Trang chính » Biên Khảo, Giới thiệu tác giả, Giới thiệu tác phẩm Email bài này

J. D. Salinger (1919 – 2010) : Người Mỹ (Không) Thầm Lặng

Trong một bài nhận định trên tiền vệ, tác giả Nguyễn Hưng Quốc đã viết:

Thứ nhất, ai cũng biết, viết là để cho người khác đọc. Umberto Eco, trong cuốn On Literature (A Harvest Book, Orlando, 2002, tr. 334), nói thẳng thừng: “Người nào nói hắn viết cho chính hắn là đang nói dối, nói dối một cách không cần thiết.” Mà thật, không nhắm đến người khác, không ai viết làm gì. Hay nếu viết, cũng không gửi đăng đâu đó làm gì. Đăng, cho dù đăng trên báo, trên mạng, thậm chí dưới hình thức góp ý (trong các blog) hay tán gẫu, thậm chí, tán nhảm (trong Facebook hay Twitter, v.v…) đều xuất phát từ ý muốn chia sẻ với người đọc.

Thứ hai, đã nhắm đến người đọc thì ai cũng muốn có càng nhiều người đọc chừng nào càng tốt chừng ấy.

Nói chung, ông Quốc (qua Umberto Eco) đã thể hiện quan điểm của đa số, tuy nhiên tôi không khỏi lấy làm thú vị khi nghĩ đến một ngoại lệ, đó là trường hợp nhà văn Mỹ J.D. Salinger, tác giả của quyển tiểu thuyết Catcher in the Rye (Bắt Trẻ Đồng Xanh) vừa mới qua đời ngày 27 tháng Giêng năm 2010. Bài viết trên báo Washington Post ngày 28 tháng Giêng trích lại lời Salinger trong một buổi phỏng vấn hiếm có với tờ New York Times năm 1974: "[Cuộc sống] của tôi rất hiền hòa, yên tĩnh. Chuyện xuất bản sách là sự xâm chiếm tàn ác đến đời tư của tôi. Tôi thích viết. Tôi yêu nghề viết. Nhưng tôi chỉ viết cho tôi, để làm tôi vui.”

Người ta so sánh Salinger với nữ tài tử Greta Garbo của địa hạt điện ảnh, nổi tiếng là người không muốn nổi tiếng. Được xem là nhà văn Hoa Kỳ quan trọng nhất sau Đệ Nhị Thế Chiến, ông lảng tránh danh vọng, sống ẩn dật như một thiền sư trong lúc không ít thiền sư bơi lội trong ánh sáng của tiền tài và danh vọng. Ông càng lẩn tránh người ta càng săn đuổi ông. Người ta tò mò đời sống riêng của ông, đến độ 14 lá thư ông viết cho người tình được bán đấu giá ở Sotherby’s với giá 150,000 đô la.

JDSallr Joyce Maynard letters

14 lá thư của Salinger gửi Joyce Maynard được bán với giá $150,000 Mỹ Kim

Jerome David Salinger sinh ngày 1 tháng Giêng năm 1919. Bố của ông là người Do Thái, một thương gia giàu có về ngành nhập cảng thịt heo muối và phó mát. Mẹ ông, Marie Jillich, gốc người Ái Nhĩ Lan. Lúc ông mới ra đời gia đình ông sống ở Harlem, nhưng sau đó, công việc buôn bán phát đạt, họ dọn về đại lộ Park, khu phố sang trọng của thành phố New York.

salinger Chân dung Salinger (họa sĩ không biết tên)

Đam mê và có năng khiếu về kịch nghệ nhưng ông không phải là học sinh chăm chỉ, sau hai năm học lớp 9 và lớp 10 ở trường trung học McBurney ông bị đuổi học; và vì thế nên bị gửi vào trường quân sự Valley Forge Millitary Academy, tiểu bang Pennsylvania. Đây là loại trường áp dụng kỷ luật nhà binh nghiêm khắc với những học trò vị thành niên có tinh thần nổi loạn hay thuộc loại “khó dạy.” Valley Forge Military Academy này về sau được ông dùng làm mẫu để phác họa trường Pencey Preparatory, trong tác phẩm Bắt Trẻ Đồng Xanh, nơi nhân vật Holden Caulfield theo học. (Tựa đề Bắt Trẻ Đồng Xanh là của dịch giả Phùng Khánh và Phùng Thăng đặt cho quyển sách đã xuất bản ở Sàigòn vào khoảng năm 1964-1965 và được Nhã Nam tái xuất bản năm 2008). Như Holden Caulfield trong tiểu thuyết bilsdungroman nổi tiếng này, Salinger, lúc còn học ở Valley Forge, đã hướng dẫn đội kiếm và cũng là chủ bút của quyển niên giám Cross Sabres của trường.

