩ tới chuyện tương lai.

Tôi xoay người, tựa lưng vào thành hồ, đối mặt Đoan. Hai mắt nàng chớp nhẹ. Tôi đăm đăm nhìn vào nốt ruồi tham ăn gần môi trên của Đoan, thấy nàng duyên dáng kỳ lạ. Tôi muốn áp môi mình lên đó, để thử lại định luật từ tính âm dương hút nhau.

Đoan tần ngần giây lát, rồi nói:

– Không biết chuyện học vấn của em rồi sẽ tới đâu.

Nàng làm tôi cụt hứng. Mọi qui luật vật lý bỗng trở nên vô duyên. Tôi cúi đầu nhìn những ngón chân nhú ra mũi dép xăng-đan, thấy chúng kỳ cục hết sức. Ông trời sinh ra mười móng chân và hai đầu vú đàn ông để làm gì?

Tôi lên tiếng hỏi Đoan. Nàng trợn mắt:

– Hỏi gì kỳ.

Tôi không dám cười lớn, không phải vì sợ Đoan giận mà e làm kinh động bầu không khí yên tĩnh ban trưa. Tôi chuyển đề tài:

– Em có mê tín dị đoan không?

Đoan tủm tỉm:

– Hình như có.

Tôi đề nghị:

– Mình vào đền xin xâm nghe Đoan!

Đoan lưỡng lự:

– Em sợ biết trước chuyện mai sau.

Tôi nắm tay Đoan kéo tới:

– Khấn vái thôi cũng được.

Đoan ngoan ngoãn sánh vai tôi bước vào đền thờ. Chúng tôi tháo dép bỏ ngoài ngạch cửa. Không hiểu từ đâu, hơi mát hắt ra khiến tôi tỉnh táo hẳn. Hương trầm lan dịu. Những chân nến không thắp, hai bình hoa vạn thọ, lư hương tàn lạnh, hai pho tượng ông Thiện và ông Ác đứng trên điện thờ chăm chăm nhìn xuống. Đôi chụp đèn dầu nhỏ ngọn hắt ánh sáng tù mù.

Đoan tìm tay tôi, siết lại. Chúng tôi đứng trước hai cột gỗ lớn dán cặp liễn đỏ. Hàng chữ Hán thảo mực kim nhũ sáng lờ mờ như lời gởi gắm mòn mỏi. Bây giờ tôi mới nhận ra những hình dơi ngậm đồng tiền kẽ chữ phúc khắc đầy sà ngang. Cả điện thờ là một bức tranh đầy sắc ấm. Tôi và Đoan đồng loạt quì xuống. Tôi khum tay trước ngực, ngước mặt. Đôi mắt ông Thiện và ông Ác long lên sáng quắt. Con dơi há miệng nhả đồng tiền chữ phúc cột chỉ đỏ xuống chiếu hoa. Ngọn đèn dầu rực lên. Lửa tràn ra, liếm vào tấm nhiễu đỏ, phực cháy. Khói tuôn mù mịt. Tiếng lửa lách tách, tiếng gỗ cựa mình răng rắc như lời thú tội sau cùng… Tôi buông tay chắp, đặt lên ngực trái. Tim tôi đập loạn. Trán tôi vã mồ hôi. Tôi nhắm mắt định thần, hình dung ra cảnh bầy hạc tuyết quạt cánh khoan thai tìm về tổ lúc hoàng hôn. Tim tôi từ từ trở lại nhịp thường.

Khi tôi mở mắt ra, không còn thấy lửa táp. Bầy dơi vẫn câm lặng xếp hàng trên sà ngang. Chợt, từ khung cửa bên trái, một dáng người vẹt màn bước ra. Từ nãy giờ, Đoan bất động như hoá thạch, lúc này mới thốt khẽ:

– Có người kìa anh.

Cụ ông mặc áo thụng đen, đầu đội mũ con theo kiểu Trung hoa, khuôn mặt ẩn trong bóng tối loè nhoè. Cụ bước lại điện thờ, vói tay lấy xuống chân nến, móc trong túi ra hộp diêm. Ánh lửa xoè lên soi một bên mặt ông. Đường chân mày trắng như cước, rậm rì vắt ngang vầng trán rộng. Gương mặt đầy những vết nhăn. Hoa mồi hiện rõ trên gò má nhô.

Tự dưng tôi rùng mình một cái. Dáng dấp và diện mạo người đàn ông toát một hấp lực huyền bí, cuốn lấy thần trí tôi. Đoan vẫn nín lặng theo dõi động tác của cụ ông. Ông đặt hai chân đèn trở lại chỗ cũ, mọp ngồi xếp bằng đối diện chúng tôi, giơ tay trải vạt áo phủ hai đầu gối, nụ cười điểm trên môi. Tôi và Đoan bối rối xá chào ông.

Ông cất giọng điềm đạm:

– Có lẽ cô cậu tới đây lần đầu?

Tôi "dạ" nhỏ. Người đàn ông tiếp giọng:

– Tôi là người Minh Hương. Dòng họ tôi qua đây sinh sống đã lâu. Ngôi đền này là công trình xây cất của một nhóm Hoa kiều đầu tiên tới lập nghiệp tại đất Gia định này. Mới đầu chỉ là một cái am nhỏ thờ cúng tiền nhân, và cũng là chỗ nương tựa cho vong linh người khuất mặt. Rồi am phát triển dần. Chiến tranh chống Pháp kết thúc năm 1954. Dân chúng được yên ổn làm ăn. Người Hoa từ khắp nơi đổ về đây sinh sống càng lúc càng đông. Vùng này, hồi xưa toàn bùn lầy nước đọng, dần dần trở nên khang trang phồn thịnh. Đền rùa này cũng vậy.

Nói tới đó, ánh mắt cụ ông nhíu lại đăm chiêu. Bên ngoài nắng lệch, chiếu qua ô cửa, soi thành luồng sáng đầy bụi. Không biết Đoan nghĩ gì trong khoảnh khắc này, riêng lòng tôi vừa dấy lên điều mầu nhiệm khó tả. Khung cảnh này, cụ già Minh Hương và câu chuyện vừa kể khơi dậy trong tôi một chút bâng khuâng. Tôi nghĩ tới những thăng trầm lịch sử. Tôi ái ngại giùm số phận của những di dân. Tôi đặt nghi vấn về sự có mặt của chính tôi tại đất nước này, vào thời điểm này, và buổi hội ngộ kỳ lạ trưa nay với ông cụ tại đây.

Thần trí tôi còn đang phân vân thì đền chủ đã khoan thai tra tay vào túi áo, xoè ra trước mắt tôi và Đoan hai đồng tiền kẽm. Chúng tôi xoe mắt ngắm. Cụ ông cố ý đưa tay vào chỗ nắng rọi. Hai đồng tiền đúc theo kiểu xưa, giữa khắc nổi một chữ Hán, viền quanh một bầy dơi nối cánh.

Cụ ông giải thích:

– Lúc chúng tôi cho thợ đào đất xây hồ nuôi rùa, tình cờ tìm thấy mấy đồng tiền cổ. Chắc không phải tiền xu đâu, vì không thấy ghi giá và triều đại gì hết, mà chỉ khắcc hình dơi và một chữ phúc. Đoán là điềm lành, nên tôi đặt làm thêm một mớ y như vậy đề biếu khách vãng lai. Bữa nay thấy cô cậu tới viếng đền, ngó qua cử chỉ, tôi nhận ra lòng thành, nên xin tặng cô cậu mỗi người một đồng tiền, coi như lời chúc đại phúc.

Nói xong, cụ ông nở nụ cười nhẹ. Chúng tôi đón lấy món quà đẹp. Đoan cám ơn lí nhí. Tôi xá ba cái cảm tạ lòng tốt của vị chủ đền. Người đàn ông đứng lên, vuốt lại sống áo, rồi quay lưng bước vào trong. Nội đền trở lại tĩnh lặng. Tôi và Đoan đưa mắt ngó nhau. Có lẽ Đoan cũng đang hồ nghi giống như tôi. Không biết mọi việc vừa xảy ra có thật hay chỉ là ảo giác? Hai ngọn nến vẫn cháy leo lét. Đồng tiền chữ phúc nằm rành rành trong lòng tay nắm. Tôi kéo tay

Đoan đứng dậy, cất tiếng:

– Thôi, mình đi!

*

Kỷ niệm trưa nào với Đoan trở về cùng tôi khuya nay, khi tôi dừng xe lại đầu ngõ nhà Nụ, chờ nghe lời từ giã. Nhưng không, Nụ đã nhỏ giọng hỏi:

– Nụ mời anh vào nhà uống với Nụ một tách cà-phê.

Tôi muốn hỏi, Nụ có biết, rủ rê như vậy là lộ liễu lắm không? Nhưng tôi không dám lên tiếng, sợ nàng chê tôi làm bộ làm tịch. Tôi không đáp, chỉ tắt máy, mở cửa bước ra. Chúng tôi sánh đôi bên nhau như hai con mèo giữa mùa tình ái. Như thế, cảm tình của Nụ dành cho tôi đã rõ. Còn tôi vẫn chưa xác định được vai trò mình trong đời sống nàng. Những tối ra hội quán chơi bi-da, tới giờ đóng cửa tôi vẫn sắm vai tài xế đưa Nụ về, không một dụng ý. Để đến tối nay, khi nghe Nụ ngỏ lời, tôi chợt thấy mình ngô nghê, loắt choắt như một con nhện đực thận trọng men theo sợi tơ tìm tới nhện cái. Xong xuôi phải nhớ dọt lẹ, cà rịch cà tang là có nước bị xơi tái.