J D Salinger at Valley Forge

J.D. Salinger khoảng 16 tuổi khi còn học ở Valley Forge

Năm 1937, sau khi tốt nghiệp trung học ở Valley Forge Salinger, vào học Đại Học New York, nhưng chỉ sau vài tuần ông bỏ học theo bố sang Áo và Ba-Lan, vì bố ông muốn ông nối nghiệp thương mại. Biết ngành này không thích hợp với mình ông trở lại Mỹ, và vào học trường đại học Ursinus thuộc tiểu bang Pennsylvania. Năm 1939, ông học lớp dạy viết văn ban đêm ở đại học Columbia. Qua sự hướng dẫn của Whit Burnett, giáo sư dạy môn viết văn và cũng là chủ nhiệm tờ báo Story (Truyện), ông bán truyện đầu tay The Young Folks cho tạp chí Story, rồi các truyện sau đó cho các tạp chí Esquire, Collier’sSaturday Evening Post.

Năm 1941, bị tạp chí New Yorker từ chối bảy lần, cuối cùng truyện Slight Rebellion Off Madison (Một Cuộc Nổi Loạn Cỏn Con Trên Đường Madison) được chọn đăng, về sau được thêm thắt và trở thành một cảnh trong tiểu thuyết Bắt Trẻ Đồng Xanh. Tuy nhiên, có lẽ vì lo sợ mang tiếng khuyến khích trẻ em trốn học, tạp chí New Yorker chờ đến năm 1946 mới đăng truyện này và dấu mãi tận gần bìa sau của tạp chí.

Vào đầu thập niên 1940 Salinger đã tham gia quân đội Mỹ, đóng quân ở Tiverton, tỉnh Devonshire (Anh quốc), thuộc ban Phản Gián của Bộ Binh Sư Đoàn Bốn có nhiệm vụ hỏi cung những người lính Phát Xít đã đào ngũ cùng những cảm tình viên của quân đội Đồng Minh. Tiverton cũng là nơi được dùng làm bối cảnh cho Viết Cho Esmé –Với Chân Tình và Nhớp Nhúa (For Esmé—With Love and Squalor) truyện ngắn cảm động nhất trong tập truyện ngắn Nine Stories (Chín Truyện). Ngày 6 tháng 6 năm 1944, ông đặt chân lên Utah Beach (mật danh Hoa Kỳ dành cho bờ biển cực Tây vùng Normandy, giữa Pouppeville và làng La Madeleine) và sau đó chứng kiến trận chiến Battle of the Bulge (Bataille des Ardennes), một trận chiến thảm khốc giữa quân đội tấn công Đức Quốc Xã và quân Đồng Minh ở rặng núi Ardennes, Bỉ.

Trong cuộc tiến quân từ Normandy vào Đức, Salinger gặp Ernest Hemingway, nhà văn mà ông rất mến mộ, lúc ấy đang làm phóng viên ở Paris. Cuộc gặp gỡ này đã để lại những ấn tượng tốt đẹp giữa hai nhà văn lớn của Hoa Kỳ. Salinger cũng là một trong những quân nhân đầu tiên đã đến trại tập trung ngay sau lúc chấm dứt chiến tranh. Cuộc chiến này đã để lại một vết sẹo sâu đậm trong tâm hồn người quân nhân trẻ. Về sau ông kể với con gái rằng mùi thiêu đốt người như dính mãi trong mũi ông không thể nào phôi phai.

Năm 1945, ông phải vào bệnh viện vì bị chứng trầm cảm, ngày ấy người ta chưa có tên cho chứng chấn thương tâm thần sau khi bị khủng hoảng chiến tranh (gọi tắt là PTSD– Post Traumatic Stress Disorder). Sau khi chiến tranh chấm dứt Salinger ở lại Châu Âu và kết hôn với Sylvia Welter, một bác sĩ người Pháp. Salinger thường gọi tên bà trại ra là Saliva (nước dãi), một cách chơi chữ và khôi hài “lạnh” của ông. Sylvia Welter theo Salinger về Nữu Ước, nhưng sau đó hai người không hợp nhau và ly dị.

Kinh nghiệm trong Đệ Nhị Thế Chiến đã thay đổi văn phong của Salinger. Khác với những nhà văn Mỹ “đầy nam tính” của Hoa Kỳ viết về chiến tranh như Hemingway, James Jones (với tiểu thuyết về biến cố Pearl Harbor tựa đề From Here to Eternity– Từ Đây cho Đến Vĩnh Hằng) và Joseph Heller (Catch-22), Salinger khai triển một giọng văn mềm và nhiều xúc cảm, hướng về những trắc trở của nội tâm. Trong một lá thư gửi cho tạp chí Esquire năm 1945 trong lúc ông còn ở chiến tuyến bên Âu Châu, Salinger thố lộ:

Năm nay tôi 26 tuổi và đây là năm thứ tư của tôi trong quân đội …. Sau khi chiến tranh chấm dứt chắc tôi sẽ gia nhập một đội khiêu vũ ca nhạc nổi tiếng. Tôi không mong muốn gì hơn. Tôi đã bắt đầu viết truyện ngắn từ năm tôi 15 tuổi. Nhưng viết văn đối với tôi cũng thật khó khăn, khó làm sao để viết tự nhiên, bình dị. Trí óc tôi đầy dẫy những mảng cà-vạt đen, và dù tôi cố vứt đi những mảng đen này, sẽ vẫn có một vài mảng còn sót lại. Tôi cũng chỉ làm được những chuyện nhỏ thôi, vì tôi không quen đi dặm trường, cho nên có lẽ tôi chẳng bao giờ sẽ viết được một quyển tiểu thuyết nên hồn. Tôi thấy những tiểu thuyết về cuộc chiến này phần nhiều viết chín chắn gọn gàng quá, có quá nhiều màu sắc hoành tráng mà các nhà phê bình thường mong muốn, và quá ít những khiếm khuyết huyền diệu ….. Những con người đã tham dự vào cuộc chiến này đáng được nghe một điệu nhạc rung chuyển, diễn tả không một chút sượng sùng hay nuối tiếc. Tôi vẫn mong chờ một tác phẩm như vậy. (http://www.esquire.com/the-side/feature/young-jd-salinger-letter-012810#ixzz0eU5p0vRx)

Từ những truyện ngắn xuất bản sau chiến tranh, giới văn học Hoa Kỳ bắt đầu khám phá ra một nhà văn mở đầu cho một trường phái văn học khác biệt với mọi trường phái văn học lúc bấy giờ. Salinger khai phá những “mảng đen” sau giấc mơ phồn thịnh của thời hậu chiến Hoa Kỳ, mô tả những phiền muộn trong cuộc sống hôn nhân và gia đình, cùng những khác biệt tâm lý giữa giới trẻ và người lớn. Ông “mở đường” cho những nhà văn lớn của những thập niên 60, 70, 80, như John Updike, Philip Roth, và Tim O’Brien. Qua William Shawn, chủ biên của tạp chí New Yorker, người cũng thường lẩn trốn đám đông như Salinger, truyện của Salinger được tạp chí này độc quyền xuất bản từ 1946 cho tới 1965.

Năm 1953, Salinger kết hôn với Claire Douglas, con gái của nhà phê bình nghệ thuật nổi tiếng Robert Langdon Douglas. Hai người về sống ở Cornish, New Hampshire, một tỉnh lỵ hẻo lánh ở miền Đông Bắc Hoa Kỳ. Năm 1955 ông có con gái đầu lòng đặt tên là Margaret, và sau đó con trai tên là Matthew sinh năm 1960. Sau năm 1965 Salinger chấm dứt mọi sinh hoạt liên hệ đến việc viết sách và xuất bản sách. Vào năm 1967 Claire Douglas nộp đơn xin ly dị vì bà vợ không chịu nổi sự “câm lặng và lãnh đạm” của ông chồng (“tôi phải ra khỏi cuộc hôn nhân này vì nó tổn hại trầm trọng đến sức khỏe và tâm trí của tôi,” bà tuyên bố trong đơn ly dị.)

salinger matthew and margaretCentral Park vào thập niên 1960: Salinger với bạn văn Lillian Ross (người tình của William Shawn, chủ bút tờ New Yorker), Erik (trái, ngồi ghế, con nuôi của Lillian), con trai Matthew (giữa, trên xe đạp) và con gái Margaret (Peggy) (ảnh Lillian Ross)