Nhà Nụ ở tầng trên cùng trong một chung cư cũ. Thang máy chuyển động lịch xịch như được kéo bằng tay thời còn nô lệ. Từ nãy tới giờ, nhện đực ngậm tăm, nhện cái cũng tịnh khẩu. Chúng tôi là không gian và thời gian yên tĩnh tuyệt đối trước cơn địa chấn cấp chín. Thời tiết đang chuyển mùa rối loạn trong tôi. Tuyết chưa tan mà đã sang hè. Lá vừa rụng, ấy mà những nụ linh lan đả xởn xơ đâm chồi. Niết bàn nội tâm tôi chợt bốc lửa thành hoả ngục với đủ bộ tham sân si và lục dục thất tình. Ai muốn thành thánh, bồ tát gì, kệ họ; còn tôi trong giây phút này chỉ muốn mình là một con ngạ quỉ. Tôi thầm kêu, thượng đế ơi, xin ban cho con đủ can đảm đóng trọn vai trò một con quỉ đêm nay.

Nụ đẩy tách cà-phê tới trước mặt tôi, vói tay bật máy cát-sét. Nhạc đang tới đoạn: "…Nhưng ai bạc bẽo mình vẫn không đành lòng quên." Người nữ ca sĩ láy đi láy lại lời than não nuột rồi chấm dứt bài hát. Tôi chặc lưỡi:

– Nhạc Việt nam nghe sao mà đoạn trường.

Rồi quay đầu nhìn quanh, hỏi:

– Nụ có cho phép anh hút thuốc?

– Người khác thì không, nhưng anh thì được.

Nói xong, Nụ đi lấy cho tôi cái dĩa con làm gạt tàn. Nhạc chuyển sang bài khác. "Mưa khuya hắt hiu xuyên qua mành, tình đơn giá lạnh…" Lại một khúc đoạn trường khác. Tôi rít một hơi sâu, thong thả nhả khói. Gương mặt Nụ mờ nhoà sau làn hơi đục. Nhất định là Nụ không đẹp. Còn tôi không phải là một gã háo sắc. Nhưng khuya nay, không biết chất xúc tác nào đã đẩy đưa tôi và Nụ phản ứng cùng nhau. Và động cơ nào đã bắt tôi hoài nghi về sự có mặt của thượng đế. Đáng yêu vô cùng bàn tay của đấng tạo hoá đã phân cảnh vở tuồng cho tôi gặp Nụ. Đào thương và kép độc gân cổ song ca vọng cổ thì phải biết, mùi rệu. Tôi bật cười khan khi nghĩ tới cảnh mình sắp tử nạn sa trường, còn ngóc cổ nghêu ngao bài vọng cổ.

Nụ hỏi:

– Anh cười gì?

Tôi không biết nói láo:

– Anh vừa nghĩ tới thượng đế và mấy tuồng cải lương.

Nụ trợn mắt:

– Kỳ cục.

Tôi thều thào:

– Thượng đế bày chi những tấn tuồng thảm thương quá vậy.

– Diểu dở.

Tôi trơ trẽn:

– Đã có người khen anh nói chuyện có duyên.

Nụ trúng đạn, á khẩu. Tôi giả giọng khiêm tốn:

– Riêng anh thấy mình vô duyên như ngỗng đực.

Nụ được dịp:

– Vô duyên cái túi không tiền, cái môi xám xịt, cái lưỡng quyền nhô cao.

– Lưỡng quyền cao là tướng sát phu, không phải tướng vô duyên. Vô duyên chưa nói đã cười, chưa đàn đã hát, chưa mời đã ăn.

Nụ khẳng định:

– Như vậy là Nụ cũng không phải tuýp người kém duyên. Còn thượng đế?

Tôi ngớ mặt:

– Ông trời tháng mười chưa cười đã tối, cũng khá vô duyên.

Nụ cười khúc khích:

– Nụ muốn hỏi, anh nghĩ gì về thượng đế?

Tôi dụi tắt điếu thuốc, hớp ngụm nhỏ cà-phê, nhìn lên tấm ảnh Đức Mẹ ẵm Chúa hài đồng lộng kính treo trên tường. Nét mặt Đức Mẹ thuần hậu. Nét mặt Chúa hài đồng rạng rỡ, ấm áp giao cảm. Nhưng mà thượng đế trong tôi lại vô tướng, nên tôi không biết phải hình dung như thế nào để thượng đế của mình có một chân diện thật sắc sảo. Tôi thật thà trỏ tay vào tim rồi lên đầu mình:

– Thượng đế ở trong tâm và trí anh.

– Người bình thường không thể hiểu nổi.

Tôi phát biểu ẩu tả:

– Đâu có gì khó hiểu. Dùng tình và lý để làm lành tránh dữ, đạt tới trạng thái an nhiên tuyệt đối.

Nụ vặn vẹo:

– Như vậy là thượng đế đó hả?

Tôi khẳng định:

– Thượng đế là một trạng thái, không có hình tướng.

Nụ lắc đầu:

– Ý nghĩ anh cao siêu quá, vượt bức tường âm thanh, Nụ không hiểu.

– Làm sao giải thích được lý lẽ của trái tim.

Nụ cười trào nước mắt sống:

– Anh lắm lời.

Rồi nàng đứng dậy dọn tách dĩa. Nhạc chuyển sang một khúc đoạn trường khác: "Đường vào tình yêu có trăm lần vui, có vạn lần buồn…" Nụ vừa xả nước rửa tách, vừa rỉ rả hát theo: "Đôi khi nhầm lỡ, đánh mất ân tình cũ…" Tôi sà tới sau lưng Nụ, nhẹ tay đặt lên hai bên thắt lưng nàng. Người Nụ nẩy nhẹ. Đầu Nụ khẽ xoay nghiêng, cho tôi thoáng thấy màu mặt ửng hồng. Tôi thừa thắng xông lên, khép tay lại trước bụng Nụ, từ từ lấn lên. Ngực Nụ vừa tầm, mềm ấm kỳ lạ. Nụ thở hắt:

– Anh Trình… Coi chừng bể!

Tôi vội vàng rút tay về, ngơ ngác:

– Cái gì bể?

– Mấy cái tách.

Tôi cười nhẹ nhõm, ngả đầu xuống vai Nụ. Môi tôi cạ kề ngấn cổ thon. Mồ hôi Nụ có màu mơ chín. Hương tóc Nụ có màu nắng Thái bình dương. Cảm xúc tôi là những đợt sóng sủi bọt, nhấp nhô xô vào bãi. Từng đợt lại đừng đợt bền bỉ. Bờ cát Nụ trải ra, chờ đợi. Cát và sóng không nói với nhau lời nào, cứ lặng lẽ như thế, lúc dịu dàng lúc vồ vập. Những mảnh gương ký ức loé sáng trong tôi. Khuôn mặt Đoan lung linh ẩn trong khuôn mặt Nụ. Bàn tay Nụ là bầy rùa di động trên thân thể tôi. Những chiếc qui đầu vươn ra, sù sì, gân guốc. Những con mắt lừ đừ vô cảm ngó tôi chằm chằm. Những rãnh miệng mở hé, để lại những đường nhớt mê hoan trên ngực tôi. Thịt da tôi mở ra một thửa đất rộng, đón nhận tất cả. Tôi trăn trở như lòng đất trước cơn động kinh. Qua khe mắt, tôi lờ mờ nhìn ra khuôn mặt Nụ chập chờn như một bóng ma quá khứ.

Có phải Đoan đó không? Đoan đang trở về qua hiện thân Nụ. Tôi vùng dậy, gập người cắm cúi trên thân Nụ. Sợi dây chuyền móc đồng tiền chữ phúc rơi thõng trên ngực người con gái. Tôi dúi mặt vào tóc Nụ. Hai nhịp thở gấp rút. Tay Nụ bấu lấy vai tôi. Tôi hình dung ra những chiếc cầu vắt vẻo treo ngang những dòng sông đã trôi qua tiềm thức. Tôi muốn lấp kín những dòng cuồng lưu. Tôi muốn phá gẫy những nhịp cầu nối kết. Tôi muốn mình mất trí nhớ, bình thản như một giọt sương chờ khô héo.

Nụ mân mê sợi dây chuyền quanh cổ tôi, run giọng:

– Anh có khinh Nụ không?

Tôi nghiêng mặt nhìn Nụ. Đèn đêm viền nửa mặt nàng, nhoà nét như tấm ảnh chụp run tay. Tôi hỏi lại:

– Tại sao?

– Vì Nụ và anh chưa là gì của nhau.

Tôi nói loanh quanh:

– Nụ là người tình, là bạn, là em gái của anh.

Nụ tha thiết:

– Đại huynh ơi, dù mai này có ra sao, cũng đừng quên tiểu muội!

Tôi xúc động, rúc mặt vào cổ Nụ, kêu tới tấp:

– Tình nương ơi, hiền muội ơi, xí-muội ơi…

Nụ nâng mặt tôi, ngắm nghía một chặp rồi vặn mũi tôi một cái:

– Hiền cái gì, dữ lắm đó!

– Không cắn là được rồi.

– Cắn chớ sao không.