Vào năm 1972 Salinger, lúc đó 53 tuổi, gặp Joyce Maynard, 18 tuổi và là sinh viên năm thứ nhất ở đại học Yale và tác giả bài nhận định được đăng trên tạp chí New York Times về tâm trạng thanh thiếu niên lớn lên trong thập niên 1970, phải đương đầu với chiến tranh Việt Nam và tình trạng kinh tế khó khăn của Hoa Kỳ. Cuộc tình duyên chỉ kéo dài 10 tháng vì Salinger bị “nhức đầu” bởi những đòi hỏi tình cảm của cô sinh viên trẻ. Tiếp theo sau đó là cuộc tình kéo dài 7 năm với Elaine Joyce, nữ diễn viên truyền hình Mỹ và nay là vợ của kịch gia Neil Simon. Sau khi chấm dứt cuộc tình với Elaine Joyce, ông kết hôn với nữ y tá Colleen O’Neill, trẻ hơn ông những bốn mươi tuổi. Không ai biết nhiều về người vợ sau cùng này vì bà cũng sống rất kín đáo như Salinger.

joymaynard at 18Joyce Maynard năm 18 tuổi, trên bìa báo New York Times với bài nhận định về tuổi trẻ Hoa Kỳ lớn lên trong thập niên 1970

Cuộc sống u tịch của Salinger đôi lúc bị xáo động vì những diễn biến liên hệ đến vấn đề tác quyền cũng như về đời tư của ông, từ xã hội bên ngoài muốn phá vỡ “Bức Tường Câm Lặng” mà Salinger đã tự tạo cho mình. Nhiều đạo diễn phim ảnh, nghe đồn có cả Steve Spielberg, ngỏ ý muốn chuyển Bắt Trẻ Đồng Xanh thành phim nhưng Salinger một mực từ chối. Năm 1986, Salinger kiện tác giả người Anh, Ian Hamilton, để ngăn cản không cho ông Hamilton xuất bản quyển tiểu sử In Search of J.D. Salinger: A Writing Life (1935–65) tạm dịch là Đi Tìm J. D. Salinger: Đời Viết Văn từ năm 1935 đến năm 1965 vì tác giả đã sử dụng khoảng 79 lá thư chưa xuất bản của Salinger viết cho những bạn văn. (Theo luật tác quyền, người nhận thư là sở hữu chủ của lá thư, nhưng người viết lá thư vẫn giữ bản quyền nội dung lá thư.) Salinger nói rằng những lá thư này bao gồm hơn 40% quyển sách và không phải là chuyện trích dẫn theo khái niệm “fair use” (xử dụng vừa phải) của luật tác quyền Mỹ. Salinger thắng kiện. Sau đó Hamilton đã phải viết lại và duyệt bỏ nội dung liên hệ đến những lá thư chưa xuất bản của Salinger, rút ngắn tựa đề thành Đi Tìm Salinger.

Gần đây hơn, vào tháng Sáu năm 2009, Salinger đã nhờ luật sư ngăn cản không cho nhà văn Thụy Điển Fredrik Colting (có bút hiệu là J.D. California), được quyền xuất bản tác phẩm 60 Years Later: Coming Through the Rye” (Sáu Mươi Năm Sau: Ra Khỏi Cánh Đồng Xanh) nói về cuộc đời của nhân vật Holden lúc về già và vừa trốn ra khỏi viện dưỡng lão. Salinger thắng cuộc kiện này tuy nhiên bị kháng cáo và cuộc kiện tụng vẫn còn đang tiếp diễn.

Về khía cạnh đời tư, năm 1999, 25 năm sau khi chấm dứt mối quan hệ tình cảm với Salinger, Joyce Maynard đem bán đấu giá những lá thư Salinger đã viết cho bà. Bà cũng viết một quyển hồi ký nói về mối tình ngắn ngủi của hai người, với tựa đề At Home in the World (Tại Gia Trong Trần Thế). Joyce Maynard nói rằng Salinger đã dạy bà ăn thịt nướng ở độ thật thấp, gần như sống (để giữ được nhiều chất bổ) và cách “tẩy sạch” những ô uế trong người qua cách nôn mửa thường xuyên.

Năm 2000, Margaret, con gái của Salinger với Claire Douglas, xuất bản quyển hồi ký Dream Catcher (Người Đuổi Bắt Giấc Mơ). Quyển này lật đổ lý luận trong sách của Ian Hamilton nói về chứng bệnh trầm cảm của Salinger sau chiến tranh, vì Margaret Salinger nói rằng ông bố có tính bẩm sinh là độc tài, cứng cỏi, lãnh đạm về mặt tình cảm, không hòa đồng được với người chung quanh. Vài tuần sau khi quyển Dream Catcher được xuất bản, Matthew, con trai của Salinger đã viết một lá thư gửi đến tạp chí New York Observer, tỏ ý bất đồng ý kiến với Margaret, cho rằng chị mình vì bị bệnh tâm thần nên mới viết sách nói xấu ông bố.

Trước khi lánh xa xã hội, Salinger được coi là một nhà văn cởi mở, linh hoạt, và chân thật về khuynh hướng văn chương của mình. Khi được hỏi tác giả nào đã ảnh hưởng đến sự nghiệp viết văn của ông, Salinger đã đưa ra rất nhiều tên tuổi như Kafka, Flaubert, Tolstoy, Chekhov, Dostoevsky, Proust, O’Casey, Rilke, Lorca, Keats, Rimbaud …. Trong một lá thư viết thập niên 40 Salinger đã công nhận rằng F. Scott Fitzgerald cũng là một nhà văn mà ông thấm nhuần ảnh hưởng sâu đậm. Truyện ngắn Một Ngày Mãn Tuyệt cho Cá Chuối (A Perfect Day For Bananafish) của Salinger có kết thúc giống như truyện May Day của Fitzgerald.

Cũng có rất nhiều tác giả đã công nhận J. D. Salinger đã ảnh hưởng đến tác phẩm của họ. Trong số các nhà văn này, ngoài Philip Roth và John Updike của Hoa Kỳ còn có các tác giả nổi tiếng trên thế giới như Haruki Murakami, Igor Štiks và Jean-Marie Gustave Le Clézio (người trong diễn văn Nobel năm 2008 đã muốn trao tặng giải văn chương Nobel vừa lãnh nhận cho tất cả những nhà văn ảnh hưởng đến sự nghiệp văn chương của ông, trong số đó có Salinger).

Toàn bộ tác phẩm của Salinger đã được xuất bản, tuy không nhiều nhưng ảnh hưởng rộng lớn trong văn học Mỹ, gồm có: truyện dài Bắt Trẻ Đồng Xanh (1951); tuyển tập truyện ngắn Nine Stories (1953) bao gồm 9 truyện ngắn A Perfect Day for Bananafish, Uncle Wiggily in Connecticut, Just Before the War with the Eskimos, The Laughing Man, Down at the Dinghy, For Esmé – with Love and Squalor, Pretty Mouth and Green My Eyes, De Daumier-Smith’s Blue Period, và Teddy; hai tập truyện về gia đình họ Glass Franny and Zooey (1961) và Raise High the Roof Beam, Carpenters and Seymour: An Introduction.

catcher in the ryeTrang đầu của truyện Bắt Trẻ Đồng Xanh (ấn bản 1951) với chân dung Holden Caulfield

Bắt Trẻ Đồng Xanh được xuất bản năm 1951. Nội dung câu chuyện khá đơn giản kể lại kinh nghiệm của Holden Caulfield, chú học sinh mười bảy tuổi sau khi bị đuổi ra khỏi trường trung học Pencey đã viếng thăm New York. Cô đơn và lạc lõng, Holden thuê một cô gái điếm chỉ để nói chuyện làm cô điếm nổi giận. Vì trả tiền cho cô điếm ít hơn giá đã thỏa thuận Holden bị gã ma cô chủ của cô điếm tặng cho một trận đòn. Sau đó Holden lẻn vào căn hộ của bố mẹ, lúc hai người đi chơi xa, chỉ để thăm Phoebe, cô em gái là người duy nhất trong gia đình hiểu và hợp chuyện với Holden. Anh ta kể cho Phoebe nghe điều anh luôn mơ tưởng là trở thành người làm một công việc duy nhất là cứu những trẻ em chạy nhảy trên đồng lúa mạch ở sát một sườn núi. Công việc của anh chàng là chụp những đứa bé chạy lỡ trớn để chúng không rơi ra khỏi cánh đồng xanh, một biểu tượng cho hạnh phúc và thiên đàng của tuổi thơ ngây. Trong đêm ấy, Holden cũng đến thăm người thầy cũ, ông Antolini. Ông đã khuyên Holden, một người khôn ngoan và có tư cách sẽ chọn cách đạt đến lý tưởng của mình trong cuộc sống khiêm nhường chứ không phải là chọn cái chết vẻ vang. Holden thức giấc thấy vị thầy cũ của mình đang vuốt đầu mình bằng một thái độ đáng nghi ngờ. (Chi tiết này đã gây nên những suy đoán và tranh luận, có thể, ông Antolini đã làm hại Holden bằng những hành vi tình dục không chính đáng.)