Để chứng minh, Nụ vít đầu tôi xuống, ngoạm chặt vành tai tôi. Tôi phân bua:

– Tại sao không đeo bảng "coi chừng người dữ", để khách phương xa đề phòng?

Nụ nhả tai tôi ra, cười lí nhí. Tay nàng lại tìm xuống cổ tôi, sờ soạng đồng tiền chữ phúc. Giọng Nụ nhẹ tênh:

– Kỷ vật gia đình, phải không anh?

Tôi đáp cho xong:

– Của má.

– Chạm hình gì vậy? Tối quá, Nụ không thấy.

– Chữ phúc và mấy con dơi.

– Sao lại có hình dơi trong đó?

– Đối với người Tàu, dơi là biểu tượng của phúc, hai chữ đọc giống nhau.

– Anh là Tàu lai à?

– Không.

– Tại sao lại đeo mấy thứ này?

Tôi ngửa người ra giường, thở ra:

– Đã bảo là của má, má cho gì, đeo nấy.

Và đột nhiên, tôi cảm thấy mệt mỏi như quàng phải ngàn cánh dơi quanh cổ. Tôi xoay lưng, quấn chăn, tìm giấc ngủ. Nụ đặt tay lên vai tôi. Hơi thở nàng khoả ấm gáy tôi. Tôi vói tay tắt chụp đèn cạnh giường. Bóng tối ôm lấy thân thể tôi. Đêm trầm tư thiền tịnh. Hai vòm mắt khép chợt mở ra cho tôi thấy lại cõi hồi ức lê thê trải ra một con đường sắt. Trí nhớ tôi là đoàn xe lửa sầm sập chạy hoài không mỏi, thỉnh thoảng ghé lại ga nhỏ, rồi rít còi, xậm xịt nhả khói, lầm lì tách bến, lao mình vào chuyến phiêu lưu không một lời hứa hẹn. Đã lần nào tôi hứa với ai lời gì? Không, tất cả chỉ là những câu nói suông. Đừng tin vào lời hứa của quỉ. Tôi cứ thắc mắc tại sao mình không thể là một con rùa vô tư, miệt mài nghe trộm kinh mà thành Phật?

*

Đám bạn bi-da của tôi thường bàn với nhau, hội quán này xem chừng không thọ, vì tiền nhà cao, lại thưa khách. Một đứa đề nghị, đáng lẽ phải có thêm máy bấm tiền và trò bài bạc cho đỡ nhạt. Đứa khác táo bạo hơn, mướn thêm mấy em từ Ba-lan, Tiệp-khắc làm thành quán bia ôm cho rồi. Đa số độc thân ủng hộ ý kiến này. Tôi thì… sao cũng đưọc.

Sau đó tôi kể lại cho Nụ nghe, nàng bĩu môi:

– Đàn ông các anh là một bầy dê.

Tôi ngây thơ:

– Cả anh?

Mắt Nụ rời quyển sách, giọng hóm hỉnh:

– Anh là một con dê ngầm. Ánh mắt, nụ cười, điệu bộ, giọng nói và luôn cả ý nghĩ của anh sặc mùi… dương tính.

Tôi pha trò:

– Cà-ri dê là món ăn tăng cường sinh lực. Còn ngọc dương dê hầm thuốc bắc là một món độc đáo. Nhất dạ lục giao, sinh ngũ tử đó em! Nước Ấn-độ đông dân vì vậy.

– Không ham. Nhất định chỗ này không thể trở thành quán bia ôm.

– Anh chỉ nói lên ý kiến của người khác.

– Còn ý anh?

– Miễn bàn.

– Anh là một người bốn phải.

– Hơi ít. Năm, sáu phải gì đó.

Nụ nguýt:

– Anh nói chuyện nghe chán phèo.

Tôi mỉm cười lạc lõng:

– Lâu lâu em cũng nên cho các bạn anh thả dê, để đỡ chán.

Nụ gấp sách lại, thẹn thùng:

– Ai cấm. Nhưng anh nói, nghe kỳ.

– Chuyện tự nhiên, đâu có gì kỳ.

Tôi giằng lấy quyển sách trên tay Nụ, ngắm nghía. "Xóm vắng" của Quỳnh Dao. Tôi kêu thầm, trời ạ, lại thêm một hố thẳm tư tưởng giữa tôi và Nụ. Tôi nhỏ nhẹ hỏi:

– Hay không?

Nụ chớp mắt:

– Cảm động dễ sợ.

Tôi bàn tới:

– Em nên đọc "Anh em nhà Karamasow" của Dostojewski và "Ngàn cánh hạc" của Kawabata.

Nụ thẳng thừng:

– Nghe như trùm điệp viên KGB và hiệu bán giày dép.

Tôi cảm thấy như chính mình bị xúc phạm:

– Hai văn hào của văn học quốc tế đó, đừng nói bậy!

– Còn Quỳnh Dao? Sách của bà ta được hàng triệu người đọc, bà nổi tiếng khắp châu Á, cũng là văn hào chớ bộ.

Tôi ghét hai chữ "chớ bộ" không biết học lóm ở đâu của Nụ, gân cổ lên:

– Tiểu thuyết của bả không có tư tưởng gì ráo.

– Có chứ, tư tưởng của đám đông.

Tôi giải thích vòng vo:

– Ý anh muốn nói, tư tưởng là quan niệm riêng về đời sống, chẳng hạn như hoài nghi của Dostojewski về thượng đế và thiện, ác. Đám đông làm gì có tư tưởng.

Nụ cãi:

– Viết để làm đẹp cuộc đời. Ai ở hiền sẽ gặp lành. Kẻ nào gieo gió sẽ gặt bão. Không là tư tưởng chứ là gì?

Tôi đuối hơi:

– Tư tưởng có nhiều loại, giống như hạng ghế trong rạp hát.

Nụ giật lại quyển sách, cất vào hộc, hất mặt:

– Anh đọc cái gì, kệ anh. Còn Nụ đọc những thứ Nụ thích. Thượng đế của anh ở đâu, kệ anh. Còn thượng đế của Nụ ở trên trời. Đừng có lộn xộn!

Tay tôi nâng cằm, mắt tôi nhìn Nụ ngoe nguẩy thu dọn trong xó bếp, không nói tiếp lời nào. Cứ mỗi lần nhắc tới thượng đế là tôi lại thấy một lằn ranh cắt chia giữa tôi và Nụ. Tôi đâu phải là người cố chấp. Quan niệm của tôi về đức tin phóng khoáng, cởi mở và đơn giản lắm mà. Thượng đế của tôi vô hình tướng. Chỉ vì mê chấp mà loài người thấy ra những thượng đế và tôn giáo khác nhau.

Đã có lần tôi giảng đạo cho Nụ: "Cũng một vật, tại sao lại có nhiều tên gọi không giống nhau? Tôn giáo cũng vậy. Ông Phật, ông Chúa, ông Allah, ông Schiwa thật ra chỉ là một mà thôi." Nụ không đồng ý: "Là một sao được? Ông Phật là người Ấn-độ, Chúa xuống thế ở Do thái, còn ông Allah ra đời ở Trung đông. Họ hoàn toàn không có bà con gì với nhau. Nói tầm bậy." Tôi cố vớt vát: "Họ là biểu tượng cho mỗi giáo phái, mà biểu tượng là do con người đặt ra, còn cứu cánh cuối cùng đâu có gì khác. Thiên Chúa ngự trong lòng mình. Phật tánh tại tâm. Đừng tìm đâu xa, thêm mệt." Nụ ngoan cố: "Ông Phật và ông Chúa là hai người. Một ông Ấn-độ da ngâm, một ông Do thái da trắng, là một chỗ nào?" Tôi kêu lên: "Em bị bệnh nặng, hết thuốc chữa." Nụ không vừa: "Còn anh cứng đầu cứng cổ, ba hoa chích choè, sẽ có ngày đền tội"… Lần đó chúng tôi giận nhau hết một tuần. Tối thứ sáu, thấy vắng mặt tôi tại hội quán, có người gọi điện về nhà hỏi han. Tôi viện cớ phải tiếp bạn từ xa đến chơi, không đi được. Nhưng tôi chỉ nằm nhà chịu đựng được một tuần. Đời sống nơi đây buồn chán quá. Đêm tới, ngày đi, lặng lẽ thay phiên. Phần tôi cứ mãi tưởng nhớ tới những bóng ma quá khứ. Và tôi nhất định quên Đoan, cũng như cố gắng xua đuổi hình ảnh lũ rùa gớm ghiếc dấy loạn tâm tôi bấy lâu.

Một hôm, tôi tháo đồng tiền chữ phúc, cất vào hộp. Tôi cảm thấy nhẹ nhõm như có luồng khói huyền thoại vừa tuôn ra từ những khe hở ký ức. Tôi run rẩy nhận diện tội phạm. Chính tôi, chính là tôi chứ không ai khác. Bao lâu nay, tôi đã đánh mất hiện tại mà không hay biết.

Giọng hát ai khàn khàn cất lên, nhại theo bài "Trên bốn vùng chiến thuật":

Tôi thường đi đái đêm, một đêm ba bốn bận, ghèn đầy hai con mắt ứ…

Nụ bụm miệng cười. Tôi run đùi đắc chí. Nụ lẩm bẩm:

– Vô duyên.

Tôi chống chế giùm người đang ca Karaoke:

– Có duyên đó chứ.

Nụ cau có:

– Sao anh ưa cãi ngược quá vậy?

Tôi hạ giọng:

– Đâu có.