Điều đáng chú ý ở Bắt Trẻ Đồng Xanh là cá tính và giọng văn của người kể chuyện. Là tác phẩm gây tranh cãi ngay từ đầu, được The New York Times khen là tác phẩm đầu tay rất sáng giá nhưng bị người khác chê có giọng văn đơn điệu, “kém đạo đức và bản tính dị hợm” của Holden, chàng trẻ này đã phỉ báng tôn giáo cũng như đã nói chuyện tự do về tình dục và đĩ điếm. Tuy thế chỉ trong hai tháng sau khi xuất bản, Bắt Trẻ Đồng Xanh được in tám lần và nằm trên danh sách sách bán chạy nhất của báo The New York Times 32 tuần. Tuy là một trong những quyển sách phải đọc trong chương trình giáo dục của trung học phổ thông Mỹ hiện nay, có một khoảng thời gian Bắt Trẻ Đồng Xanh bị liệt vào hạng sách cấm vì ngôn ngữ không trong sạch và khinh mạn Chúa. Vào khoảng cuối thập niên 50 có vài quốc gia đã cấm quyển này. Năm 1970, có vài giáo viên vì đem quyển sách này vào giáo trình lúc chưa thông qua với cơ sở giáo dục địa phương nên đã bị đuổi việc. Mức độ phổ thông của quyển sách chỉ đứng sau quyển Of Mice and Men (Về Chuột Và Người) của John Steinbeck. Con số bán trên thế giới lên đến 65 triệu bản.

Tầm ảnh hưởng của Bắt Trẻ Đồng Xanh cũng lan vào những lãnh vực bên ngoài văn học như âm nhạc và điện ảnh, điển hình là nhạc của Elvis Presley và sự nổi loạn u uất của James Dean trong phim Rebel without a Cause (Nổi Loạn Không Nguyên Cớ) (1955). Salinger được xem là người góp phần vào việc sáng tạo ra khái niệm “teenage angst” (tâm lý thiếu niên thường xuyên phẫn nộ với hoàn cảnh của gia đình và xã hội và ý muốn được cứu rỗi thế giới). Người kể chuyện có ác cảm với những người quyền uy không tôn trọng danh dự và lòng tự hào của trẻ em. Nó cũng làm người đọc liên tưởng đến hai phim nổi tiếng về những đám trẻ nổi loạn, như Zéro Pour Conduit của Jean Vigo và Les Quatre Cents Coups của Francois Truffaut.

Phê bình gia Alfred Kazin nhận định rằng độc giả trẻ thích tác phẩm của Salinger vì nhà văn viết như thể ông thấu rõ những điều bí mật trong tư tưởng của những người trẻ. Cách hành văn của Salinger thường là những câu đối thoại đơn giản, sống động và giống như cách nói chuyện thật trong đời sống bình thường. Cách ông dùng đối thoại, độc thoại trong nội tâm, qua hình thức của những lá thư, và kể cả những trao đổi qua điện thoại giữa hai nhân vật là một cuộc cách mạng văn học trong thập niên 40 và 50. Gần đây hơn, đạo diễn Hoa Kỳ Wes Anderson thường làm phim về những nhân vật mang nhiều sắc thái của Holden Caulfield. Phim Finding Forrester (Tìm Kiếm Forrester), ra đời năm 2000, đã dựa vào cuộc đời của Salinger. (Trong phim này cựu tài tử James Bond Sean Connery đã đóng vai một tác giả trốn tránh xã hội gần ba mươi năm sau khi xuất bản một quyển sách được xem là kiệt tác.)

Như đã nói ở trên, Salinger xây dựng truyện qua cách nói hằng ngày một đôi khi chen vào những tiếng chửi thề làm câu đối thoại linh động như thật. Nhân vật của ông, như hoàng tử Hamlet trong kịch Shakespeare, lúc nào cũng ẩn chứa một tâm lý nổi loạn, luôn ở giữa trạng thái tỉnh táo và trầm cảm, điên điên. Cách viết, dùng ngôn ngữ nói hằng ngày kể cả những chữ “goddam”, “fuck”, và “bastard” được xem là mở đường cho cách viết văn hậu hiện đại. (Nhà văn Junot Diaz dùng chữ fuck và fucking nhiều hơn những dấu chấm than trong tác phẩm của ông. Người ta chẳng những không cấm, trái lại còn phát giải Pulitzer cho ông.)