– Lại cãi.

Tôi phân trần:

– Đàn bà con gái, người nào cũng dữ hết. Kẻ dữ ra mặt, người dữ ngầm. Dữ quá xá quà xa.

Nụ nghinh mặt, định nói điều gì nhưng ngăn lại kịp. Lát sau nàng nới nhỏ nhẻ:

– Đàn bà con gái chúng em là những con rắn.

– Con rắn trong thánh kinh, chứ không phải con rắn trong lý thuyết của Freud.

– Ai vậy? Lý thuyết gì vậy?

Tôi xẳng giọng:

– Bạn học, chết rồi. Lý thuyết tâm thần nhảm nhí.

Nói giỡn chút xíu, vậy mà lúc tôi đưa Nụ về nhà, nàng rụt rè lên tiếng:

– Tôi nghiệp cho người bạn của anh, tại sao chết vậy?

Tôi ngẩn ngơ:

– Hả? Bạn nào chết?

Nụ hầm hè:

– Thì cái người với lý thuyết con rắn đó.

Tôi suýt phì cười, thở khì:

– Ờ, ông Freud. Thì tới tuổi, già chết chớ sao.

– Anh cũng có bạn già nữa à?

Tôi gật gù:

– Bạn vong niên.

Nụ xoắn lấy cổ tay tôi, mềm giọng:

– Còn anh là bạn đời của Nụ.

Người tôi xúc động nổi gai. Tôi im lặng dành một phút mặc niệm về những liên hệ đã được tôi an táng xong xuôi. Cảm giác ấm áp của Nụ truyền sang tay tôi, bắt tôi bất chợt rưng rưng nước mắt. Cuộc tử biệt nào cũng đau lòng. Bứt lìa nào cũng xót xa. Tôi giơ tay bật máy cát-sét. Giọng hát cất lên ray rứt: "Còn gì nữa, tuổi vàng qua mất rồi…" Tôi phân vân tự hỏi, không lẽ Nụ là trạm dừng chân của đời tôi?

*

Một hôm tới thăm Nụ, tôi thấy nàng ngồi rưng rưng nước mắt bên bàn ăn, tay cầm lá thư. Tôi tới cạnh, mềm giọng hỏi:

– Nhận được tin buồn, hả Nụ?

Nụ gật đầu, lặng lẽ lau nước mắt. Tôi chân thành:

– Đời người, ai cũng một lần, cho anh chia buồn cùng em. Ai chết vậy?

Nụ sửng mắt, ngó tôi gườm gườm:

-Có ai chết đâu!

Tôi chưng hửng:

– Vậy sao khóc?

Nụ đưa cho tôi lá thư. Tôi liếc mắt, thấy chữ chi chít, không muốn đọc.

– Thư ai vậy? Chuyện gì, kể anh nghe!

Nụ thảm não:

– Thư chị Hạnh, chị em bà con với em. Chị biên thư báo, sẽ bị về nước vào tháng tới.

– Hết hợp đồng làm việc, phải về nước là đúng rồi, sao em khóc?

– Chị không thích về, muốn được ở lại, đi làm giúp gia đình. Đọc thư chị than thở, em mủi lòng.

– Chị không xin gia hạn hợp đồng được à?

– Nếu được, đã không có chuyện để nói. Hãng chị bị sập tiệm, sa thải toàn thể nhân công. Chỉ còn một cách để được ở lại, nhanh và bảo đảm, là có người lưu trú hợp pháp tại đây kết hôn cùng chị.

Tôi nhún vai nhủ thầm, sức người có hạn, không giúp gì được. Vậy mà đêm đó, nằm cạnh nhau, Nụ thủ thỉ:

– Em có đề nghị này, nghe xong anh đừng mắng, em mới nói.

Tôi xoay người, quàng tay ôm Nụ, không nói. Im lặng là đồng ý. Nụ cũng lặng lẽ đỗi lâu. Tôi cảm nhận nhịp tim nàng đập nhẹ dưới lòng tay úp. Thịt da Nụ ấm mịn như lá non ngậm nắng mới. Tôi nghe tiếng thời gian cựa mình theo mạch máu luân lưu trong thân thể chúng tôi. Có những hình bóng đã qua đời cũng như vừa được khai sinh trong tôi. Dù thế nào đi nữa, cũng là những mất mát. Chiến sĩ xông pha trận mạc tình ái về lại quê quán, ngỡ ngàng như Từ Thức hồi hương. Tất cả đã khác. Cả lòng mình cũng bầm dập thương tích.

Nụ thở ra, nói mau như sợ đổi ý:

– Anh làm giấy cưới chị Hạnh được không?

Tay tôi chết trơ trên ngực Nụ. Tôi rút vội tay về, cứng lưỡi hồi lâu mới lắp bắp:

– Đừng… đừng giỡn… chứ em!

– Em thật lòng, không giỡn.

Tôi bắt đầu văn hoa tiểu thuyết:

– Anh không phải là món đồ chơi của mấy bà.

Nụ chặc lưỡi:

– Ai nói vậy bao giờ?

– Chuyện tình cảm không giống trò bài bạc mà em đòi "bán cái".

Nụ cười rinh rích. Tôi ca thêm:

– Em không sợ anh "có đó quên đăng, có trăng quên đèn" sao? Đàn ông ai lại chẳng ham chuyện "hoa thơm ngắt cả cụm"?

Nụ ngồi dậy, vói tay bật chụp đèn đêm, thắt mười ngón quanh cổ tôi, rít:

– Chuyện sống chết của chị Hạnh và của… em, không được đùa!

Tôi ấm ứ:

– Đừng bóp cổ chứ em!

Nụ nới tay. Nàng dạng chân ngồi lên người tôi. Đèn đêm soi mờ gương mặt không điểm trang, vàng tái như tấm bột bánh chưa nướng. Khoảng cách giữa tôi và Nụ thật gần mà cũng thật xa. Bỗng dưng tôi mơ hồ cảm nhận, sờ mó được cái chết. Nụ cúi mặt, thì thầm lời thương yêu vào tai tôi. Mắt tôi chói loà vòng sáng kỳ lạ. Tai tôi bắt được những ngôn ngữ gẫy vụn. Quanh tôi lúc này, tất cả hoá thành tàn tật. Tôi là gã phế binh độc nhất sống còn sau trận chiến tanh máu với bầy nữ yêu tình ái. Họ cứ đeo bám dằn vặt tôi, lâu lâu còn đem quân lấn sang cứ địa độc thân có tôi miệt mài trấn thủ. Từ ngày thất trận với Đoan, tôi treo gươm lên vách, thề thốt với bóng mình, sẽ không bao giờ dại dột "rơi vào tình yêu" lần nữa. Con ong đã rụt vòi, quyết tâm tu tĩnh, chỉ uống sương chứ không thèm hút nhuỵ. Vậy mà trời đất dun rủi khiến tôi gặp Nụ. Nàng đã khuấy động dòng nước tình cảm lênh láng trong tôi. Nàng xách nhiễu dục tính tôi, và gôm sạch bóng Đoan trong tâm tưởng tôi. Hôm nay, nàng còn vọc nước giỡn trăng, đề nghị tôi làm chuyện táo bạo.

Tôi gật đầu lia lịa:

– Anh chịu.

Nụ nhíu mày:

– Chịu cái gì?

Tôi cố làm mặt tỉnh:

– Chịu làm hôn thú giả với chị Hạnh.

Nét mặt Nụ trở nên khờ khạo khó tả. Giọng nàng hơi lạc:

– Chịu thật à?

– Thật! Ứ, không phải, chịu… giả.

Nụ không cười, lầm bầm:

– Mới nói chút xíu, đã chịu rồi sao?

– Anh là người dễ dạy.

Nụ ngả người nằm xuống, tắt đèn. Tôi bụm miệng cười lén. Nụ trăn trở một lát, rồi xoay lưng, úp đầu vào vai tôi. Tôi phà hơi thở vào tóc nàng. Hương thuốc gội hoà với mùi mồ hôi ngọt sắc. Tôi thều thào:

– Kể chuyện chị Hạnh cho anh nghe đi!

Tôi nghe tiếng Nụ thở dài. Nỗi sầu nào không tên hé vội cánh cửa cho tôi lách vào, đứng đấy một mình trong cõi thênh thang của không gian xanh khói. Tôi muốn ám thích quá khứ. Chính hắn, kẻ đã theo dõi tôi bao nhiêu năm nay, như rình bắt gian phi. Tôi đã phạm tội, đã hãm hại ai, khi nào và tại sao? Tôi khép lại những niềm vui tạm, vội trở về cùng những hoang mang không thể giải thích. Tôi thấy mình tầm thường như một người chồng ngoại tình, dối vợ vụng trộm với một người không xứng đáng. Nụ có "môn đăng hộ đối" với tôi không? Trời, cái gì nàng cũng khác tôi, từ tôn giáo, giai cấp cho tới những sở thích vụn vặt. Chúng tôi, như mặt trăng và địa cầu vô tình "giao thoa" trong hành trình thái dương hệ, nhưng suốt đời vẫn xoay quanh quĩ đạo riêng mình. Tôi rưng rưng chạnh nghĩ tới cánh dơi ngậm đồng tiền chữ phúc ngày xa xưa ấy. Tay tôi ngập ngừng luồn vào tóc Nụ. Giọng Nụ trầm trầm:

– Gia đình Nụ di cư vào Nam năm 1954. Nụ được sinh ra ở Sài gòn, nên chỉ biết về Hà nội qua chuyện kể của bố mẹ, và nhiều hơn hết, của chị Hạnh. Chị là con cả của bác gái Nụ, chị của mẹ. Chị thương Nụ lắm, mỗi lần tới thăm thường dắt Nụ đi vườn thú, ăn kem hay chơi phố. Chị kể chuyện quê Bắc nghe hay lắm. Chị bảo nhớ mùa thu Hà nội, nhớ ánh trăng rọi trên đường Cổ Ngư, nhớ hương hoa sữa ngất ngây bên hồ Thiền Quang, nhớ cốm vòng, nhớ chuối trứng cuốc, nhớ hồng ngâm ngày Tết, nhớ na, nhớ ơi là nhớ. Cho tới bây giờ trí Nụ vẫn đậm nét cảnh hồ Hoàn kiếm và tháp rùa trong mưa qua chuyện kể của chị. Thỉnh thoảng trong mơ, Nụ thấy lại tượng rùa ngậm bảo kiếm nhạt nhòa trong mưa phùn xứ Bắc, thơ mộng và cổ kính ghê!