Về truyện ngắn, hai truyện For Esmé – With Love and Squalor (Viết Cho Esmé –Với Chân Tình và Nhớp Nhúa) A Perfect Day for Bananafish (Một Ngày Mãn Tuyệt cho Cá Chuối) trong tập truyện ngắn Nine Stories được xem là những truyện ngắn hay nhất của J. D. Salinger. 

Một Ngày Mãn Tuyệt Cho Cá Chuối bắt đầu bằng một cuộc nói chuyện bằng điện thoại của một cô gái trẻ tên là Muriel với bà mẹ trong lúc Muriel đang hưởng tuần trăng mật ở bờ biển với chồng. Bà mẹ lo lắng vì Muriel đã kết hôn với Seymour Glass, một người mà bà mẹ nhận xét là có tâm lý không bình thường. Qua cuộc đối thoại của hai mẹ con, độc giả biết Seymour đã từng đi lính trong Đệ Nhị Thế Chiến và thích thơ của một nhà thơ Đức nổi tiếng. Sau chiến tranh anh phải nằm bệnh viện vì tinh thần bất an. Bà mẹ lo sợ Seymour sẽ làm điều nguy hiểm ành hưởng đến con gái của mình nhưng cô gái trấn an bà mẹ là Seymour không có khả năng làm hại ai cả.

Trong khi bà mẹ đang nói chuyện với Muriel trong điện thoại, Seymour ra biển và làm bạn với Sybil, một cô bé anh gặp trên bãi biển. Seymour có vẻ thú vị trò chuyện với cô bé và bảo cô bé tìm dưới nước loại cá chuối. Seymour thêu dệt chuyện về cá chuối, nói chúng là những con cá chui vào một cái hang rồi ăn chuối cho đến lúc trở nên to béo nên không thể thoát khỏi hang. Sau đó chúng bị bệnh “sốt chuối” rồi chết. Qua cách đối thoại của chàng trai và cô bé con độc giả thấy Seymour khôi hài và yêu trẻ con. Tuy nhiên người ta cũng nhận thấy có gì đó không bình thường, như anh nắm cổ chân cô bé và hôn vào lòng bàn chân nó. Anh nhìn màu vàng hóa ra màu xanh. Anh nói về con cá chuối là một thứ cá chỉ có trong óc tưởng tượng của anh. Khi lên thang máy trở về phòng Seymour hành động kỳ dị, anh cứ cả quyết là cô gái anh gặp trong thang máy đang nhìn soi mói vao bàn chân của anh. Thái độ này làm cô gái tức giận nên cô rời thang máy ngay lập tức. Cấu trúc đơn giản. Câu chuyện hấp dẫn vì không khí bí hiểm và chi tiết được bộc lộ nửa vời. Độc giả luôn cố gắng đoán những nhân vật trong cuộc đang nói gì và sẽ làm gì. Kết thúc thật bất ngờ làm người đọc choáng váng.

Truyện ngắn Viết Cho Esmé –Với Chân Tình và Nhớp Nhúa nói về một anh quân nhân Mỹ vừa chấm dứt khóa học phản gián ở nước Anh. Trong khi chờ đợi được đưa ra khỏi địa phương anh đi dạo chung quanh. Khung cảnh trời mưa ướt át và nhàm chán, anh vào nhà thờ nghe hợp ca. Các em nhỏ có giọng hát như thiên thần. Trong ban hợp ca có một cô gái trẻ, xinh và hát hay tên là Esmé. Anh quân nhân có vẻ chán ghét người dạy hát, một người đàn bà to béo, đã không tôn trọng sự nhạy cảm của các trẻ em trong buổi hợp ca. Anh bỏ đi vào một quán cà phê, nơi đây một lúc sau anh gặp lại cô bé. Esmé trò chuyện với anh và nhận xét anh là một người có tính khôi hài lạnh. Esmé có một cái đồng hồ đeo tay, rất to và thô mà anh nghĩ thầm cô bé nên đeo nó ngang thắt lưng. Cô bé hỏi chuyện hôn nhân của anh; anh có vợ. Khi biết anh là nhà văn trước khi là quân nhân cô ngỏ ý muốn anh viết truyện cho cô đọc. Anh nghĩ thầm là anh chưa bao giờ viết cho bất cứ người nào nhưng anh hứa sẽ viết cho cô. Hai người trao đổi địa chỉ và Esmé hứa là sẽ viết thư trước cho anh. Cô dặn anh là nhớ viết những chuyện cảm động và nhất là những chuyện nhớp nhúa. Cô nhấn mạnh là cô thích chuyện nhớp nhúa.