Tôi nẩy người, những ngón tay khựng lại bối rối trong tóc Nụ. Điềm gì đây? Tại sao có chuyện trùng hợp kỳ lạ này? Chưa lần nào tôi kể Nụ nghe về Đoan cũng như về những ám ảnh quái quắc kia. Tôi tự cho mìnhh đã tới bến, vất vũ khí xuống dòng sông cũ, thẳng lưng bước một mạch, không ngó lại. Kinh Kha hề, đầu đội trời, chân đạp…

Nụ ngậm ngùi buông tiếng:

– Tội nghiệp, nhà chị nghèo.

Tôi hít một hơi sâu, chép miệng:

– Anh không làm chuyện đó được.

Nụ áp má lên ngực tôi:

– Nụ đùa đó mà.

– Đúng là con cháu bà Triệu Ẩu, chuyên môn nói… ẩu.

Nụ tha thiết:

– Nụ muốn nói thật với anh vỏn vẹn ba tiếng.

Tôi phì cười, cao giọng:

– Ngộ ái nị?

Nụ cạp cằm tôi, rít:

– Anh ranh mãnh như một con sóc.

– Ngộ ái nị mà nị không ái ngộ, ngộ ái đại.

Nụ trách:

– Có bao giờ anh nói với Nụ ba tiếng đó, dù chỉ là tiếng Tàu.

Người tôi mềm nhũn. Tôi quay mặt, soi mắt vào bóng tối bủa quanh. Tiểu thuyết gọi đó là "bóng đêm đồng loã", tiếp tay cho tội ác và tình yêu vụng trộm. Tôi mang tội tày trời vì đã lạm dụng bừa bãi thứ tình yêu… xí được. Chưa lần nào tôi nói lời yêu thương cùng Nụ. Tôi nhận mười, chỉ cho một, hai. Lẽ bất công này, trời hỡi, tôi nào muốn. Nếu có một ngày Nụ thưa tôi ra toà vì tội lường gạt ái tình, tôi sẽ quì xuống biện hộ rằng, tôi hoàn toàn vô tội, tôi chỉ là nạn nhân của định mệnh oái oăm.

– Đôi lúc Nụ có cảm tưởng, anh là kẻ sở khanh.

Nụ nói như kết án. Tôi lý luận:

– Sở khanh là người dụ dỗ rồi bỏ, còn anh là người bị dụ và chưa bỏ ai.

Nụ nghiến răng vào bả vai tôi. Tôi kêu "ái", xô Nụ ra. Nụ cười khúc khích trên lưng tôi. "Tôi mang cho em một bó quần, quần thơm hay môi em thơm. Tôi mang cho em một chút tình, miệng cười khúc khích trên lưng. "

– Chúa xui khiến cho anh gặp em.

Nụ phán một một câu làm tôi cụt hứng. Tôi hầm hừ:

– Chúa không có thì giờ làm mấy chuyện bá láp này. Em đem Chúa ra nói trong phòng the, phải tội.

Nụ im re. Tôi giảng giáo lý thêm vài câu, rồi quấn chăn dỗ giấc. Nụ lẩm bẩm mắng tôi "kỳ thị tôn giáo", "vô thần", "chờ tới ngày phán xét sẽ đền tội"… rồi quay lưng, im tiếng. Tôi nằm nhắm mắt để đó. Hai mắt tôi trân tráo trong đêm đen không đáy. Hoài niệm tôi toang hoác miệng vực, sâu hoắm một lỗ xuyên ngang địa cầu. Trí tưởng tôi là chiếc siêu vệ tinh bay vèo từ vũ trụ này sang vũ trụ khác, dễ như chơi. Tôi bứt lìa thời gian và không gian, thoát ra ngoài những ràng buộc vật lý. Hấp lực nhân sinh trở thành vô nghĩa. Luân lý chỉ là những mảnh vụn bánh mì, phủi một cái, cho vào thùng rác. Còn đạo đức được nhắc tới như những giọt sương lấm bụi môi sinh, bốc hơi và để lại vết nhơ trên lá. Còn tôi là cái gì? Tôi tự cho mình là một hạt cát vô danh như muôn trùng hạt cát khác ngoài bãi rộng. Hạt cát tôi tình cờ sa vào guồng máy trơn mỡ của Nụ, cản trở chút chơi.

*

Hội quán bi-da chỗ tôi thường lui tới, có nhiều quái tăng. Có người bộ dáng như con gà nuốt dây thun, tới ngồi một đống, lâu lâu ghi tên hát Karaoke một bài nhạc tình nhểu nhão, uống vài chai bia rồi chuệnh choạng bỏ về. Có người tới để cá độ bi-da, chuyên môn thua, vẫn không chừa. Có người tới chỉ để tâm sự. Có người sở trường tọc mạch đời tư thiên hạ.

Tối nay, hội quán tiếp đón thêm một quái tăng. Tôi thấy mặt anh ta lần đầu. Anh nhếch cười chào mọi người, tới ngồi gần chỗ chúng tôi. Tôi bắt được mùi xào nấu toát ra từ người đàn ông. Lại thêm một đầu bếp nhà hàng, tôi nhủ thầm, lén đưa mắt ngắm. Người anh ta mỏng như cá khô, tóc húi ngắn gần như trọc, râu cằm thưa chòm, tay chân lêu khêu. Mấy nhân vật cái bang trong truyện chưởng Kim Dung chắc không hơn người này. Không biết anh ta tu tập võ công ở đâu, môn phái nào, bao lâu mà khô đét thế kia? Bàn tay năm ngón xương xẩu ấy, lúc tung chưởng, chắc có nước dập ngực, hộc máu. Tôi phì cười vì những tưởng tượng tầm xàm.

Một đứa ra lệnh:

– Trình, gọi Nụ ra đây cho tụi mình đặt nước cá độ!

Tôi gắt:

– Tại sao cứ phải tao?

Đứa khác nham nhở:

– Chỉ có mày gọi, Nụ mới ra. Chỉ có mày dí củ cà-rốt vào cửa hang, thỏ mới lộ diện.

Cả lũ bật cười khoái trá. Một đứa lớn giọng:

– Bằng trái ớt chỉ thiên đã là may.

Tôi nhún vai, phớt tỉnh. Chỉ có thế mới thoát nạn. Tôi lên tiếng hỏi lũ bạn uống gì để vào gọi. Còn đang nhấp nhổm vì sắp sửa tới lượt chơi thì người đàn ông cá khô đã nhỏ nhẹ cất lời:

– Khi nào anh vào trong, cho tôi nhờ một việc.

Tôi mau mắn:

– Anh muốn uống gì?

– Không, không phải để gọi nước, tôi nhờ anh nhắn với Nụ đôi lời.

Tôi chau mày nhìn thẳng vào mặt người lạ. Cả bọn đang lếu láo bông đùa, cũng im lặng đưa mắt nhìn nhau dò hỏi. Người đàn ông nhếch cười:

– Tôi muốn dành cho Nụ một ngạc nhiên đó mà. Anh nói với Nụ, có người tên Đăng gởi lời hỏi thăm.

Nói xong, anh ta đứng dậy, gật đầu chào mọi người, bỏ đi một mạch. Cả bọn ngơ ngác nhìn nhau, lao xao bàn tán:

– Đúng là quái chiêu.

– Ma cà rồng đội mồ sống dậy, tìm Nụ xin tí huyết.

– May là hắn chưa biết chuyện nghêu sò ốc hến giữa Nụ và thằng Trình nhà mình.

– Nếu không, chắc chắn có màn đánh ghen, xé quần áo vũ xếch-xy, coi không tốn tiền.

Tôi tố:

– Tụi mày nhiều lời, lát nữa tao đếch kể lại cho nghe!

Cả lũ nín khe. Nói rồi, tôi hiên ngang đi vào phòng trong. Chỉ có vài người ngồi trong góc quán đèn mờ, rên rỉ khúc hát Karaoke: "Tôi xin người cứ gian dối, nhưng xin người đừng lìa xa tôi…" Tôi làu bàu, lời ca gì mà ngốc nghếch vô lý. Nụ ngồi sau quầy, tươi tắn ngước lên. Gọi nước xong, tôi buông câu thòng:

– Có người tên Đăng tới hỏi thăm em.

Nụ sửng mặt, toan chạy ra thì tôi đã cản lại:

– Đi rồi.

Nụ chặn tay lên ngực, vồ dập:

– Lâu chưa? Sao không cho em biết ngay?

Tôi điềm nhiên:

– Anh ta có vẻ chưa muốn gặp em. Ai vậy?

Nụ thở dài:

– Nụ sẽ kể anh nghe sau. Trời ơi, sao Đăng biết em ở đây? Không muốn gặp, tới làm gì?

Tôi đặt tay lên vai Nụ:

– Bình tĩnh lại, anh ta đâu còn ở đây mà em rối lên như vậy.

Vài người khách quay lại nhìn chúng tôi. Nhạc đã dứt từ lâu. Có người lên tiếng nhắc đổi bài. Nụ loay hoay thay đĩa. Tôi trở ra với đám bạn, tiếp tục cuộc chơi dở dang mà tâm trí váng vất nơi đâu. Chuyện tôi và Nụ không đơn giản như tôi nghĩ. Dĩ vãng Nụ hình như cũng có vài gút mắc.

Khi Nụ mang nước ra cho chúng tôi, tôi để ý thấy màu mặt nàng hơi tái. Hay vì tôi tưởng tượng quá đà? Nụ không nhìn tôi, chỉ đối đáp nhát gừng trước vài lời chọc ghẹo vu vơ.

Tới giờ đóng cửa, tôi chở Nụ về như thường lệ. Đến nhà, tôi hỏi:

– Nụ có muốn anh ở lại đêm nay?

Nụ lưỡng lự vài giây rồi khẽ lắc đầu, nhưng không xuống xe. Tôi xin phép Nụ châm một điếu thuốc, kéo kính xuống. Hương đêm trong lành hoà cùng hơi thuốc lá ngọt nồng. Mặt đất hốt nhiên hoang vu tĩnh lặng như phút giây trước cơn biến thiên kinh hồn. Giờ phán xét đã điểm. Tôi là kẻ đứng ngoài trận nội chiến tanh hôi trong lòng Nụ, bình thản phì phèo thuốc lá, chờ nghe địch thú tội. Hỡi thiếu phụ gian dối kia ơi, hãy khai cho rõ, bằng không đừng trách ta độc ác!

Nụ bắt đầu tự khai:

– Không ngờ Đăng tìm tới đây… Nụ hoàn toàn có lỗi trong chuyện này. Em là con đàn bà vô luân, anh biết không? Em và Đăng sống với nhau không hôn thú một khoảng thời gian dài. Lúc đầu em yêu Đăng lắm chứ, nhưng càng lúc em càng thấy anh ấy có những bản tính không thích hợp. Tâm lý Đăng yếu đuối, ù lì, thụ động quá. Em không thích mẫu đàn ông khép mình trước hoàn cảnh. Thất nghiệp thì đi tìm. Không làm được việc này thì việc khác. Đăng không vậy. Anh tuyệt vọng rồi đâm nghiện rượu và cờ bạc. Khó xử nhất là tính ít nói của anh ấy. Hỏi thì trả lời lừng khừng. Hạch sách thì bỏ đi. Cuối cùng chỉ mình em giải quyết những khó khăn vật chất. Cho tới lúc… lúc… em lỡ… mang thai.

Tới đó, Nụ khựng lời, mở xắc tay lấy khăn chặm nước mắt. Tôi dụi điếu thuốc sắp tàn. Cả tối tôi hút hơi nhiều, cổ họng nhám rát. Nụ chậm rãi tiếp lời:

– Nụ không… không muốn giữ đứa bé, nhất là khi bác sĩ cho hay nó sẽ bị chứng si ngốc. Nhưng bỏ không đành, Đăng cũng không muốn. Có lẽ vì vậy mà giữa em và đứa con chào đời sau này có một ngăn cách tâm sinh lý. Em khép mình vào hoàn cảnh cho tới khi thằng bé lên bốn, mới bỏ đi…

Nụ nấc lên, mắt mũi ràn rụa. Tôi tìm tay nàng, siết chặt. Nụ than van:

– Em là một người mẹ tồi tệ, đáng bị ném đá, lăng trì, anh biết không?

Tôi không biết phải an ủi Nụ thế nào. Nụ tệ thật. Nhưng nàng đáng trách và đáng thương cùng lúc. Cả gã quái tăng tên Đăng và đứa trẻ với chứng bệnh si ngốc kia nữa. Tôi than thầm, trời ơi, cuộc đời là bể khổ, con người ngụp lặn trong vô lượng trầm luân mà không hay. Cái ngã của chính tôi và của những tha nhân chỉ là muôn trùng bụi bặm lang thang trong vòng nhân sinh vô biên. Tôi lẩm nhẩm so sánh tội lỗi của Nụ và của mình. Tôi mang tội bất hiếu, xa nhà, không báo đáp ơn sinh dưỡng của mẹ cha. Tôi mang tội vô ơn, xa tổ quốc, không làm nên tích sự gì cho đất nước. Tôi còn có tội với nhiều người, vì không thể đáp ứng những tình cảm lớn nhỏ mà họ đã dành cho tôi. Tội của tôi đong đầy thúng, Chúa hay Phật biết được, chắc phải lắc đầu ngao ngán. Thế nên, trong khoảng khắc này, tôi cảm thấy đồng điệu với Nụ hơn bao giờ hết.

Tôi ngọt giọng:

– Nếu em muốn, anh sẽ chở em đi thăm con.

Nụ vẫn nghẹn ngào:

– Không biết Đăng có còn ở chỗ cũ.

– Thế nào anh ấy cũng trở lại tìm em.

– Em có linh cảm, Đăng tới để báo tin chẳng lành.

Rồi Nụ rú khẽ:

– Chúa ơi, không lẽ…

Tôi vỗ vai nàng, ngắt lời:

– Không đâu, chắc không có gì đâu. Đừng nghĩ nhảm!

Nụ nghiêng người, ngả đầu vào tay tôi, bờ vai run run. Tôi áp mặt xuống tóc Nụ. Vẫn hương thơm gần gũi. Tôi khép mắt, thấy ra cánh đồng lúa mì vàng rợp trong nắng gió. Có người con gái đạp xe trên đường đất, một tay vịn vành nón rơm. Tóc vàng phất phới. Tôi ngồi trong chuyến xe đò liên tỉnh có máy điều hoà không khí, cửa kính im ỉm, trông ra, tưởng như đang xem một cảnh phim. Bóng tối lập lờ theo luồng sáng phát ra từ phòng chiếu. Máy lạnh khiến chúng tôi càng nép sát nhau hơn. Tôi tìm tay nàng, đan lại, nghe hơi thở mình hao hụt đứt quãng. Tôi là người thợ lặn mò tìm trân châu. Thịt da bào ngư mềm mại dưới ngón tay tôi mọ mẫm. Hàm răng san hô sáng ngời, hé đợi môi kề. Tôi thấy mình tan biến vào đại dương cảm xúc bao la. Nắng soi mảnh nhấp nhô theo sóng. Người con gái tóc vàng vẫn một tay vịn vành nón rơm, đạp thong thả trên lối hẹp giữa cánh đồng lúa vàng ngút ngàn. Con đường như vết dao rạch ngọt, không kịp tươm máu. Dòng sông nào đã hút hết tinh tuý địa cầu, để mặt đất bị thương, chẻ thành ngàn lối vô hướng.

Nụ ngẩng đầu, vuốt lại nếp áo nhăn vì tay tôi tham lam. Người thợ lặn trồi lên mặt nước. Đôi tay trống không. Chẳng bào ngư, cũng không san hô hay ngọc trai ngọc gái gì ráo, chỉ một mớ thực tại rối nùi như những bài tình ca không tên. Tôi ngân nga:

"Nòng" người như chiếc "ná", xoáy xoay trong hồn, nhiều cơn "nốc" cuốn…

Nụ gắt:

– Người ta đang rầu rĩ gần chết, còn đùa.

– Chuyện đâu còn đó, em có khóc tới khô nước, cũng không giải quyết được gì.

– Ít ra cũng được… cái buồn.

– Trời đất.

– Buồn để ngẫm lại những gì mình đã làm, để hồi hướng chuộc tội.

Tôi xuýt xoa:

– Thôi, cho anh xin, đừng giảng đạo trong lúc này.

Nụ hứ:

– Ai thèm.

Tôi cười khì:

– Không thèm thì thôi, về đây!

Nói xong, tôi ngồi chờ câu hỏi ngơ ngẩn của Nụ: "Về thật à?", để làm nũng. Ngờ đâu, Nụ không nói lời nào, lẳng lặng cắp xắc tay, mở cửa bước ra, đóng xập lại. Nụ và bóng nghiêng lệch bên hè phố chênh vênh sáng tối. Thần trí tôi cũng lao chao, lẫn lộn ngày và đêm. Tôi biết, khuya nay tôi lại co mình rã rượi trong dòng hồi tưởng lũ lụt vào mùa nước lớn.

*

Tôi là một người bất hạnh trong chuyện tình cảm, lại mang nhiều bản tính mâu thuẫn. Trong khi Nụ tự nhận nàng là người "cà giựt", thì tôi ngấm ngầm cho mình vướng phải "hội chứng Peter Pan". Thuật cho Nụ nghe, nàng cười cợt, bảo tôi: "Già mà còn dê, người ta gọi là già dịch". Oan thay, tôi chưa thả dê tán tỉnh ai bao giờ. Ngược lại thì có, thành ra tôi kênh kiệu như một mụ thứ phi có nhan sắc giữa đám cung nữ quê mùa thô kệch. Đã có lần Nụ tự xưng là bà vua, gọi tôi là "cung nam" của nàng. Tôi chịu liền, bèn thỏ thẻ:

– Đời nay ai gọi là bà vua, mà là vua gái.