Một thời gian sau, Thượng sĩ X nhận được đồng hồ của Esmé gửi tặng đã bị bể mặt kính và lá thư của Esmé dặn anh phải ráng gìn giữ toàn vẹn con người anh. Anh quân nhân không được toàn vẹn về mặt tinh thần. Khi gặp Esmé anh đã có triệu chứng trầm cảm sau chiến tranh chưa được chẩn đoán. Lá thư của Esmé làm anh ta mơ ước nếu như Esmé lấy anh thì anh sẽ trở lại được trạng thái vẹn toàn. Sáu năm sau anh nhận được thiệp mời đám cưới của Esmé, anh rất muốn tham dự nhưng vợ không cho đi vì mẹ vợ đến thăm. Anh gửi cho cô một lá thư có tựa là Viết Cho Esmé –Với Chân Tình và Nhớp Nhúa. Lá thư này anh nghĩ có thể sẽ làm vị hôn phu của Esmé phật ý nhưng anh thấy thế càng tốt. Anh không cố ý chìu lòng ai, lá thư được dùng để chia sẻ với Esmé những khuynh hướng sâu thẳm về cuộc sống của anh. Rất mơ hồ, người đọc nhận thấy giữa Esmé và anh chàng quân nhân có một sự quyến luyến, một thu hút nhẹ nhàng, nhưng mãi mãi không mờ nhạt, vượt thời gian và không gian—như một đối thoại bất diệt giữa nhà văn và một độc giả lý tưởng.

Từ chuyện văn học Mỹ xin nói quàng qua văn học Việt Nam. Cách viết văn làm thơ phản ảnh ngôn ngữ sử dụng hằng ngày, đối với độc giả, hay hoặc là không hay, có thể do vì quen hay là không quen. Gần đây thấy trên Da Màu, câu thơ của nhà thơ Nguyễn Đức Tùng “Đ.M. Đứa nào đứng đái nơi đây” cũng có màu sắc sử dụng ngôn ngữ thường ngày như cách viết của Salinger. Như nhà phê bình Nguyễn Hưng Quốc đã nói “đã nhắm đến người đọc thì ai cũng muốn có càng nhiều người đọc chừng nào càng tốt chừng ấy.” Rất mong là mọi cố gắng tìm tòi của những người viết văn làm thơ hôm nay sẽ đưa văn thơ đến một hướng đi mới chinh phục nhiều độc giả. Vinh quang sẽ tìm đến người viết văn làm thơ và biết đâu chừng cũng sẽ có một Salinger của Việt Nam, lẫy lừng đến độ trở nên nổi tiếng vì sợ nổi tiếng.

bài đã đăng của Nguyễn Thị Hải Hà


1 bình luận »

  • phan ngọc viết:

    Bài viết xuất sắc của tác giả Nguyễn Thị Hải Hà, điểm sách mà như sáng tác, tôi đọc một mạch từ chữ đầu tới chữ cuối.

    Phan Ngọc

Phần Góp Ý/Bình Luận

Xin vui lòng bày tỏ trách nhiệm và sự tương kính trong việc sử dụng ngôn ngữ khi đóng góp ý kiến. Da Màu dành quyền từ chối những ý kiến cực đoan, thiếu tôn trọng bạn đọc hoặc không sử dụng email thật. Chúng tôi sẽ liên lạc trực tiếp với tác giả nếu ý kiến cần được biên tập.

Lưu ý: Xin vui lòng bỏ dấu tiếng Việt để giúp tránh những hiểu lầm đáng tiếc từ độc giả trong việc diễn dịch ý kiến đóng góp. Bài không bỏ dấu sẽ không được hiển thị. Xin chân thành cám ơn.


@2006-2012 damau.org ♦ tạp chí văn chương Da Màu Web services provided by InfoResources Center, Inc. Log in | Entries (RSS) | Comments (RSS)