Nụ phì cười:

– Chữ gái gần với cái, nói ln nghe mất giá.

Tôi bênh vực:

– Vua cái, cung đực và một bầy thái giám, có sao đâu?

Nụ phán:

– Đừng hỗn, mang tội khi quân, mất đầu bây giờ!

Tôi xì xụp:

– Muôn tâu bà vua, bà tha cho … em.

Nụ sửa:

– Không được xưng em, mà phải xưng là ái nam.

Tôi kêu lên:

– Trời đất, nghe như người đồng bóng. Bà vua ơi, đừng gọi thế, mất hứng!

– Ái, sao dám hứng với vua?

Cung nam nũng nịu:

– Chớ nói làm sao? Vua gì khó quá, người ta chịu gì nỗi.

Nụ cười ngặt nghẽo, vít đầu cung nam xuống, hăm he hài tội. Cung nam không sợ, nhõng nhẽo:

– Bà vua muốn để cho người ta tìm… chấm G không?

Bà vua ngơ ngác:

– Chấm gì?

Tôi kéo đầu Nụ, thì thầm vào tai, như sợ các tĩnh vật nghe được. Nụ đấm tới tấp vào ba sườn tôi, nghiến răng:

– Láo thật! Hay để ta tìm cho ngươi!

– Ái nam chỉ có chấm D, vạch ra, thấy liền, khỏi tìm.

Đó là chuyện cũ, giờ đây tôi và Nụ đang ở trong tình huống khó xử. Nụ và quái tăng Đăng. Tôi và những uẩn khúc nội tâm của quá khứ chưa lành và của hoàn cảnh chung quanh. Rồi, vào một tối, chuyện gì tới phải tới. Quái tăng tên Đăng trở lại tìm Nụ. Không biết hai người nói gì với nhau mà tôi, đang lơ đễnh thụt bi-da phòng ngoài, chợt nghe tiếng Nụ hét thất thanh. Tiếp theo là âm thanh vỡ vụn của thuỷ tinh va vào tường. Một lũ ùa vào. Tôi thấy Nụ đứng run lẩy bẩy bên quầy nước, mặt thất thần. Vài người vây quanh, ngơ ngác nhìn nhau. Có người giúp nàng, lo thu dọn những mảnh ly vỡ trên thảm. Đăng vẫn bình tĩnh ngồi hút thuốc bên bàn con. Tôi tới cạnh Nụ, giơ tay toan vuốt vai nàng, tìm lời trấn an thì nàng đã hất mạnh tay tôi ra, mắt long lên như hai hòn than đỏ, kèm theo tiếng gầm gừ:

– Đừng tới gần tôi!

Tôi nhỏ nhẹ:

– Có gì thì nói, không nên đập phá!

Nụ hung hữ như chó cái nằm ổ:

– Ai khiến anh xía vào?

Tôi nhẫn nại:

– Em có nóng giận cũng không giải quyết được gì.

Rồi tôi kéo Nụ vào bếp, kéo màn che những ánh mắt tò mò. Nụ gục đầu vào ngực tôi, rấm rứt:

– Nó… nó.. chết thật rồi.

Tôi hiểu ra. Đúng như lời Nụ tiên đoán, hôm nay Đăng đến để báo tin con mất. Tôi không biết phải dùng lời lẽ nào để an ủi Nụ, đứng vuốt tóc nàng riết. Tóc nàng sợi vắn sợi vài. Lệ nàng cũng vắn dài truân chuyên. Tôi khẽ cất giọng:

Thuở ấy em vừa thôi kẹp tóc, thuở ấy anh vừa thôi học xong. Yêu anh yêu anh, em làm thơ. Yêu em yêu em, anh soạn nhạc… Tóc mai sợi ngắn sợi dài, lấy nhau chẳng đặng, thương hoài ngàn năm…

Tiếng nấc Nụ nguôi dần. Tôi chép miệng:

– Mọi chuyện, coi như xong. Em cũng nên cám ơn Đăng!

Nụ ngẩng mặt:

– Tất cả do lỗi của em.

Tôi bắt đầu đóng tuồng:

– Không ai có lỗi cả, số mệnh đã an bài như vậy, cãi cũng không được.

Nụ thuộc lòng "tuồng tích" của tôi, không nói, sụt sịt hỉ mũi rồi mở màn, bước ra. Tôi tới kéo ghế ngồi đối diện người tên Đăng. Anh ta mời tôi điếu thuốc. Bàn tay anh run nhẹ khi mồi lửa. Tôi tự giới thiệu:

– Tôi tên Trình, bạn của Nụ.

Đăng nhướng mắt:

– Còn lý lịch tôi, chắc anh biết hết rồi?

– Nụ có kể sơ.

Giọng Đăng chùng xuống:

– Cũng lạ… Sau khi Nụ bỏ đi, thằng bé cứ khóc đòi mẹ, vậy mà lúc bệnh trở nặng, sắp chết, nó không nhắc lấy một tiếng.

Tôi trầm ngâm nhìn người đàn ông qua làn khói xám. Anh tiếp giọng kể, tự buộc tội mình. Bỗng dưng tôi thấy ra chân lý đời sống. Tất cả chỉ là một trò trốn tìm với đông đảo người tham dự. Tôi đang ẩn mình trong chiếc vỏ yên lành. Con còng nhỏ co thân trong vỏ ốc mượn, không ngó ngàng gì tới sóng bão bên ngoài. Nó an phận như thế, cho tới lúc tự cảm thấy cuồng chân, mới đi tìm. Điều gì? Cũng chỉ là chiếc vỏ khác, tại một nơi và thời điểm khác. Nó tự đánh lừa nó. Tôi tự đánh lừa tôi bấy lâu nay bằng những ảo ảnh quá khứ. Mọi chuyện đã xong, sao tôi cứ mãi bám víu như hồn ma còn vương vấn cõi âm, chưa chịu đầu thai. Như một trưa chủ nhật nọ, tôi vui chân dạo chợ bán đồ cũ, dừng bên sạp tạp hoá của một người Tàu già. Tôi và ông gật đầu chào nhau. Tôi nhận ra nhiều nét thân quen trên gương mặt ông. Đôi chân mày bạc rậm. Cặp mắt sáng. Nếp da nhăn ngang dọc… Phải rồi, tôi kêu thầm, run tay nâng lên từ rổ mây khoen tiền kẽm rỉ mòn. Tôi nhận ra lập lờ bóng dơi quấn quanh chữ phúc của ngày xưa nơi đền rùa vàng. Tôi lắp bắp hỏi cụ già gốc gác đồng tiền. Cụ cười xoà, bảo loại tiền xu ấy, ở Trung hoa thời xưa thiếu gì. Tôi định hỏi thêm, có bao giờ cụ sống ở Việt nam, đã từng cai quản một ngôi đền có hồ nuôi hàng trăm con rùa, nhưng chợt thấy ra quai hàm cụ có một nốt ruồi lơ thơ vài sợi lông bạc, mới thật sự tin rằng, không phải cụ chủ đền năm xưa. Tôi từ giã cụ già, thẫn thờ lách giữa đám đông như người hành tinh lạc xuống địa cầu. Vẫn còn một chiếc bóng lẽo đẽo bên tôi. Mãi mãi. Suốt đời.

*

Những ngày sau đó, Nụ bệnh liệt giường. Chiều nào tôi cũng ghé ngang, lo chuyện cơm nước cho nàng. Bị bệnh, lạt miệng, Nụ thèm ăn toàn những nón độc đáo như cá kho tiêu, thịt kho quẹt hay hột vịt muối. Cá hay thịt kho, tôi còn trổ tài được, chứ món trứng vịt muối, tôi chịu. Tôi vỗ về, bên này không có hột vịt, anh sẽ ngâm hột gà trong nước muối một tháng, tha hồ cho em ăn. Nụ nhõng nhẽo, tới lúc đó em đã hết bệnh, không thèm nữa. Dù vậy tôi vẫn mua một chục hột gà, quậy nước cho "no" muối, ngâm để dành. Nụ cảm động ra mặt, không gọi tôi là "cung nam" nữa, mà là "đường", xưng "sữa". Tôi đùa, chỉ còn thiếu cà-phê là đủ bộ… tam sên.

Cũng đã lâu rồi, tôi và Nụ không còn tranh cãi nhau về chuyện thần thánh. Không biết Nụ coi chuyện tín ngưỡng quan trọng tới đâu, phần tôi, điều đó thuộc hàng thứ yếu. Tôi không tin vào phép lạ. Những lúc nghe Nụ mê man giảng đạo, tôi hay buột miệng, trông em giống một bà già Bắc kỳ nhà quê ngoan đạo quá à! Nụ ngớ mặt, nhìn tôi nháng lửa. Rồi nàng nhấn giọng, một, em không phải là Bắc kỳ mà là "tùm lum kỳ"; hai, em là kẻ có đức tin, không phải vô thần như… người ta. Tôi đã quen với luận cứ cũ rích này, nên im lặng để tránh tai ương, dù lòng vẫn đề quyết rằng ý nghĩ của Nụ còn ấu trĩ lắm. Nhưng Nụ không ấu trĩ, mà tinh ranh như cáo.

Hôm bệnh giảm, Nụ đi chợ làm cơm, gọi điện mời tôi tới ăn. Nàng nấu một món Bắc, một món Nam: súp bóng và bánh xèo. Nụ vừa tráng bánh vừa ba hoa:

– Bột đổ bánh xèo phải có nước cốt dừa mới béo, mới thơm. Ngoài hành lá, hành củ, tép, thịt ba chỉ và giá ra, cũng đừng quên thêm chút đậu xanh cho bùi. Nhưng quan trọng nhất vẫn là nước mắm đúng điệu Nam kỳ quốc. Mằn mặn, ngòn ngọt, chua chua, cay cay. Anh coi, em đổ bánh xèo có giống một con mẹ Nam kỳ quấn khăn rằn không?

Tôi xuề xoà:

– Em là một mụ tùm lum kỳ dễ thương nhất nước.

– Lâu lắm mới nghe anh nịnh trở lại.

– Đàn ông nịnh trực tiếp, đàn bà gián tiếp. Họ suốt đời chạy bên lề cuộc suống.

Nụ quay mặt, mím môi ngó tôi:

– Lại văn chương ba xu.

Tôi khề khà nhấp một ngụm bia:

– Nếu không vì hoàn cảnh, anh đã trở thành văn sĩ.

Nụ ngạc nhiên:

– Ủa, em tưởng anh thích làm ca sĩ.

– Mười bốn tuổi, anh bị bể tiếng, trổ giọng vịt đực, mộng làm ca sĩ tan tành.

Nụ trút bánh ra dĩa, mùi thơm làm tôi chảy nước miếng. Tôi đổi đề tài:

– Cho anh ăn thử, coi bột có vừa chưa!

Nụ ngoan ngoãn:

– Dạ, coi nước mắm em pha có hợp khẩu vị anh không!

Tôi cặm cụi quấn bánh với xà-lách và rau sống, nhấm nháp ngon lành. Tuyệt vời. Không còn nghi ngờ gì nữa, thượng đế vừa ban phép lạ là Nụ đến cho tôi. Xin tạ ơn Chúa, Phật, A-la, Bà-hai và mọi đấng giáo chủ, kể cả ông đạo Dừa và bà vô thượng sư Thanh Hải. Nhất là tạ ơn em. "Ơn em khuya sớm hai lần, giấu quanh giấu quẩn áo quần một nơi…" Tạ ơn các loại rau thơm. Tía tô, dấp cá, kinh giới, ngò gai, ngò rí, húng quế, húng lủi. Tạ ơn nước mắm hiệu ba con cá cơm. Không có những thứ này, chắc tôi đã xa đời nơi xứ lạ từ lâu. Thân phận tôi, ôi, nổi trôi như vận mệnh Thúy Kiều. Buồn thảm lắm. Ấy mà khi tôi nhấm bánh xèo với bia lạnh, tôi quên tuốt. Không còn những hoài nghi về bản ngã. Những đại triết gia của nhân loại cỡ Nietzsche, Hegel hay nửa mùa như Sartre, Schopenhauer đều được tôi mời đi chỗ khác chơi. Những tâm sinh lý gia xuất chúng như Freud, Jung lần lượt trở thành người đi qua đời tôi. Còn văn hào và thi bá ư? Dẹp hết. Tất cả đều không bằng một miếng bánh xèo trôi qua cổ.

Nụ ngồi vào bàn, ăn lấy lệ. Tôi ngừng tay gắp, hỏi:

– Mệt à?

– Dạ.

– Tỷ như anh là triệu phú, chúng mình sẽ đi biển nghỉ mát.

Nụ rên rỉ:

– Đừng nhắc, làm em nhớ.

Tôi ngớ ngẩn:

– Nhớ gì?

– Nhớ nhà, nhớ đất, nhớ quê hương, nhớ đủ thứ.

Tôi buông đũa. Nỗi nhớ của Nụ làm tôi hết đói. Nụ chậm chạp khều đũa vào dĩa bánh nguội tanh, gắp uể oải. Không khí nặng trịch như đựng toàn những phân tử nhớ không tên, chưa được khoa học gia nào khám phá. Trời đất, ngoảnh lại, mới hay tôi xa nhà đã hơn hai mươi năm. Thời gian xa quê dài hơn thời gian tôi sống ở đất nước. Tôi lẩn thẩn tự ví mình như một con đại thử bê-by. Lúc sơ sinh, nó nhỏ bằng ngón tay cái, từ bụng dưới men vào bầu túi mẹ, tìm núm sữa, bú ròng rã tháng ngày. Nó lớn lên an lành hồn nhiên trong thể tích chật chội nhưng ấm áp ấy. Để lúc trưởng thành, nó bỏ mẹ, lưng tưng phóng đi, quên tuốt thời ấu thơ trong tù giam hạnh phúc. Loài đại thử có bao giờ hồi tưởng? Chắc không. Còn con đại thử giả hiệu nhưng nhiều cảm xúc trong tôi thỉnh thoảng lại nhớ về. Lúc ngả bệnh, khi không gian chuyển mùa; lúc thất tình, khi chuếnh choáng hơi men, nỗi nhớ lại dấy đau âm ỉ. Tro than hoài niệm còn tươm khói. Hoả sơn vẫn sôi sụt niềm đau sinh quán.

Tâm trạng này, tôi biết, nên tôi thông cảm Nụ trăm phần trăm. Hai nỗi đau riêng hợp thành niềm đau chung. Tối vào giường, Nụ ôm tôi, khóc tỉ tê. Tôi cũng ứa nước mắt, nhưng cố giữ, vì… nam nhi hề, quay lưng thề không trở lại. Nam tính ngu muội trong tôi, loài đại thử vô bản tính hồi cố quận ấy đã lấp mất biết bao dòng sông chờ đưa người về.

Tôi ve vuốt sống lưng Nụ, không dám sàm sỡ thêm, sợ vấy bẩn phút giây tưởng niệm thiêng liêng này. Tôi thều thào lạc đề:

– Đất nước mình kỳ cục nhất thế giới, buổi tổ chức nào cũng bắt đầu bằng một phút mặc niệm. Lúc nào cũng có kẻ phải hy sinh, bao giờ mới khá?

Rồi tôi lả lơi bông đùa:

– Đừng bao giờ bắt anh nghiêm chỉnh mặc niệm, hát quốc ca, chào quốc khi trước khi mình yêu nhau!

Nụ dúi mặt vào cổ tôi, càu nhàu:

– Người ta đang buồn nhểu nhão, còn giễu cợt.

Tôi hát hò:

Con tim trân tráo không bao giờ biết đến nói dối.

Nụ thầm thì:

– Vậy cho Nụ hỏi anh câu này!

– Cứ tự nhiên.

Nụ ngập ngừng khiến tôi linh cảm chuyện chẳng lành, toan ngăn lời, nhưng đã muộn.

– Có khi nào anh… anh nghĩ tới chuyện tổ chức một buổi tiệc chính thức hoá…

Nụ bỏ lửng câu nói, hé môi nhằn cổ tôi. Người tôi xốn xang, tim tôi bồi hồi. Tôi đang ngửa cổ hiến dâng máu thịt mình cho một con ma cà rồng cái. Rồi tôi bị nhiễm trùng ma dơi, sẽ ngủ ngày, đêm bay lang thang tìm hút máu người.

Tôi phản công yếu ớt:

– Đừng cắn anh!

Địch tràn tới, hãm thành bằng "mỹ nhân kế". Tôi ngọ nguậy:

– Đừng bắt anh thành ma giống em!

Địch dừng tay, giọng ngơ ngác:

– Cái gì?

Tôi bật cười thành tiếng. Nụ lẩm bẩm:

– Khùng điên gì đâu không. Anh còn nợ em câu trả lời.

Tôi dùng kế hoãn binh:

– Cho anh thời gian suy nghĩ. Chuyện này quan trọng, liên quan tới thời cuộc quốc tế, tình hình Cu-ba đang căng thẳng, không nên nôn nóng.

– Anh khùng thật rồi.

Tôi láp dáp:

– Người ta lấy người khùng làm chồng, chớ không ai lấy chồng rồi làm cho khùng!

Nụ đấm thùm thụp lên ngực tôi:

– Hả? Nói cái gì kỳ cục vậy, hả, hả?

Tôi giữ chặt hai tay Nụ. Trong vũng sáng loà nhoà ngọn đèn đêm, Nụ và tôi đối mặt nhau. Hai mắt nàng long lanh. Tự dưng tôi mệt mỏi như kẻ hoang đàng sa đọa lâu ngày vừa trở lại nhà. Không chừng Nụ đã truyền vi khuẩn cúm sang tôi. Ừ, lâu lâu cũng nên lâm bệnh một lần để làm nũng với… người ta. Dường như có vì sao nào vừa rơi lạc vào đáy mắt Nụ làm tôi xúc động bâng khuâng. Tôi bắt chước giọng Bắc kỳ di cư của Nụ, nhủ thầm: "Chao ôi, sao mấy chuyện trăng sao cứ dây dưa theo mãi tôi, suốt đời thế này?"
 

(tháng 11.1996, trích tập truyện Ngôn Ngữ Tuyết, Quyên Book, 2006)

 

 

 

.

bài đã đăng của Ngô Nguyên Dũng


1 bình luận »

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


*

@2006*2018 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Scroll Up Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)